Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng ở bệnh nhân trên 60 tuổi’’ - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thay khớp háng là phẫu thuật dùng khớp nhân tạo để thay thế phần
khớp đã hư hỏng nhằm phục hồi những chức năng vốn có của khớp. Người ta
đã có thể thay từng phần khớp háng hoặc thay toàn bộ khớp háng, cả chỏm
xương đùi lẫn ổ cối. Đây là một thành tựu lớn của chuyên ngành chấn thương
chỉnh hình nói riêng và của y học nói chung.
Kể từ ca mổ đầu tiên do John Charnley thực hiện đầu những năm 60
của thế kỷ trước, đến nay thay khớp háng toàn phần đã là một phẫu thuật
chỉnh hình được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới với 1,5 triệu khớp háng
được thay hàng năm. Riêng tại Mỹ, có 300.000 người được thay khớp háng
toàn phần mỗi năm. Tuy nhiên, sau nửa thế kỷ nhìn nhận và đánh giá lại, thay
khớp háng toàn phần cũng không phải là cách điều trị toàn mỹ. Đã có những
nghiên cứu, thông báo về những tai biến và biến chứng của phương pháp điều
trị này như nhiễm khuẩn, chảy máu, liệt thần kinh, thủng ổ cối, lỏng khớp
nhân tạo hay còn đau khớp háng, đau dọc xương đùi sau mổ...
Tại Việt Nam, phẫu thuật thay khớp háng toàn phần được thực hiện từ
những năm 70 của thế kỷ 20 nhưng với số lượng ít và không thường xuyên.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế, khoa học kỹ
thuật, tuổi thọ và mức sống tăng lên.. phẫu thuật này đã được áp dụng phổ
biến ở nhiều trung tâm lớn. Đã có rất nhiều tác giả đánh giá về hiệu quả của
phương pháp điều trị này như Nguyễn Văn Nhân, Ngô Bảo Khang, Đoàn Lê
Dân, Nguyễn Trung Sinh, Nguyễn Tiến Bình, Nguyễn Đắc Nghĩa... Các
nghiên cứu cho thấy bước đầu đánh giá kết quả phục hồi chức năng sau mổ
đạt tỉ lệ cao, chất lượng cuộc sống của người bệnh ngày càng được cải thiện.
Nhưng các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, thay khớp háng toàn phần ở Việt
Nam cũng bắt đầu gặp những vấn đề mà thế giới đã và đang gặp phải.



xương đùi với ổ cối. Cấu tạo của khớp háng gồm có các thành phần: ổ cối,
đầu trên xương đùi, bao khớp, dây chằng, mạch máu, thần kinh và các cơ
xung quanh [9],[15].
1.1.1. Ổ cối
Ổ cối hình lõm bằng 2/5 khối cầu do một phần xương chậu, xương mu,
xương ngồi và sụn viền tạo thành. ổ cối hướng xuống dưới ra ngoài và hơi ra
trước. Bờ dưới của ổ cối hơi vát tạo thành vành khuyết ổ cối, đây là nơi xuất
phát của dây chằng tròn [9],[15].

Hình 1.1: Các thành phần của khớp háng
*Sụn ổ cối: lót bên trong ổ cối trừ hố ổ cối, bề dày của sụn khoảng 6%
đường kính của chỏm và thường dày nhất ở thành trên do phải chịu lực nặng


4

khi di chuyển (1,75mm - 2,5mm), chỗ mỏng nhất ở phía sau trong ổ cối
(0,75mm – 1,25mm). Sụn có cấu trúc đặc biệt cho phép chịu lực lớn. Có một
khoảng trống của ổ cối không có lớp sụn, đó là hố của dây chằng tròn [25].
Ổ cối gồm 2 phần: phần tiếp khớp với chỏm đùi gọi là diện nguyệt có
sụn bao bọc, phần còn lại là hố ổ cối chứa tổ chức mỡ, mạch máu... quanh ổ
cối xương nhô lên thành viền ổ cối, phía dưới viền ổ cối có khuyết ổ cối [15].
*Sụn viền ổ cối: là một vòng sợi bám vào viền ổ cối làm sâu thêm ổ cối
để ôm lấy chỏm đùi, phần sụn viền vắt ngang qua khuyết ổ cối gọi là dây
chằng ổ cối. Sụn viền rộng nhất ở vị trí sau dưới của ổ cối (6,4 ± 1,7mm) và
dày nhất ở phía trên trước của ổ cối (5,5 ± 1,5mm). Trong một số bệnh lý
khớp háng, vùng sụn viền ổ cối thường bị mọc thêm các tổ chức thoái hóa gây
đau và hạn chế tầm vận động của khớp. Khi phẫu thuật cần được lấy bỏ để
đảm bảo an toàn cho khớp nhân tạo.
Nắm được cấu trúc giải phẫu của ổ cối, phẫu thuật viên khi tiến hành

hệ thống vỏ xương đặc. Lớp vỏ xương cứng đi từ thân xương phát triển lên
trên và mở rộng ra giống hình lọ hoa, vỏ xương cứng dày nhất ở vòng cung
của cổ xương gọi là vòng cung Adam. Lớp vỏ xương cứng ở phía trước, phía
trên và phía sau mỏng, ở phía dưới dày hơn.
*Lớp xương xốp có cấu trúc gồm:
- Nhóm bè chính chịu lực ép xuất phát từ phía dưới cung Adam hướng
thẳng đứng lên trên chỏm xương đùi và kết thúc ở trước hố dây chằng tròn, bè
này dày, sít và vuông góc với lực chống đỡ của chỏm.
- Nhóm bè phụ chịu lực ép đi từ vòng cung Adam tỏa về phía mấu
chuyển lớn. Nhóm bè này mảnh và thưa hơn nhóm bè chính [15],[27].
- Nhóm bè xương vùng mấu chuyển lớn đi từ nền tới đỉnh của mấu
chuyển lớn và chạy dài theo điểm bám của cơ mông.


6

- Nhóm bè chính chịu lực căng bao gồm những bè xương dày và chắc
đi vòng cung từ dưới mấu chuyển lớn đến tận hết ở dưới chỏm.
- Nhóm bè phụ chịu lực căng bao gồm những bè xương mảnh hỗ trợ
cho nhóm chính, nó đi từ mấu chuyển nhỏ tỏa lên trên.
Giữa các nhóm bè xương này có vị trí không có nhóm bè nào đi qua gọi
là tam giác Ward, đây chính là điểm yếu của cổ xương đùi [9],[28].
Mấu chuyển lớn là nơi bám của khối cơ chậu hông mấu chuyển, có hai
mặt, bốn bờ. Mặt trong dính vào cổ, ở phía sau là hố ngón tay. Mặt ngoài thì
lồi có bốn bờ là điểm bám của khối cơ xoay đùi.
Mấu chuyển bé lồi ở phía sau trong, là nơi bám tận của cơ thắt lưng - chậu.
1.1.4. Mạch máu nuôi vùng cổ chỏm xương đùi
Vùng cổ chỏm xương đùi có 3 nguồn mạch nuôi [10], [28].
- Động mạch mũ đùi ngoài: xuất phát từ động mạch đùi sâu chạy vòng
ra trước và ra ngoài cho các nhánh xuống, nhánh ngang và nhánh lên để nối


8

Bó dưới: đi từ gai chậu trước dưới tới mấu chuyển bé, bó này đứng
thẳng nên có tác dụng giữ đùi không cho duỗi ra sau quá mức, làm cho ta
đứng được.
Dây chằng chậu đùi là dây chằng rộng nhất, dài nhất và khỏe nhất của
khớp háng [7].
+ Dây chằng mu đùi: ở mặt trước dưới bao khớp, đầu trên bám vào
ngành lên xương mu, đấu dưới bám vào hố trước mấu chuyển bé. Dây chằng
này hợp với hai bó của dây chằng chậu đùi thành ba nét hình chữ N hoa (dây
chằng Bertin) [19].
+ Dây chằng ngồi đùi: ở mặt sau khớp, đi từ xương ngồi tới mấu
chuyển lớn [9], [18].
Ngoài các dây chằng kể trên, ở phía sau và phía dưới bao khớp còn có
dây chằng vòng. Đó là những sợi ở lớp sau của dây chằng ngồi đùi vòng
quanh mặt sau cổ xương đùi. Dây chằng này có tác dụng ấn chỏm vào ổ cối
khi duỗi khớp háng và khi gấp thì các sợi dãn dần ra để kéo chỏm xa ổ cối.
Hệ thống dây chằng bên ngoài và bên trong khớp háng có một sự liên
kết chắc chắn đảm bảo cho một sự hoạt động đa dạng của khớp háng vì vậy
khi phẫu thuật không được làm tổn thương nhiều và phải phục hồi tối đa dây
chằng để đảm bảo tốt cho chức năng khớp háng về sau.
* Bao khớp: là một bao sợi dày, chắc bọc quanh khớp bám vào xương
chậu và xương đùi [15], [19], [23].
Về phía xương chậu: bao khớp bám vào chu vi ổ cối và mặt ngoài sụn
viền ổ cối.
Về phía xương đùi: Phia trước, bao khớp bám vào đường gian mấu.
Phía sau, bao khớp bám vào 2/3 trong cổ giải phẫu xương đùi và cách mào
gian mấu khoảng 1cm.
1.1.6. Bao hoạt dịch khớp



10

chịu lực giữa sụn khớp và hoạt dịch trong khớp giúp cho khớp háng chịu được
một lực lớn như vậy [30].
Xác định mức độ chịu lực của khớp háng giúp ta lựa chọn nguyên
liệu, kỹ thuật điều trị đạt kết quẩ tốt, đặc biệt cần thiết trong phẫu thuật
thay khớp háng.
1.1.7.2. Chức năng vận động
Biên độ vận động khớp háng tính theo chiều gấp duỗi, dạng khép, xoay
trong, xoay ngoài. Theo Robert Judet thì biên độ vận động khớp háng bình
thường của người lớn là:
Gấp / duỗi: 130o/0o/10o
Dạng / khép: 50o/0o/30o
Xoay trong / xoay ngoài: 50o/0o/45o
Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về biên độ vận động khớp háng và
có rất nhiều số liệu khác nhau, ở các lứa tuổi khác nhau thì biên độ vận động
cũng khác nhau [29].
Bảng 1.1 Phạm vi vận động trung bình của khớp háng (theo độ) [9]
Vận động trung bình

Gấp
Duỗi
Dạng
Khép
Xoay
Gấp - Xoay trong
Gấp - Xoay ngoài
Duỗi - Xoay trong

35
50

20
45

Đỗ
Xuân
Hợp
120
30
45
30

Trung
bình

45
45
45
45
45 - 60

45
45
35
48

113
28

60 - 74 (n=523)
118 ± 13
17 ± 8
39 ± 12
30 ± 7
39 ± 9

Đây là một trong những cơ sở để đánh giá chức năng của khớp nhân tạo
sau phẫu thuật thay khớp.
Chức năng vận động của khớp háng còn bị ảnh hưởng bởi tư thế cột
sống thắt lưng và tầm vận động của khớp gối kế cận. Khớp háng gấp được
120o với khớp gối co và chỉ gấp được 90o khi khớp gối duỗi. Khi tuổi càng
cao, tầm hoạt động của khớp càng giảm do vậy bước đi của tuổi trẻ thường
dài hơn bước đi của người lớn tuổi.
1.2. Bệnh lý thoái hóa khớp háng
Thoái hóa khớp háng (hay hư khớp háng) là bệnh lý khớp háng hay gặp
nhất. Hậu quả là gây đau, biến dạng khớp, làm giảm hoặc mất hoàn toàn chức
năng khớp. Thoái hoá khớp háng là một bệnh mạn tính, trước đây hay gặp ở
người trung và cao tuổi, ngày nay đang có xu hướng dần trẻ hóa.
Nguyên nhân có thể do viêm khớp, chấn thương, lao khớp, những bất
thường về giải phẫu và có thể thoái hóa không rõ nguyên nhân.
Về sinh bệnh học của thoái hóa khớp háng: bệnh thoái hóa khớp háng
bắt đầu từ sự hư hỏng sụn khớp, các hư hỏng khác chỉ là thứ phát, thương tổn
đầu tiên của sụn khớp là ở chất căn bản [1], [23].
Collagen có vai trò quan trọng trong việc hợp nhất về cấu trúc và hình
thành chức năng sụn. Nếu các sợi collagen bị đứt gãy do mất đàn hồi, các tế


12


Điều trị nội khoa bệnh thoái hóa khớp nhằm mục đích làm giảm nhẹ tổ
chức đau, hạn chế quá trình thoái hóa biến dạng khớp, duy trì cải thiện chức
năng của khớp bằng cách giảm sức tì đè, cho dùng thuốc giảm đau, tập thể
dục, chiếu tia hồng ngoại, thay đổi công việc và thói quen sinh hoạt... Do vậy,
điều trị nội khoa giữ một vai trò hết sức quan trọng nếu phát hiện bệnh sớm
và điều trị có hệ thống.
Khi các biện pháp điều trị nội khoa không kết quả, điều trị phẫu thuật
được đặt ra với bệnh nhân có khớp háng bị thoái hóa. Trước đây có nhiều tác
giả thường phẫu thuật khoan xương giảm áp ở giai đoạn I và II, cắt xương
chỉnh trục xương đùi để làm thay đổi hướng tì nén của chỏm. Nhưng sau phẫu
thuật các bệnh nhân chỉ giảm đau được trong một thời gian ngắn do làm ngắn
cánh tay đòn phía trong. Đây chỉ là cách chữa thoái hóa khớp háng một cách
thụ động và sẽ gây khó khăn khi có chỉ định thay khớp háng toàn phần. Ngày
nay ít dùng cách này. Một số tác giả khác lại tạo hình mũ cho chỏm xương
đùi, đóng cứng khớp với mục đích làm giảm đau cho người bệnh nhưng kết
quả cũng rất hạn chế. Phẫu thuật thay khớp háng ra đời và đã giải quyết được
vấn đề cơ bản của thoái hóa khớp háng là làm giảm đau và phục hồi chức
năng vận động của khớp do đó đã cải thiện tốt chất lượng cuộc sống của
người bệnh [27].
1.3. Hoại tử chỏm xương đùi
Hoại tử chỏm xương đùi là tình trạng thoái hóa biến dạng của chỏm
xương đùi do hai loại bệnh lý khác nhau gây nên: bệnh lý chấn thương gẫy cổ
chỏm xương đùi làm tổn thương các mạch máu nuôi dưỡng chỏm và bệnh lý
hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi. Hoại tử chỏm xương đùi được chia làm 5 độ:
0, I, II, III, IV, V. Hàng năm ở Hoa Kỳ có 10.000 đến 20.000 trường hợp hoại tử
chỏm xương đùi, còn ở Việt Nam hiện nay chưa có con số thống kê nào cụ thể.
1.3.1. Hoại tử chỏm xương đùi do chấn thương


14

15

chỏm xương đùi. Theo Nguyễn Đắc Nghĩa thì có 46,7% trường hợp nghiện
rượu được phẫu thuật thay khớp háng toàn phần tại bệnh viện Saint Paul do bị
hoại tử chỏm xương đùi [16].
Năm 1965, Frost H. M. cho rằng do khớp háng bị lực tì đè lớn gây lún
xương vi thể các mạch máu nhỏ nuôi xương bị tắc làm giảm dần khả năng
nuôi chỏm, mặt khác khả năng tự sửa chữa của cổ xương đùi rất kém [50].
Năm 1970, Mc Collum thấy rằng có sự tăng acid uric nhóm bệnh nhân
có hoại tử chỏm xương đùi vô mạch [41].
Trong một nghiên cứu giải phẫu bệnh về xương mào chậu ở 35 bệnh
nhân bị hoại tử vô mạch chỏm xương đùi Lauren J. và cộng sự phát hiện thấy
20 bệnh nhân có hiện tượng loãng xương [41].
Tuy nhiên, Jones J.P. cho rằng hoại tử chỏm xương đùi là tắc mạch do
mỡ. Trong nghiên cứu này, tác giả đã tiêm Lipiodon vào động mạch đùi của
thỏ và gây được hoại tử chỏm xương đùi thực nghiệm [41].
Spencre J.D. nhận thấy có hoại tử vô mạch chỏm xương đùi và bao
khớp háng ở những bệnh nhân ghép thận và dùng corticoid kéo dài [49].
Về điều trị, các tác giả thường dùng 2 phương pháp:
- Giai đoạn sớm: phẫu thuật cắt xương chỉnh trục đầu trên xương đùi
hay khoan xương giảm áp với mục đích thay đổi hướng tì nén giữa chỏm và ổ
cối làm giảm áp lực vùng chỏm xương đùi và làm cho bệnh nhân có thể ổn
định trong nhiều năm.
- Giai đoạn muộn: khi chỏm đã biến dạng hoàn toàn đồng thời với biến
dạng của hõm khớp, bệnh nhân đau nhiều khi đi lại và biên độ vận động khớp
bị hạn chế thường được phẫu thuật thay khớp háng toàn phần.
1.4. Gãy cổ xương đùi
Cổ xương đùi có giới hạn từ sát chỏm tới đường liên mấu chuyển, hay
gặp ở người cao tuổi, nữ gặp nhiều hơn nam [14].


di lệch của các bè xương, chia làm 4 độ:
- Garden 1: gãy xương không hoàn toàn, không di lệch, ở các bè xương
bị bẻ gấp nhưng không rời cong ra ngoài, loại này thường có thể là gãy rạn và
gãy cài.
- Garden 2: gãy hoàn toàn nhưng không di lệch, các bè xương không
rời nhau, hướng vẫn như cũ.
- Garden 3: gãy hoàn toàn di lệch, bao hoạt dịch phía trước bị rách, phía
sau còn nguyên vẹn, các bè xương ở chỏm hướng nằm ngang.
- Garden 4: gãy hoàn toàn di lệch, bao hoạt dịch bị rách, các bè xương
hướng lên trên di lệch hoàn toàn, chỏm trở lại vị trí bình thường trong ổ cối.

Hình 1.4. Phân loại gãy cổ xương đùi theo Garden
Trong 4 loại gãy trên thì Garden 3, 4 là hai loại gãy nặng nhất do đầu
xương di lệch làm tổn thương gần như hoàn toàn các nguồn cung cấp máu tới
chỏm (kể cả động mạch cổ lên - nguồn cấp máu quan trọng nhất). Điều trị loại
gãy Garden 1, 2 tương đối đơn giản, ít biến chứng.
Điều trị gãy cổ giải phẫu xương đùi ở người trẻ tuổi, gãy di lệch ít thì
việc điều trị bảo tồn còn khả quan. Nhưng với gãy di lệch nhiều (Pauwels 3,
Garden 3, 4), gãy nát chỏm thì việc điều trị là hết sức khó khăn, với những


18

bệnh nhân tương đối lớn tuổi (khoảng từ 50 - 70 tuổi), hiện tượng loãng xương,
thưa xương đã xảy ra thì việc điều trị bảo tồn chỏm xương đùi cũng rất khó.
Hiện nay các tác giả chủ trương phẫu thuật kết hợp xương cho những
bệnh nhân trẻ tuổi bị gãy cổ xương đùi di lệch ít, phẫu thuật thay chỏm cho
những bệnh nhân cao tuổi (trên 75 tuổi) và phẫu thuật thay khớp háng toàn
phần cho những bệnh nhân gãy phức tạp di lệch nhiều mà tuổi chưa quá cao.
1.5. Khớp háng toàn phần

như bạc đạn trong công nghiệp và có tác dụng giảm nhiều lực ma sát, độ mài
mòn, giúp cho khớp hoạt động được dễ dàng.
1.5.2. Chất liệu khớp
Cho đến nay, kim loại vẫn là vật liệu chính để làm phần chỏm và chuôi
cắm vào thân xương đùi. Đây là một hợp kim của sắt với các thành phần như
Titan, Chrome, Carbon, Aluminum. Có 3 nhóm chính:
- Kim loại chủ sắt.
- Kim loại chủ Titan.
- Kim loại chủ cobalt.
UHMWPE (Polyethylen có trọng lượng phân tử siêu cao) là vật liệu
thường được dùng tạo nên lót ổ cối của khớp háng toàn phần. Lực ma sát giữa
nó với kim loại được đánh giá gần bằng lực ma sát sinh lý của khớp bình
thường, sự dung nạp của cơ thể người và sức chịu đựng với sự bào mòn của
UHMWPE cũng được đánh giá rất tốt.
Hiện nay vẫn tồn tại đồng thời hai khuynh hướng sử dụng vật liệu trong
thay khớp háng toàn phần: có xi măng và không xi măng. Tuy nhiên, một số
tác giả còn sử dụng khớp toàn phần với chỏm có gắn xi măng và ổ cối không
gắn xi măng.
Gốm hiện nay được sử dụng làm chỏm có độ mài mòn và lực ma sát ít.
Các vật liệu khác: có một vài báo cáo đã sử dụng khớp nhân tạo bằng
xương khớp đồng loại, composite carbon nhưng kết quả còn rất hạn chế.
1.5.3. Cấu tạo của khớp háng


20

Có 2 bộ phận chính là chuôi và ổ cối.
- Chuôi: có 2 loại là chuôi chỏm liền (của Charnley, Muller) và chuôi
chỏm rời (chuôi Ultimar).
- Ổ cối: đường kính trong của ổ cối tương đương với từng cỡ chỏm.

Farra... đã thiết kế ra khớp háng toàn phần bằng kim loại. Khớp nhân tạo toàn
phần mới này không chỉ thay thế phần cổ chỏm xương đùi mà còn thay thế cả
phần ổ cối. Kết quả bước đầu của các bệnh nhân này rất tốt, nhưng thời gian
sau thì lực ma sát đã mài mòn cả ổ cối và chỏm dẫn đến khớp nhân tạo bị lỏng
và bệnh nhân bị đau lại.
Đầu những năm 1960, Charnley đã tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử
phát triển của phẫu thuật thay khớp nói chung và thay khớp háng nói riêng
bằng cách thiết kế ra loại khớp với ổ cối bằng nhựa Teflon và chỏm bằng
thép. Sau đó ông cải tiến khả năng chịu lực của ổ cối bằng cách thay thế vật
liệu nhựa Teflon bằng nhựa HDPE (Polyethylen mật độ cao) và đầu những
năm 1970, tác giả sử dụng nhựa UHMWPE (Polyethylen trọng lượng phân tử
siêu cao) để làm ổ cối [34], [37]. Charnley cũng đã xem xét kỹ lưỡng xi măng
nha khoa và ứng dụng xi măng Methyl Methacrilic Polymer để cố định khớp
nhân tạo. Đây là phương pháp thay khớp háng nhân tạo toàn phần đầu tiên
mang tính hiện đại và cho kết quả tốt.
Gần đây nhất là sự ra đời và được ứng dụng rộng rãi của khớp háng
toàn phần không xi măng theo nguyên lý tự chốt sinh học [51].
1.5.4.2. Tình hình thay khớp háng tại Việt Nam
Năm 1973, Trần Ngọc Ninh đã phẫu thuật thay khớp háng toàn phần
cho một bệnh nhân nam 37 tuổi bị cứng khớp háng hai bên do viêm dính cột
sống. Chức năng vận động khớp háng sau phẫu thuật của bệnh nhân phục hồi
tốt và được theo dõi trên 10 năm. ông là phẫu thuật viên thay khớp háng toàn
phần đầu tiên của Việt Nam [19].


22

Năm 1975, Nguyễn Văn Nhân đã tiến hành thay khớp háng toàn phần
cho một bệnh nhân bị mất đoạn đầu trên xương đùi 6cm. Sau phẫu thuật bệnh
nhân đi lại, ngồi xổm được nhưng còn bị ngắn chi 2cm [18].

tốt và rất tốt, 11,6% đạt khá, chỉ có 1,6% kém. Cũng trong Hội nghị này, Lưu
Hồng Hải, Nguyễn Tiến Bình và cộng sự thông báo kết quả thay khớp háng
cho 61 bệnh nhân dưới 50 tuổi trong thời gian từ 2000 - 2006, theo dõi được
từ 3 - 9 năm với kết quả rất tốt và tốt là 93% [8].
Để tiến hành thay khớp đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên khoa sâu với
trang thiết bị đồng bộ và hiện đại để hạn chế tới mức tối đa những tai biến và
biến chứng có thể xảy ra. Có những tai biến, biến chứng còn có cơ hội sửa
chữa nhưng có những tai biến, biến chứng, đặc biệt trên nhóm bệnh nhân có
kèm theo nhiều bệnh mạn tính thì hầu như không còn cơ hội. Mặt khác, kinh
phí chi trả cho một ca phẫu thuật loại này còn cao so với mặt bằng chung thu
nhập của người dân. Do vậy, bệnh nhân khi cần phẫu thuật thay khớp háng
thường tìm đến những cơ sở y tế có nhiều kinh nghiệm. ở nước ta phẫu thuật
này vẫn chưa thực sự phát triển sâu rộng mà chỉ tập trung ở các cơ sở chấn
thương lớn trong cả nước.
1.6. Chỉ định và chống chỉ định thay khớp háng
1.6.1. Chỉ định phẫu thuật
- Đối với bệnh lý vùng khớp háng:
 Thoái hóa khớp háng giai đoạn III, IV
 Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi
 Lao khớp háng giai đoạn ổn định
 Viêm cột sống dính khớp gây dính khớp háng ở tư thế xấu
- Đối với chấn thương vùng cổ chỏm xương đùi:
 Gãy cổ xương đùi ở những bệnh nhân trên 60 tuổi
 Gãy sát chỏm, vỡ nát chỏm không thể bảo tồn được
 Gãy cổ xương đùi độ III của Pauwels, độ III, IV của Garden


24

 Khớp giả tiêu cổ chỏm sau gãy cổ xương đùi đã điều trị bằng

- Yếu tố thứ yếu: dựa vào hình dạng ống tủy và kích thước của ống tủy
 Hình dạng ống tủy: Theo phân loại của L.D. Dorr (1986)
Kiểu hình Dorr A: khớp háng toàn phần không có xi măng, không có đủ
xương xốp để xi măng bám vào.
Kiểu hình Dorr B: khớp háng có hoặc không có xi măng.
Kiểu hình Dorr C: có xi măng ở bệnh nhân có thể hình nhỏ, không có xi
măng ở bệnh nhân có thể hình lớn.
 Kích thước của ống tủy: xác định dựa vào phim Xquang:
Ống tủy nhỏ hơn 15mm: không xi măng
Ống tủy rộng, vỏ xương đặc, dày: không xi măng
Ống tủy lớn hơn 15mm, giảm mật độ xương: có xi măng.
* Các yếu tố bên ngoài:
- Kinh tế.
- Bảo hiểm, trợ cấp.
- Khuynh hướng của phẫu thuật viên: thói quen, kinh nghiệm, nhu cầu gia
tăng về khớp háng nhân tạo có và không có xi măng.
Thời gian gần đây, xu hướng của Mỹ và các nước Tây Âu là sử dụng nhiều
khớp háng nhân tạo không có xi măng.
1.8. Một số đường mổ
Có nhiều đường mổ vào khớp háng để thay khớp háng toàn phần [6], [42]:
- Lối trước: đường Smith - Peterson, Hardinge...
- Lối bên: Charnley cắt mấu chuyển lớn để vào khớp háng, ngày nay ít
được sử dụng.
- Lối sau bên: Gibson, Marcy - Fletcher, Moore, Langerback...



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status