Sáng kiến “Một số biện pháp chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ mẫu giáo trong trường Mầm non Minh Thuận 1 năm học 2018 – 2019”. - Pdf 56

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN

Mã số: ……………………………………………………………………
1. Tên sáng kiến:
“Một số biện pháp chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm cho trẻ mẫu giáo trong trường Mầm non Minh Thuận 1 năm học
2018 – 2019”.
2. Lĩnh vực áp dụng sang kiến: Giải pháp quản lý trong giáo dục.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:
- Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới:
Như chúng ta đã biết mục tiêu của giáo dục mầm non là hình thành cho
trẻ những yếu tố nhân cách đầu tiên của con Nguời, phát triển toàn diện về các
lĩnh vực: Thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm xã hội. Để đạt được
mục tiêu phát triển toàn diện thì ta cần kết hợp hài hoà giữa chăm sóc nuôi
dưỡng và giáo dục đó là điều tất yếu.
Vệ sinh an toàn thực phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu
sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm
bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng
người tiêu dùng. Vì vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham
gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp,
thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay, các loại thực phẩm sản
xuất, chế biến trong nước và nước ngoài nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều
chủng loại. Việc sử dụng các chất phụ gia trong sản xuất trở nên phổ biến. Các
loại phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng trong pha chế nước giải khác,
sản xuất bánh kẹo, chế biến thức ăn sẵn như thịt quay, giò chả, ô mai … Nhiều
loại thịt bán trên thị trường không qua kiểm duyệt thú y. Tình hình sản xuất thức
ăn, đồ uống giả, không đảm bảo chất lượng và không theo đúng thành phần

chung và ở trường mầm non tổ chức bán trú nói riêng rất quan trọng và cấp
bách. Khi bắt đầu thực hiện đề tài này tôi gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
* Ưu điểm:
Nhà trường có tương đối các trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc tổ
chức bán trú, có đầy đủ bảng biểu trong nhà bếp theo quy định.
Có đầy đủ bộ lưu mẫu thức ăn cho trẻ. Thực hiện nghiêm túc việc lưu
mẫu thức ăn hàng ngày, xây dựng thực đơn phù hợp theo mùa, Thực hiện tốt
khâu giao nhận thực phẩm, cập nhật sổ sách nuôi đầy đủ, rõ ràng, biết tận dụng
thực phẩm sẵn có ở địa phương giàu chất dinh dưỡng để chế biến món ăn cho
trẻ.
Thực hiện ký kết hợp đồng thực phẩm: (gạo, trứng, thịt, cá, tôm, rau
quả…) với các đơn vị có đủ giấy tờ hợp lệ, có uy tín. Về mặt pháp lý các đơn vị
đó chịu trách nhiệm trước pháp luật khi có vấn đề vi phạm vệ sinh an toàn thực
phẩm.
* Hạn chế:
- Đội ngũcán bộ, giáo viên chưa được bồi dưỡng kiến thức về lý thuyết,
thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong
chế biến.
2


- Công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng dụng cụ nhà bếp và vệ sinh môi
trường, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo viên tại lớp và vệ sinh cá nhân cho trẻ chưa
được trú trọng.
- Công tác chỉ đạo, giám sát, kiểm tra đối với công tác chăm sóc nuôi
dưỡng và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm ở nhà bếp chưa thật sát xao.
- Việc theo dõi biểu đồ tăng trưởng của trẻ, khám sức khoẻ, quản lý công
tác tiêm chủng mở rộng và các dịch bệnh khác chưa được chặc chẽ
Công tác tuyên truyền đối với các ban ngành và phụ huynh, lồng ghép nội
dung vệ sinh an toàn thực phẩm vào các hoạt động trong ngày của trẻ chưa được

chưa được thực hiện tốt, chưa được

Giải pháp mới
- Nhân viên cấp dưỡng và đội ngũ giáo
viên được bồi dưỡng kiến thức về lý
thuyết, thực hành dinh dưỡng, thực hiện
tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh
trong chế biến qua các buổi tập huấn và
học tập kinh nghiệm tại các đơn vị
trường tiên tiến trong và ngoài huyện.
- Công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ
dùng dụng cụ nhà bếp và vệ sinh môi
trường, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo
viên tại lớp và vệ sinh cá nhân cho trẻ
được thực hiện một cách triệt để đảm
3


trang bị đầy đủ bảo hộ lao động khi bảo vệ sinh môi trường, đội ngũ nhân
thực hiện công tác bán trú như (tạp viên giáo viên cấp dưỡng được khám
dề, khẩu trang, …).
sức khỏe chuyên khoa định kỳ, được
trang bị đầy đủ bảo hộ lao động khi thực
hiện công tác bán trú như (tạp dề, khẩu
trang, …)
- Chưa có Phó Hiệu trưởng chỉ đạo - Công tác chỉ đạo, giám sát, kiểm tra
trực tiếp công tác bán trú trong nhà đối với công tác chăm sóc nuôi dưỡng,
trường nên kiểm tra, giám sát đôi lúc vệ sinh an toàn thực phẩm ở nhà bếp
chưa thường xuyên.
được thực hiện thường xuyên do có

* Giải pháp 2: Chú trọng công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng dụng cụ
nhà bếp và vệ sinh môi trường, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo viên tại lớp và vệ
sinh cá nhân cho trẻ.
* Giải pháp 3: Tăng cường công tác chỉ đạo, giám sát, kiểm tra đối với
công tác chăm sóc nuôi dưỡng, chú trọng kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm ở
nhà bếp.
4


* Giải pháp 4: Chỉ đạo theo dõi biểu đồ, khám sức khoẻ, quản lý công tác
tiêm chủng mở rộng và các dịch bệnh khác
* Giải pháp 5: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối với các ban ngành và
phụ huynh, lồng ghép nội dung VSATTP vào các hoạt động trong ngày của trẻ.
* Giải pháp 6: Tham mưu mua sắm cơ sở vật chất.
3.2.2.2. Triển khai các giải pháp
* Giải pháp 1: Bồi dưỡng kiến thức về lý thuyết, thực hành dinh
dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho
đội ngũ.
- Hành động 1:Đầu năm học, nhà trường tổ chức tập huấn chuyên môn
cho cán bộ giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng về các nội dung theo tài liệu bồi
dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và giáo viên, nhân viên, các nội dung
tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm do trung tâm y tế huyện phối hợp với
Phòng giáo dục tổ chức,... Một trong những nội dung quan trọng là đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm trong việc tổ chức ăn cho trẻ tại trường mầm non, chú
trọng vấn đề kiến thức thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực
phẩm, vệ sinh trong chế biến và vệ sinh ăn uống cho trẻ.
Ví dụ: Nội dung chọn thực phẩm tươi sạch thì cung cấp cho giáo viên,
nhân viên biết:
Nếu là thực phẩm sống: Chỉ lựa chọn những thực phẩm còn tươi mới,
không bị dập nát, không có mùi, màu lạ.

như; Cách lựa chọn thực phẩm sạch, thực hành chế biến, tổ chức bữa ăn, thực
hành vệ sinh cá nhân, sơ cứu khi trẻ gặp tai nạn, thương tích;
- Hành động 3:Xây dựng các tiết thao giảng có lồng ghép chủ đề vệ sinh
an toàn thực phẩm qua các môn học như tìm hiểu môi trường xung quanh, làm
quen văn học-chữ viết, tạo hình, thể dục, hoạt động vui chơi... giáo viên học tập
rút kinh nghiệm để áp dụng trong quá trình chăm sóc trẻ;
- Hành động 4:Bên cạnh đó, Tôi đã tham mưu với hiệu trưởng phân công
những nhân viên làm nhiệm vụ nuôi dưỡng lâu năm, có nhiều kinh nghiệm trong
chế biến món ăn cho trẻ hướng dẫn những nhân viên mới vào nghề, chưa có
kinh nghiệm để thực hiện tốt công tác nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường.
Thông qua các hình thức bồi dưỡng đó mà mỗi một cán bộ, giáo viên,
nhân viên trong trường nắm được những nội dung cần thiết trong công tác chăm
sóc sức khoẻ, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm
non và cộng đồng, góp phần giảm tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng, béo phì trong trường
mầm non.
Bảng so sánh kết quả sau khi áp dụng giải pháp:
Trước khi áp
dụng SK

Sau khi áp
dụng SK

(Tỷ lệ)

(Tỷ lệ)

1

Nhân viên cấp dưỡng và đội ngũ giáo
viên có kinh nghiệm trong việc thực

6


=>Giải pháp 1 có tính mới, tính sáng tạo làbồi dưỡng cho nhân viên cấp
dưỡng và giáo viên kiến thức, kinh nghiệm trong công tác VSATTP, kinh
nghiêm trong việc chọn thực thẩm tươi ngon, thành thạo trong việc thực
hành chế biến các món ăn và tổ chức cho trẻ ăn nhằm làm giảm tỷ lệ trẻ suy
dinh dưỡng trong nhà trường.
*Giải pháp 2: Chú trọng công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng dụng
cụ nhà bếp và vệ sinh môi trường, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo viên tại lớp
và vệ sinh cá nhân cho trẻ.
- Hành động 1: Vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng, dụng cụ nhà bếp
+ Thực hiện nguyên tắc bếp một chiều nhằm tránh không để thực phẩm
sống, chưa làm sạch và thức ăn chín, sạch chung một lối đi.
+ Sắp xếp vị trí các khu vực sao cho thuận tiện, gọn gàng để tránh lúc nấu
nướng phải đứng lên, ngồi xuống hoặc đi lại nhiều lần, đồng thời tránh được các
loại côn trùng, chuột vào bếp. Các khu vực hoạt động của bếp phải có biển đề rõ
ràng: Nơi tiếp nhận thực phẩm, khu sơ chế thực phẩm, khu tinh chế, khu nấu
chín, khu chế biến thực phẩm chín, khu chia ăn.
+ Nhà bếp có bảng phân công dây chuyền nấu trong ngày: Người nấu
chính, người nấu phụ, người tiếp phẩm, sơ chế thực phẩm, vệ sinh dụng cụ.
+ Bếp ăn có bảng thực đơn theo tuần, bảng định lượng suất ăn hàng ngày
và công khai tài chính cụ thể rõ ràng.
+ Chỉ đạo nhân viên nuôi dưỡng nghiêm túc khâu vệ sinh nhà bếp theo
lịch hàng ngày, tuần và tháng.
Ví dụ: Hàng ngày, khi nấu nướng xong phải dọn dẹp, sắp xếp đồ dùng,
dụng cụ vào đúng nơi quy định, vệ sinh quét dọn sạch sẽ, mở quạt thông gió, mở
các cửa sổ để thông gió cho khô, thoáng nhà bếp trước khi đóng cửa ra về.
+ Chén bát và nơi để thức ăn phải thoáng có lưới để ngăn không cho ruồi,
nhặng, muỗi, chuột đậu hoặc xà vào thức ăn.

được cán bộ viên chức và toàn thể cha mẹ học sinh, các cháu học sinh đồng tình
hưởng ứng, cho nên cảnh quan môi trường, lớp học luôn xanh mát. Bảo vệ chăm
sóc tạo cảnh quan môi trường, bỏ rác đúng nơi quy định trong sân trường, đồ
chơi đẹp - sạch -an toàn và lành mạnh đó là những gì tất cả cán bộ giáo viên, cha
mẹ học sinh và học sinh đã hưởng ứng tốt phong trào “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực”.
- Hành động 3: Vệ sinh đối với cô nuôi, nhân viên nhà bếp
+ Nhân viên nuôi dưỡng đã được học và có chứng chỉ bồi dưỡng những
kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, qua đó nắm rõ trách nhiệm của mình là
phải đảm bảo nuôi dưỡng trẻ khoẻ mạnh và an toàn.
+ Chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh cá
nhân trong quá trình chế biến ăn cho trẻ như: mặc quần áo đồng phục ở trường,
mang tạp dề, đầu tóc gọn gàng, móng tay, móng chân cắt ngắn, sạch sẽ. Rửa tay
bằng xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi tay bẩn, sau khi đi
vệ sinh, qua mỗi công đoạn chế biến. Có khăn lau tay riêng và được giặt phơi
khô hàng ngày.
+ Phải tuân thủ đúng quy trình sử dụng dụng cụ chế biến thức ăn theo một
chiều, không tuỳ tiện sử dụng đồ dùng, dụng cụ đựng, chế biến thực phẩm sống,
chín lẫn lộn. Không được ho, khạc nhổ khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi nếm
thức ăn còn thừa phải đổ đi.
+ Khi chia ăn cho trẻ phải đeo khẩu trang và chia bằng dụng cụ, không
dùng tay bốc, chia thức ăn. Thực hiện nghiêm túc việc cân, đong chia thức ăn
cho trẻ đảm bảo định lượng.
+ Nhân viên nhà bếp 6 tháng phải khám sức khoẻ định kỳ, được bố trí nơi
thay quần áo và vệ sinh riêng, không dùng chung với khu chế biến thức ăn cho
trẻ.
8


- Hành động 4: Vệ sinh cá nhân đối với giáo viên và trẻ tại lớp

(Tỷ lệ)

35%

88%

12,8%

0,65%

26%

92%

65%

100%

Trẻ có thói quen biết giữ gìn vệ sinh cá
nhân.
Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, béo phì
Trẻ biết tự phục vụ cho bản thân, nề nếp
trong việc ăn, ngủ đúng giờ.
Nhân viên cấp dưỡng, giáo viên có trách
nhiệm, ý thức trong vệ sinh môi trường,
khu bếp,…

=>Giải pháp 2 có tính mới, tính sáng tạo lànâng cao ý thức cho nhân
viên nuôi dưỡng, giáo viên có ý thức trong vệ sinh môi trường, vệ sinh khu
bếp, thực hiện đúng theo quy trình bếp ăn một chiều; Rèn cho trẻ có thói

lượng…Đặc biệt, không nhận thực phẩm không đảm bảo chất lượng như rau
không xanh tươi, cá thịt không tươi…
+ Nhân viên nhà bếp khi tiếp nhận thực phẩm phải ghi rõ ngày, giờ nhận
thực phẩm, tên thực phẩm, ghi rõ số lượng, tình trạng thực phẩm, sổ kiểm thực 3
bước,...Những thực phẩm bị dập nát có dấu hiệu không tươi, nghi ngờ hỏng,
không đảm bảo chất lượng, không đúng với hợp đồng thì không được tiếp nhận
và chế biến dùng cho trẻ. Các phẩm màu phụ gia thực phẩm không rõ nguồn
gốc, không nằm trong danh mục cho phép của Bộ Y tế thì không được dùng
trong trường mầm non.
+ Khi giao nhận thực phẩm, ngoài nhân viên nhà bếp còn có đại diện của
nhà trường, nhân viên y tế, kế toán, đại diện giáo viên trên lớp cùng kiểm tra
thực phẩm.
+Thực hiện nghiêm túc kiểm thực 3 bước (kiểm tra trước khi nhận thực
phẩm, trước khi nấu và kiểm tra trước khi ăn).
+ Khâu bảo quản lưu giữ tại kho và tủ lạnh của bếp ăn nhà trường đảm
bảo vệ sinh, không để thực phẩm quá hạn, ẩm mốc, kém chất lượng. Các hộp
đựng hoặc chai, lọ đựng gia vị, thực phẩm phải có nhãn tên, không cất giữ
chung với các loại hoá chất diệt côn trùng, xà phòng, xăng dầu hoả với kho thực
phẩm.
- Hành động 3: Chỉ đạo chế biến và bảo quản thực phẩm.

10


+ Nhân viên nuôi dưỡng chế biến thực phẩm phải đảm bảo chất lượng
món ăn thơm ngon, đẹp, phù hợp với trẻ, đảm bảo an toàn. Thức ăn phải được
chế biến nấu chín kỷ, nấu xong cho trẻ ăn ngay.
+ Thực hiện nghiêm túc quy định về lưu mẫu thức ăn: Hàng ngày, nhân
viên nuôi dưỡng phải lưu mẫu thức ăn theo đúng quy định 24h. Mẫu thức ăn phải
được lấy khi vừa nấu xong chuẩn bị chia ăn cho trẻ. Hộp đựng mẫu thức ăn

Bảng so sánh kết quả sau khi áp dụng giải pháp:
Trước khi áp
STT
Nội dung
dụng SK
(Tỷ lệ)
1
Trẻ được cân, đo định kì; theo dõi chiều
60%

Sau khi áp
dụng SK
(Tỷ lệ)
100%
11


2

cao, cân nặng chính xác bằng biểu đồ
tăng trưởng.
Trẻ được tiêm chủng đủvà đúng theo
quy định

55%

100%

=>Giải pháp 4 có tính mới, tính sáng tạo làviệc theo dõi thể trạng và
tiêm chủng của trẻ được thực hiện sát sao qua việc cân đo định kì và theo

Làm quen với các món ăn tại trường, tập ăn hết suất, rèn luyện hành vi
văn minh trong ăn uống: Biết mời cô và các bạn trước khi ăn; ngồi ăn ngay
ngắn, không co chân lên ghế; cầm thìa bằng tay phải tự xúc ăn gọn gàng, tránh
đổ vãi, ăn từ tốn, nhai kỹ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn.
12


Tập tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày tại trường: Tự cất, dọn đồ dùng
ăn uống sau khi ăn, lấy gối lên giường đi ngủ.
Tập luyện thói quen tốt về vệ sinh cá nhân, đi vệ sinh đúng nơi qui
định. Giữ gìn vệ sinh môi trường như không khạc nhổ nơi công cộng, vứt
rác đúng nơi qui định.
Ví dụ: Khi tổ chức hoạt động góc qua trò chơi “Bán hàng” chủ đề "Gia
đình, thế giới thực vật" khi mua hàng các cháu phải biết chọn thực phẩm tươi
ngon, thực phẩm không bị rập nát. Qua trò chơi “Nấu ăn” các cháu biết rửa tay
và vệ sinh đồ dùng, rửa sạch thực phẩm trước khi chế biến, phải biết ăn chín
uống sôi.
Hoặc đối với chủ đề "Thế giới thực vật" cho trẻ làm quen các loại rau, quả
thông qua trò chơi học tập “Phân nhóm thực phẩm” thì cần phải chuẩn bị những
lô tô về các loại rau ăn củ, rau ăn quả, rau ăn lá và trò chơi“Thi xem ai
nhanh” yêu cầu trẻ lấy đúng và xếp nhanh, phân loại nhóm chất dinh dưỡng
theo yêu cầu của cô giáo. Qua các trò chơi giúp trẻ nhận biết và nhớ lâu các
nhóm thực phẩm trẻ biết nhóm nào nên ăn nhiều và nhóm nào ăn hạn chế.
Bảng so sánh kết quả sau khi áp dụng giải pháp:
STT
1
2

Nội dung
Phụ huynh nhận thức được tầm quan

Hàng năm, nhà trường đã trang bị khá đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị
cho các lớp, nhất là đồ dùng phục vụ bán trú, nhưng qua quá trình sử dụng đã hư
hỏng nhiều. Vì vậy, qua đợt kiểm kê tài sản cuối năm học 2018-2019 ở nhà bếp
và các lớp, Tôi lên kế hoạch tham mưu với Hiệu trưởng để mua bổ sung đồ
dùng, trang thiết bị phục vụ cho bán trú và đồ dùng cho các lớp như: Như soong,
nồi, rá, xô, chậu, bếp, thớt, dao...cho nhà bếp đầy đủ.
13


Đối với các lớp tôi tham mưa mua sắm đầy đủ chiếu, giát giường, chăn,
gối, bát thìa, ca, khăn...đầy đủ theo số lượng trẻ.
- Hành động 2: Tham mưu với Hiệu trưởng hợp đồng những nhân viên
nuôi dưỡng có kiến thức kinh nghiệm, có năng lực, sức khỏe để đảm bảo phục
vụ tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Nhờ vậy mà ngay từ đầu năm học
trường đã ổn định đội ngũ nhân viên dinh dưỡng, trường có đầy đủ các đồ dùng
phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ giúp trẻ phát triển một cách toàn
diện về thể chất lẫn tinh thần.
=>Giải pháp 6có tính mới, tính sáng tạo là bổ sung, sửa chữa đồ dùng
trang thiết bị để phục vụ cho việc thực hiện bán trú; Tạo sự đồng thuận,
chia sẽ kinh nghiệm lẫn nhau giữa cán bộ giáo viên trong trường.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp
Sáng kiến “Một số biện pháp chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm cho trẻ mẫu giáo trong trường Mầm non Minh Thận 1
năm học 2018 – 2019”đã áp dụng có hiệu quả tại trường và đã được áp dụng
nhân rộng có hiệu quả tại các trường mầm non trong huyện và có khả năng nhân
rộng trong toàn tỉnh.
3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng giải pháp
3.4.1.Hiệu quả về kỹ thuật:
Qua một năm chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn

2.1

Trước khi áp
dụng SK
(Tỷ lệ)

Sau khi áp
dụng SK
(Tỷ lệ)

45%

85%

32,6%

95,8%

65%

100%

55%

90%

35%

88%
14


26%

92%

60%

100%

55%

100%

50%

85%

45%

95%

3.4.1. Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường
- Hiệu quả kinh tế:
Với việc sử dụng các nguồn thực phẩm sẵn có ở địa phương thực đơn cho
trẻ được xây dựng ngày càng đa dạng, khẩu phần ăn của trẻ được cải thiện đảm
bảo đủ lượng, đủ chất cho trẻ khi tới trường.
- Hiệu quả xã hội:
Nhân viên cấp dưỡng và đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm trong việc thực
hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến, thực hành chế biến, tổ
chức bữa ăn, thực hành vệ sinh cá nhân, sơ cứu khi trẻ gặp tai nạn, thương tích.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status