BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
BÁO CÁO ĐỀ TÀI SINH VIÊN NCKH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN
QUAN VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH CỦA
NGƯỜI DÂN TẠI MỘT SỐ XÃ, HUYỆN KIẾN XƯƠNG,
TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2017
Giáo viên hướng dẫn: Ths. Nguyễn Văn Tiến
Chủ nhiệm đề tài: SV. Vũ Thị Lan– Lớp YTCC3- K2
THÁI BÌNH – NĂM 2017BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
BÁO CÁO ĐỀ TÀI SINH VIÊN NCKH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN
QUAN VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH CỦA
NGƯỜI DÂN TẠI MỘT SỐ XÃ, HUYỆN KIẾN XƯƠNG,
TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2017
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Nguyễn Văn Tiến
Chủ nhiệm đề tài:
SV. Vũ Thị Lan – Lớp YTCC3-K2
Sinh viên tham gia:
Đối tượng nhiên cứu
ĐĐNKH
Đặc điểm nhân khẩu học
ĐKKT
Điều kiện kinh tế
KCB
Khám chữa bệnh
KS
Kháng sinh
KKS
Kháng kháng sinh
NC
Nghiên cứu
SDKS
Sử dụng kháng sinh
Kháng sinh (KS) được đưa vào sử dụng từ những năm đầu của thế kỷ XX
và là một trong những loại thuốc coi là vũ khí để điều trị các bệnh lý nhiễm
khuẩn. Tuy nhiên, những loại thuốc này đã và đang được sử dụng chưa hợp lí,
thuật ngữ “đề kháng kháng sinh” đã trở nên quen thuộc và trở thành một vấn đề
mang tính chất toàn cầu. Nhiều nghiên cứu tiến hành trên Thế giới và Việt Nam
cho thấy đã xuất hiện vi khuẩn kháng thuốc KS ngay cả những loại KS thế hệ
mới và có xu hướng ngày càng tăng dần theo thời gian [14]. Tại Việt Nam, số
lượng vi khuẩn kháng thuốc và mức độ kháng ngày càng gia tăng. Tỷ lệ kháng
với KS carbapenem, nhóm KS mạnh nhất hiện nay lên đến 50% [10].
Sự kháng thuốc (AMR) không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con
người mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế mỗi quốc gia. Đó là do phải tăng thời
gian điều trị, tăng chi phí cho y tế vì phải tăng liều dùng, SDKS thế hệ mới và
bệnh nhân phải chấp nhận các phản ứng có hại của KS nhiều hơn. Tỷ lệ KKS
ngày càng gia tăng đã giới hạn các lựa chọn trong điều trị các bệnh nhiễm trùng
và các bệnh truyền nhiễm [16].
Nguyên nhân chủ yếu, cốt lõi của tình trạng này là do việc sử dụng thuốc
KS của người dân còn chưa hợp lý, đó là tự ý mua và sử dụng thuốc không theo
đơn của bác sỹ. Tỷ lệ sử dụng thuốc KS không theo đơn dao động từ 48% ở
Saudi Arabia đến 78% tại Yemen, Uzbekistan. Những lý do phổ biến nhất mà sử
dụng KS không theo đơn là ho (40%), và cúm (34%), 49% số người được hỏi
ngưng thuốc KS khi họ cảm thấy tốt hơn [19] và các loại KS được tự sử dụng
thường xuyên nhất là amoxicillin 18,3%, cefuroxime 7,9%, ciprofloxacin 2,3%
[18]. Tại Việt Nam, phần lớn KS được bán mà không có đơn 88% (thành thị) và
91% (nông thôn). Mua KS để điều trị ho 31,6% (thành thị) và sốt 21,7% (nông
thôn). Ba loại KS được bán nhiều nhất là ampicilin/amoxicillin (29,1%),
cephalexin (12,2%) và azythromycin (7,3%) và thời gian SDKS từ 1-3 ngày
7
chiếm 42,6% nơi mua thuốc chủ yếu của người dân là quầy thuốc tư (46,2%) và
phát triển hoặc diệt được vi sinh vật [4].
1.1.2. Phân loại thuốc kháng sinh
Có nhiều cách phân loại kháng sinh, tùy theo mục đích nghiên cứu và
cách sử dụng thuốc.
1.1.2.1. Dựa vào nguồn gốc
• Kháng sinh có nguồn gốc từ sinh vật, xạ khuẩn
• Nhóm kháng sinh có nguồn gốc hóa dược hay do con người tổng hợp nên
1.1.2.2. Dựa vào cơ chế tác dụng
• Thuốc ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn: họ β-lactam, vancomycin
• Thuốc ức chế hoặc thay đổi tổng hợp protein của vi khuẩn: cloramphenicol,
tetracylin, macrolid, lincosamid, aminoglycosid
• Thuốc ức chế tổng hợp acid nhân: quinolon, rifampicin
• Thuốc ức chế chuyển hóa: Co-trimoxazol
• Thuốc làm thay đổi tính thấm màng tế bào vi khuẩn: amphotericin
1.1.2.2. Dựa vào mức độ tác dụng
• Thuốc kháng sinh diệt khuẩn (bactericidial antibiotics): penicillin,
cephalosporin, aminosid
• Thuốc kháng sinh kìm khuẩn (bacteriostatics antibiotics): tetracylin,
cloramphenicol, macrolid
1.1.2.3. Dựa vào phổ tác dụng của kháng sinh
• Nhóm có phổ tác dụng hẹp: chỉ tác dụng chủ yếu lên một loại hay một nhóm
vi khuẩn nào đó
• Nhóm kháng sinh có phổ tác dụng rộng: tác dụng với cả vi khuẩn Gr +, Gr-,
ricketsiea, virus cỡ lớn, đơn bào
• Nhóm kháng sinh sung ngoài hay các thuốc không hoặc ít được hấp thu ở
đường tiêu hóa
• Nhóm kháng sinh chống lao
• Nhóm kháng sinh chống nấm
9
- Khi mua KS phải yêu cầu người bán ghi rõ họ tên và hàm lượng thuốc trên
từng bao gói riêng biệt.
- Cách dùng:
+ Không nên dùng nhiều loại KS phối hợp, trừ khi thầy thuốc có yêu cầu cụ
thể với một số bệnh.
+ Khi cần phải uống nhiều loại thuốc thì phải pha riêng từng loại, không nên
trộn chung.
10
+ Không pha KS với nước hoa quả, nước chè…
+ Khi dùng KS cho trẻ em phải nhớ chú ý liều theo tuổi hoặc cân nặng.
- Khi cho trẻ em dùng KS phải chú ý sự chỉ dẫn của bác sĩ và tuân thủ theo
đúng sự chỉ dẫn đó.
- Trong khi SDKS, nếu thấy hiện tượng khó chịu, buồn nôn, mẩn ngứa,…
phải dừng thuốc ngay và đến khám lại tại các CSYT.
- Nếu dùng KS 2-3 ngày mà không có hiện tượng đỡ bệnh phải báo lại cho
cán bộ y tế xem xét lại, không tự ý thay thuốc khác.
- Không dùng KS theo kinh nghiệm truyền miệng hay sự mách bảo của
người khác.
- Tuân thủ đúng theo đơn của bác sĩ.
- Chỉ dùng KS để chữa các bệnh nhiễm khuẩn, không dùng KS để phòng
bệnh khi bệnh chưa xảy ra.
- Dùng KS phải: đúng liều, đúng lúc, đủ thời gian.
+ Đúng liều: liều của 1 lần uống, liều của 1 ngày uống, liều cho trẻ.
+ Đúng lúc: trước bữa ăn, trong bữa ăn, sau bữa ăn, bất cứ lúc nào tùy từng
loại thuốc, theo hướng dẫn sử dụng.
+ Đủ thời gian: một đợt điều trị ít nhất là 5 ngày [6], [7].
1.1.3. Tác dụng không mong muốn
* Phản ứng dị ứng:
thường (8,8%),… và tái sử dụng đơn thuốc là 46% [25].
Việc SDKS không theo đơn của bác sỹ mà tự ý mua thuốc tại các hiệu thuốc
để điều trị là tình trạng xảy ra phổ biến ở nông thôn. Theo Skliros và cộng sự
(2010), nghiên cứu về tự sử dụng thuốc KS tại cộng đồng nông thôn ở Hi Lạp
cho thấy: 44,6% người dân sử dụng thuốc không theo đơn ít nhất một lần trong
12 tháng qua và 72,6% sử dụng thuốc không cần đơn là từ các hiệu thuốc trong
cộng đồng. Các KS được tự sử dụng thường xuyên nhất là amoxicillin 18,3%,
cefuroxime 7,9%, ciprofloxacin 2,3%. Việc SDKS không có đơn với lý do
thường gặp nhất là sốt 41,2%, cảm lạnh thông thường 32,0% và đau họng là
20,6% [30].
Một nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy KS được bán không theo đơn chiếm
17,5% các trường hợp mua thuốc và 23% tổng chi phí mua thuốc. Các biệt dược
của penicillin, co-trimoxazol và tetracyclin chiếm 64,8%. Hầu hết các chỉ định
của KS là cho các rối loạn đường hô hấp trên, đường tiêu hóa và một số trường
12
hợp khác. Thời gian sử dụng thuốc thông thường là dưới 5 ngày. Có khi KS
được mua nhiều lần khác nhau nhưng cũng không có ý kiến của thầy thuốc [23].
Theo nghiên cứu của Nakajima và cộng sự (2010) tại Mông Cổ tìm hiểu
việc tự SDKS của người dân trong cộng đồng cho thấy: trong 619 khách hàng
mua thuốc có 48% khách hàng mua ít nhất một loại KS, và chỉ có 42% có đơn
của bác sỹ. Trong số 67% khách hàng mua thuốc được cung cấp thông tin về
liều lượng và thời gian sử dụng thuốc thì chỉ có 9% được cung cấp các thông tin
liên quan đến ảnh hưởng bất lợi do thuốc gây ra. Nghiên cứu cũng được tiến
hành trên đối tượng là bác sỹ và cho thấy một thực tế là có một số thuốc KS đã
trở nên kém hiệu quả lâm sàng giữa năm 2001 và 2006. Và sau đó nghiên cứu
cũng đã đưa ra khuyến cáo là cần có một cơ quan pháp lý để thúc đẩy việc thực
thi của pháp luật về các qui định của thuốc tại Mông Cổ, để tạo nhận thức về sự
nguy hiểm của KS đối với người dân và các chiến dịch nâng cao kiến thức cho
Theo kết quả khảo sát về việc bán thuốc KS ở các hiệu thuốc vùng nông
thôn và thành thị các tỉnh phía Bắc cho thấy nhận thức về KS và KKS của người
bán thuốc và người dân còn thấp, đặc biệt ở vùng nông thôn. Phần lớn KS được
bán mà không có đơn 88% (thành thị) và 91% (ở nông thôn). Mua KS để điều trị
ho 31,6% (thành thị) và sốt 21,7% (nông thôn). Ba loại KS được bán nhiều nhất
là ampicillin/amoxicillin (29,1%), cephalexin (12,2%) và azythromycin (7,3%).
Người dân thường yêu cầu được bán KS mà không có đơn 49,7% (thành thị) và
28,2% (nông thôn) [5].
Để tìm hiểu những lí do cho việc SDKS không hợp lý trong cộng đồng như thế
nào và các loại KS thường dùng và dùng nhiều nhất đã được một số nghiên cứu
tiến hành tìm hiểu và đã đưa ra một số thông tin sau:
Theo nghiên cứu cắt ngang của Đặng Thị Hường và Trịnh Hữu Vách (2005)
trên 800 đối tượng có vai trò quyết định việc dùng thuốc trong gia đình tại 2 xã của
tỉnh Thái Bình cho thấy: 31,85% cho rằng KS để điều trị nhiễm trùng, 34% dùng
KS điều trị cảm cúm, 58,3% để điều trị ho kèm theo có sốt, 74,8% dùng KS khi có
mụn nhọt, chỉ có 9,6% biết đến KS. Tỷ lệ SDKS không có đơn chiếm gần một nửa
đối tượng nghiên cứu (49%), thời gian SDKS từ 1-3 ngày chiếm 42,6% nơi mua
thuốc chủ yếu của người dân là quầy thuốc tư (46,2%) và trạm y tế (47,6%).
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người dân sử dụng thuốc KS không hợp lý còn rất cao và
cũng nói lên được kiến thức về KS của người dân nơi đây còn nhiều hạn chế [8].
14
Năm 2013, nghiên cứu về thực trạng SDKS của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi
tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên của Nguyễn Thị Quỳnh Trang cho thấy tỷ lệ
các bà mẹ có kiến thức về sử dụng thuốc KS an toàn, hợp lý còn khá hạn chế
(58,6%) và biết tác hại khi sử dụng thuốc không hợp lý chỉ chiếm 21,4%. SDKS
chiếm chủ yếu là các bệnh liên quan đến đường hô hấp (91,1%) và chỉ có 20,9% bà
mẹ SDKS cho trẻ theo đơn của bác sỹ, 13,3% tuân thủ đúng theo đơn, trong đó lý
do SDKS không theo đơn của bác sỹ là do bệnh nhẹ chiếm chủ yếu (84%), 75%
tìm thấy trong nước tiểu của một phụ nữ 49 tuổi, bang Pennsylvania. Colistin là
loại KS gần như mạnh nhất, thường được các bác sĩ sử dụng trong trường hợp các
loại KS khác thất bại [28].
.
Hình 1. Loại siêu vi khuẩn mới có khả năng chống lại loại thuốc kháng sinh
mạnh nhất [28]
Sự phát triển của sự kháng thuốc (AMR) là một hiện tượng tự nhiên. Tuy
nhiên, những hành động của con người thúc đẩy sự xuất hiện và lây lan của
AMR. Sử dụng không phù hợp thuốc KS đã dẫn đến sự phát triển của các vi
khuẩn gây bệnh, dẫn đến khoảng 700.000 người chết mỗi năm. Đến năm 2050,
nếu xu hướng hiện nay tiếp tục, con số này dự kiến sẽ tăng lên đến 10 triệu. Việc
giảm hiệu quả của thuốc KS sẽ dẫn đến tình trạng kháng thuốc và tạo thành một
mối đe dọa nguy hiểm đến sức khỏe con người [32].
Một báo cáo mới về tình hình kháng của Streptococus pneumonia từ Ấn Độ
cho biết các chủng kháng thuốc của Streptococus pneumonia kháng Penicillin đã
được biết đến trên toàn thế giới và đến nay nó đã kháng với nhiều loại thuốc:
kháng với cotrimoxazole và tetracyclin là 24% tiếp theo là kháng với
erythromycin và ciprofloxacin là 14% [26].
16
Vi khuẩn lao kháng thuốc đang nhanh chóng nổi lên trên toàn thế giới.
WHO báo cáo sự gia tăng đáng báo động không chỉ bệnh lao đa kháng thuốc mà
còn siêu kháng thuốc của bệnh lao trên toàn cầu. Hiện đã có khoảng 0,5 triệu
trường hợp lao siêu kháng thuốc. Tỷ lệ tử vong trong trường hợp lao đa kháng
thuốc cao (50 -60%) và thường gắn liền với một khoảng ngắn của bệnh (4 -16
tuần). Một trong số các yếu tố đã được xác định cho sự phát triển của các trường
hợp đa kháng thuốc là sử dụng thuốc chống lao phổ biến và rộng rãi mà không
cần đơn thuốc của bác sĩ. Vì vậy sự hiểu biết tốt hơn về tỷ lệ kháng thuốc chống
tăng từ 8% (1993 – 1995) lên 56% (giai đoạn 1999 – 2002). Năm 2000 – 2001,
Việt Nam có tỉ lệ kháng penicilin (71,40%) cao nhất trong 11 nước khu vực
Châu Á [11], [15]. Trong khoảng năm 2000 – 2002, tỷ lệ Haemophillus
influenzae kháng ampicilin đã được ghi nhận là khoảng 57% [29].
Một nghiên cứu khác của Trần Quốc Kham (2003) về tình hình kháng lại KS
của một số loại vi khuẩn thường gặp tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình cho
thấy: 78,4% vi khuẩn S. pneumonia đã kháng với co – trimoxazol và 36% kháng
với gentamycin. Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy thực tế các vi khuẩn
thường gặp đã kháng với KS rất mạnh [9].
Trong chương trình nghiên cứu quốc gia về kháng kháng sinh (ANSORP),
Việt Nam có mức độ kháng cao với penicillin (71,4%) và erythromycin (92,1%)
[31]. Hơn nữa, 75% phế cầu khuẩn kháng với ít nhất 3 loại KS trở lên. Tỉ lệ
kháng Shigella cao cũng được ghi nhận, cụ thể là: trimethoprimsulfamethoxazole (81%), tetracycline (74%), ampicillin (53%), ciprofloxacin
(10%), và ceftriaxone (5%) [35]. Một nghiên cứu khác tại khu vực phía Nam Việt
Nam (2006-2008) chỉ ra rằng 15,3% kháng ceftriaxone [36]. Ở Việt Nam, tỉ lệ các
chủng Salmonella typhi đã KKS vẫn chiếm tỉ lệ tương đối cao với khoảng 50%
năm 2004. Mức độ kháng axit nalidixic tăng rõ rệt trong vòng 12 năm, từ 4% lên
97% năm 2005 [34].
1.4. Một số nghiên cứu về kiến thức và hành vi sử dụng kháng sinh của
người dân.
1.4.1. Trên thế giới
Một nghiên cứu của Awad AI và Aboud EA về kiến thức, thực hành SDKS
của người dân tại Kuwait năm 2015 cho thấy: 72,8% số người được hỏi đã được
kê KS trong vòng 12 tháng trước thời gian nghiên cứu, và 36% trong số họ đã
18
không hoàn thành quá trình điều trị. Hơn một phần tư (27,5%) là tự SDKS để
điều trị chủ yếu là lạnh thông thường, đau họng và ho. Gần 47% người tham gia
còn thiếu kiến thức về SDKS hợp lý, an toàn và khả năng kháng thuốc KS [18].
thuốc dựa vào lời khuyên của nhân viên bán thuốc 14,2%, bạn bè/hàng xóm
17,6%, lời khuyên từ bác sỹ 21,9%. Ngoài ra người dân lựa chọn thuốc theo
kinh nghiệm trước với bệnh và những triệu chứng tương tự 27% - 33,5% [37].
1.4.2. Tại Việt Nam
Nghiên cứu của Phạm Đình Luyến và Nguyễn Ngọc Tất về “Khảo sát sự lựa
chọn dịch vụ y tế và thói quen sử dụng KS của các hộ gia đình thị xã Tây Ninh,
tỉnh Tây Ninh” (năm 2010) cho thấy gần 40% người dân tự mua thuốc điều trị
khi có bất kỳ triệu chứng bệnh nào không thông qua thăm khám bởi bác sỹ, gần
15% người dân không biết gì về KS và 2/3 người dân được hỏi không biết
SDKS đúng cách [11].
Một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành SDKS của các hộ gia
đình tại xã Việt Đoàn - Tiên Du - Bắc Ninh của Trịnh Ngọc Quang (2006) cho
thấy: tỷ lệ người dân sử dụng thuốc không theo đơn của bác sĩ là 51,1%. Tỷ lệ
SDKS chiếm tỷ lệ cao nhất là khi mắc các bệnh về viêm đường hô hấp (31,9% 38,3%), tỷ lệ dùng KS từ 1 – 3 ngày là 46,8%. Địa điểm người dân chọn mua
thuốc chủ yếu là quầy thuốc tư nhân (31%). Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan
giữa kiến thức SDKS với trình độ học vấn, kinh tế, nghề nghiệp và nhóm tuổi [14].
Theo Cao Thị Mai Phương khi nghiên cứu thực trạng SDKS cho bệnh nhi
trước khi điều trị tại khoa Nhi của Trung tâm y tế huyện Gia Lâm – Hà Nội trên
356 bà mẹ và người chăm sóc của trẻ cho thấy 43% SDKS không có đơn, 57%
SDKS để điều trị bệnh đường hô hấp, 21,8% KS dùng để điều trị bệnh đường
tiêu hóa và 18,8% SDKS khi bị sốt. Thời gian điều trị bằng thuốc KS dưới 3
ngày chiếm 37,6%. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trình độ học vấn có liên quan đến
kiến thức và thực hành SDKS của các bà mẹ, nghề nghiệp có liên quan đến kiến
thức SDKS (p
TĐHV,Để
điều
kiệngiá
kinh
tế. xác, khách quan và thực tiễn sự khác biệt
- Tiếp
cậnthức
thông
ốm không, mức độ bệnh,
và thực
hành
dụng dân
KS, về
nhóm nghiên
cứumắc
đã thực
3tinxã: thị trấn
Kiến
thức
củasửngười
loại bệnh
phải,hiện
tuổi,trên
- Tính sẵn có: hiệu
giới
Thanh
Nê,
xã
Thanh
Tân,
tỉnh Thái
Bìnhnghiệm
là mộtbản
huyện
Sử dụng thuốc KS đúng chỉ - Đơn thuốc cũ
châu thổ sông Hồng. Huyện có diện tích 200 km 2, nằm ở phía Tây Bắc thành
định
- Quan niệm
Sử
dụng
thuốc
KS
đúng
cách
- trấn.
Hướng
dẫnsốcủa
thuốc
phố Thái Bình, có 36 xã và một thị
Dân
củathầy
huyện
năm 2016 là 274.318
Hiểu biết tác hại khi dùng - Hướng dẫn của người bán
người.KS
Vềkhông
Y tế, hợp
ở huyện
đa khoa, 142 CSYT tư nhân và 37 Trạm
thuốc
người,
đó nam
- Yêu
đượctrong
hướng
dẫnchiếm
sử 47,86%, nữ chiếm 52,14%.
dụng + Xã Vũ Ninh:
-
Xã Vũ Ninh nằm ở phía Tây Bắc của huyện Kiến Xương, cách trung tâm
huyện 9 km và cách thành phố Thái Bình khoảng 7 km về phía Đông Nam thành
phố. Nơi đây đất đai rất màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Theo số
liệu điều tra năm 2016, xã Vũ Ninh có tổng số dân là 7.968 người.
+ Xã Thanh Tân:
Là một xã thuộc huyện Kiến Xương cách trung tâm thành phố Thái Bình
khoảng 11 km. Dân số là: 5.194 người (2016). Về kinh tế, chủ yếu là kinh tế
nông nghiệp chiếm hơn 80%. Thành phần kinh tế: Giàu: 1%; Khá: 44%; Trung
21
bình: 51%; Nghèo: 4%; Không có hộ đói. Hiện tại TYT xã Thanh Tân có 01 bác
sĩ KCB cho nhân dân trong địa bàn. Có 01 cán bộ YHCT để có thể phát triển và
sử dụng kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền trong chăm sóc sức khoẻ ban
đầu cho nhân dân.
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu
Người dân từ 18 – 75 tuổi đang sinh sống trên địa bàn được lựa chọn vào
nghiên cứu, không phân biệt giới, nghề nghiệp, tôn giáo.
* Tiêu chuẩn chọn mẫu:
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Đưa vào nghiên cứu các trường hợp sau:
2
×
p (1 − p)
d2
Trong đó:
• α: Mức ý nghĩa thống kê (α = 0,05).
• Z(1-α/2): Giá trị Z thu được tứng với giá trị α (Z(1-α/2) = 1,96).
• d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ p thu được từ mẫu và tỷ lệ thực từ
quần thể (chọn d = 0,05).
• p: là tỷ lệ ước tính người dân có kiến thức đúng về sử dụng thuốc kháng sinh.
Do chưa có nghiên cứu trước đó nên chúng tôi chọn p = 0,5.
Thay vào công thức trên: n = 384. Gia tăng 10% trừ trường hợp không
hợp tác hoặc vắng đối tượng, cỡ mẫu nghiên cứu được làm tròn là 420 người
dân.
Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn
Các bước tiến hành chọn mẫu cụ thể như sau:
- Bước 1: Chọn có chủ đích 3 đơn vị xã của huyện Kiến Xương: Thị
trấn Thanh Nê, xã Vũ Ninh, xã Thanh Tân Mỗi xã điều tra 140 đối
tượng
- Bước 2: Lập danh sách tất cả các thôn của từng xã, mỗi xã chọn
mẫu ngẫu nhiên đơn được 3 thôn
- Bước 3: Với mỗi thôn được chọn của 3 xã, tiến hành chọn mẫu
ngẫu nhiên đơn đối tượng đầu tiên, các đối tượng tiếp theo được
chọn theo phương pháp cổng liền cổng (door to door) cho đến khi
đủ số lượng mẫu nghiên cứu thì dừng lại.
Phương pháp thu thập thông tin:
Loại
biến
Giải thích
biến
Chỉ số
thu thập
thông
tin
Tuổi
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Năm sinh tính theo Liên
Tỷ lệ % người dân Phiếu
dương
lịch
của tục
ĐTNC
thuộc nhóm tuổi:
Học vấn
Trình độ học vấn cao Thứ
Tỷ lệ % người dân có Phiếu
nhất của ĐTNC
trình độ:
phỏng
+ Không biết đọc/viết
vấn
bậc
+ Dưới cấp 3
Nghề
Là nghề nghiệp hiện Định
+ Cấp 3 trở lên
Tỷ lệ % người dân làm Phiếu
nghiệp
tại của người dân danh
kinh tế
điều kiện kinh tế gia
+ Nghèo
vấn
đình hiện tại
+ Trung bình
+ Khá
Nghe
+ Giàu
Thông tin về kiến thức sử dụng kháng sinh của người dân
Mô tả người dân đã Nhị
Tỷ lệ % người dân nghe Phiếu
thông tin từng nghe về thuốc phân
về thuốc kháng sinh :
phỏng
về thuốc kháng sinh bao giờ
+ Có
Tỷ lệ % người dân có Phiếu
số thuốc của người dân về tên danh
kiến thức đúng về tên phỏng
KS
một số loại thuốc KS
Lý do sử Là những bệnh/triệu Định
một số thuốc KS
vấn
Tỷ lệ % những bệnh/triệu Phiếu
dụng
chứng cần SDKS để danh
chứng người dân cần phỏng
thuốc KS điều trị
Căn cứ Là đối tượng được Định
SDKS để điều trị
vấn
Tỷ lệ % đối tượng được Phiếu
25
vấn