BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG HẢI ĐOÀN
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG HẢI ĐOÀN
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
9
1.1. Lý luận về tranh chấp đất đai
9
1.2. Lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua Tòa án nhân dân
20
1.3. Lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
35
2.1. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án
nhân dân
35
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai thông qua
hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn
54
BLTTDS
: Bộ luật tố tụng dân sự
GCNQSDĐ
: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
QSDĐ
: Quyền sử dụng đất
SDĐ
: Sử dụng đất
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội tồn tại ở bất cứ hình thái kinh
tế - xã hội nào. Ở nước ta, tranh chấp đất đai gây ra những hệ quả tiêu cực như phá
vỡ mối quan hệ đoàn kết giữa các thành viên trong gia đình, họ hàng hoặc trong nội
bộ nhân dân làm mất ổn định xã hội và tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị.
Hơn nữa, tranh chấp đất đai khiến quá trình sử dụng đất (SDĐ) bị ngưng trệ, đình
đốn sản xuất do các bên tranh chấp mất thời gian, tiền của và công sức vào việc
khiếu kiện… Vì vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là một chế định quan trọng của
pháp luật đất đai, có ý nghĩa trên nhiều phương diện không chỉ hóa giải bất đồng,
mâu thuẫn mà còn tháo "ngòi nổ" không để tranh chấp phát sinh thành điểm nóng
phức tạp về chính trị, trật tự an toàn xã hội; đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người SDĐ. Thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học về vấn đề này
được công bố tạo cơ sở khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định về giải
quyết tranh chấp đất đai. Tuy nhiên, trên thực tế việc giải quyết tranh chấp đất đai
vẫn gặp nhiều khó khăn, thách thức do còn thiếu một số quy định của pháp luật
hoặc các quy định chưa phát huy hiệu quả trong quá trình thực thi. Luật đất đai năm
2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành được Quốc hội, Chính phủ và các bộ,
ngành liên quan ban hành thay thế Luật đất đai năm 2003 có những sửa đổi, bổ sung
về giải quyết tranh chấp đất đai nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc. Điều
này đặt ra yêu cầu cần tìm hiểu các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai nói
chung và thực tiễn áp dụng pháp luật đất đai trong giải quyết tranh chấp đất đai tại
Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Lạng Sơn nói riêng góp phần nâng cao hiệu quả thi
hành Luật đất đai năm 2013. Hơn nữa, tìm hiểu một cách đầy đủ, toàn diện, hệ
thống dưới khía cạnh lý luận và thực tiễn pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai
thông qua thực tiễn giải quyết tại TAND tỉnh Lạng Sơn tham chiếu với Luật đất đai
năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì dường như vẫn còn thiếu một công
trình như vậy.
làm luận văn thạc sĩ luật học.
3
2. Tình hình nghiên cứu
Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai luôn là vấn đề "nóng"
thu hút được sự quan tâm đặc biệt của người dân, các nhà quản lý và dư luận xã hội.
Trong khoa học pháp lý, tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai tại
TAND nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đã có nhiều công trình
khoa học ở các cấp độ khác nhau được công bố. Những công trình nghiên cứu mang
tính gợi mở có thể kể đến: 1) Nguyễn Thị Thu Hà (2013), "Giải quyết tranh chấp
đất đai bằng con đường Tòa án ở quận Hà Đông", Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội; 2) Hồ Xuân Hương (2004), "Giải quyết tranh chấp
đất đai qua thực tiễn ở Hà Nội", Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội; 3) Nguyễn Văn Luật (chủ nhiệm đề tài) (2002), "Cơ sở lý luận và thực tiễn
nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất tại Tòa án
nhân dân", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ - Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC);
4) Viện Khoa học xét xử - TANDTC (2012), "Thực tiễn giải quyết tranh chấp về
hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất những vướng mắc và kiến nghị", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ; 5) Mai Thị Tú
Oanh (2013), "Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án ở
nước ta", Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội; 6) Doãn Hồng Nhung
(chủ biên) (2014), "Kỹ năng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai
ở Việt Nam", Nxb Lao động, Hà Nội; 7) Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng
(2011) "Giao dịch về quyền sử dụng đất vô hiệu, pháp luật và thực tiễn xét xử",
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; 8) Nguyễn Thị Dung (2004),"Về giải quyết tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo trong những quy định của Luật đất đai", Tạp chí Luật học Số chuyên đề về Luật đất đai 2003, tháng 5; 9) Nguyễn Quang Tuyến (2004), "Về
thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án", Tạp chí TAND, số 14, tháng 7;
10) Lưu Quốc Thái (2006), "Hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết tranh
chấp đất đai", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17; 11) Nguyễn Văn Thắng (2013),
"Luật đất đai (sửa đổi) cần mở rộng thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải
đất đai.
- Khát quát đánh giá lịch sử hình thành và phát triển chế định giải quyết
tranh chấp đất đai.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai qua thực
tiễn áp dụng tại TAND tỉnh Lạng Sơn.
6
- Đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp đất đai và nâng cao hiệu quả áp dụng tại TAND tỉnh Lạng Sơn…
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu gồm những nội dung cụ thể sau:
- Các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật hướng
dẫn thi hành về giải quyết tranh chấp đất đai.
- Các quy định của BLTTDS năm 2015 và các văn bản pháp luật hướng dẫn
thi hành về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai.
- Các quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014 và các văn bản pháp luật
hướng dẫn thi hành về thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự nói chung và vụ án
về đất đai nói riêng.
- Các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về đường lối giải
quyết các vụ việc dân sự nói chung và giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng.
- Các văn bản của TAND tỉnh Lạng Sơn hướng dẫn nghiệp vụ về đường lối
giải quyết các vụ việc dân sự nói chung và giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng.
- Một số vụ án tranh chấp đất đai cụ thể được giải quyết bởi TAND tỉnh
Lạng Sơn.
- Các báo cáo tổng kết thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp đất đai tại
TAND tỉnh Lạng Sơn trong những năm gần đây.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật học, luận văn giới hạn
Một là, ý nghĩa khoa học. Luận văn tập hợp, hệ thống hóa và góp phần hoàn
thiện cơ sở lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và vai trò của TAND
trong giải quyết tranh chấp đất đai thông qua việc làm rõ hơn các khái niệm về giải
quyết tranh chấp đất đai, pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai. Khái quát các
vấn đề về nguyên tắc, nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và thực
tiễn áp dụng tại TAND tỉnh Lạng Sơn. Phân tích một cách có hệ thống nội dung các
quy định hiện hành về giải quyết tranh chấp đất đai và thực tiễn áp dụng tại TAND
tỉnh Lạng Sơn. Từ các vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng chế định pháp luật này
và thực tiễn áp dụng, luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết
tranh chấp đất đai và nâng cao hiệu quả áp dụng tại TAND tỉnh Lạng Sơn
8
Hai là, ý nghĩa thực tiễn. Luận văn cung cấp kiến thức cho các cán bộ thực
thi pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai, cho đội ngũ các Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân, luật sư, bào chữa viên… và bản thân tác giả góp phần nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai một cách chính xác. Bên cạnh đó,
luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu
khoa học tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
và vai trò của Tòa án nhân dân trong giải quyết tranh chấp đất đai.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và thực
tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
và nâng cao hiệu quả áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
3
. Khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2013.
4
. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Đất đai, NxbTư pháp, Hà Nội, tr. 455.
1
2
10
Theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng: "Tranh chấp đất đai: tranh chấp
phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ
trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai"5 v.v...
Như vậy các học giả nước ta quan niệm tranh chấp đất đai là những bất
đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ SDĐ trong quá trình SDĐ giữa những người
SDĐ với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác. Ví dụ: tranh chấp đất đai
giữa ông A và bà B về ranh giới quyền sử dụng đất (QSDĐ) giữa hai thửa đất liền
kề. Tuy nhiên, có hai điểm cần làm rõ trong khái niệm tranh chấp đất đai; đó là:
Thứ nhất, tranh chấp đất đai được nhận thức ở đây không chỉ trong quá
trình SDĐ mà còn bao gồm cả quá trình quản lí đất đai. Việc nhận thức như vậy là
hoàn toàn phù hợp với xu hướng Nhà nước đang ngày càng mở rộng quyền cho
người SDĐ và các cơ quan nhà nước được giao quản lý đất đai nếu không tuân thủ
pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của người SDĐ cũng có thể bị người
SDĐ khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại chứ không còn đơn thuần là mệnh lệnh
hành chính một chiều.
Thứ hai, cần làm rõ tranh chấp đất đai ở nước ta chính là tranh chấp về
QSDĐ hay bao gồm cả tranh chấp QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến QSDĐ?
Về nội dung này, trong khoa học pháp lí tồn tại hai quan điểm như sau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, tranh chấp đất đai chỉ là tranh chấp về
QSDĐ. Theo đó, tranh chấp đất đai không xác định được là tranh chấp tổng thể các
quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ đơn lẻ của người
- Quan điểm thứ hai cho rằng, tranh chấp đất đai bao gồm cả tranh chấp
QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến QSDĐ; bởi lẽ, trước khi Luật đất đai năm
2003 được ban hành và có hiệu lực thi hành thì khái niệm tranh chấp đất đai hầu
như chưa được đề cập một cách chính thống và giải thích cụ thể. Mặc dù vậy, tranh
chấp đất đai trong xã hội được pháp luật ghi nhận và quy định việc giải quyết. Luật
đất đai năm 2003 lần đầu tiên giải thích khái niệm tranh chấp đất đai. Kế thừa quy
định này, khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 giải thích: "Tranh chấp đất đai là
tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên
trong quan hệ đất đai". Vậy, đối tượng tranh chấp là quyền và nghĩa vụ của người
SDĐ. Nghĩa là, bao gồm cả tranh chấp QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến
. Lưu Quốc Thái (2006), Bàn về khái niệm tranh chấp đất đai trong Luật Đất đai 2003, Tạp chí
Khoa học pháp luật, số 2(33).
6
12
QSDĐ. Mặt khác, xem xét ở góc độ thực tiễn xét xử, ngành tòa án ở nước ta vẫn
thống kê các tranh chấp liên quan đến QSDĐ vào mục tranh chấp đất đai nói chung.
Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC
ngày 03/01/2002 của TANDTC, Tổng cục địa chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan
đến QSDĐ sử dụng thuật ngữ khác là "các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng
đất" thuộc thẩm quyền của Toà án. Theo đó các tranh chấp liên quan đến QSDĐ
thuộc thẩm quyền của Toà án bao gồm: i) Tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ;
ii) Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ
và thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ; iii) Thừa kế QSDĐ; iv) Tranh chấp về tài sản gắn
liền với việc SDĐ. Vậy, thuật ngữ "các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất"
là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng, bao gồm cả tranh chấp về QSDĐ và tài sản
gắn liền với đất. Theo suy luận logic thì tranh chấp về QSDĐ sẽ bao gồm ba loại:
tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ (thực chất là tranh chấp QSDĐ hay cụ thể
đoàn kết toàn dân và thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối…
1.1.4. Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến
Ngày 18/12/1980, Hiến pháp 1980 ra đời quy định: "Đất đai... là của Nhà
nước thuộc sở hữu toàn dân" (Điều 19). Kể từ đây, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu
duy nhất đối với toàn bộ vốn đất đai trong cả nước. Do đó, các tranh chấp đất đai
chỉ bao hàm tranh chấp về QSDĐ và quyền quản lý đất đai. Trên thực tế tồn tại một
số dạng tranh chấp đất đai phổ biến sau đây:
Thứ nhất, tranh chấp hợp đồng chuyển QSDĐ (tặng cho, chuyển nhượng,
chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ) giữa
các bên tranh chấp khi thực hiê ên các giao dịch về đất đai. Loại tranh chấp này do
các bên thực hiện giao dịch khi chưa có đầy đủ điều kiện mà pháp luật cho phép;
thực hiện không đúng hoặc không thực hiện đầy đủ các điều khoản quy định trong
hợp đồng; không tuân thủ các quy định của pháp luật trong khi giao dịch. Hiê ên
nay đây là loại tranh chấp phổ biến và chiếm số lượng nhiều nhất, mức đô ê phức
tạp lớn nhất.
Thứ hai, tranh chấp về ranh giới giữa những thửa đất được phép quản lý và
sử dụng. Loại tranh chấp này thường do các bên SDĐ không thoả thuâ ên được ranh
giới đất đai với nhau hoă êc là do mô êt bên tự ý thay đổi ranh giới trong quá trình
SDĐ được chuyển nhượng cho nhiều người; cho thuê, cho thuê lại, cũng có thể là
do sai sót từ phía cơ quan nhà nước trong quá trình đo đạc, cấp giấy chứng nhâ ên
quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ).
16
Thứ ba, tranh chấp quyền SDĐ trong quan hê ê thừa kế. Loại tranh chấp này
phát sinh trong trường hợp người có quyền SDĐ chết nhưng không để lại di chúc
hoă êc có để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp mô êt phần hay toàn bô ê mà
các đồng thừa kế không thoả thuâ ên được với nhau về việc phân chia di sản thừa kế
nên khởi kiê nê ra toà. Loại tranh chấp này có trường hợp có tài sản gắn liền với đất,
có trường hợp trên đất tranh chấp không có tài sản.
điều kiện đứng tên trong GCNQSDĐ và yêu cầu người đứng tên hộ trả lại thì họ
không chịu trả nên đã khởi kiện để đòi lại đất của mình.
Bốn là, tranh chấp liên quan đến viê êc tă êng choQSDĐ. Trong giao dịch tặng
cho, nhất là tặng cho nhà đất, thường người tặng cho có điều kiện đi kèm. Song
song với việc nhận nhà đất thì người được tặng cho phải thực hiện một nghĩa vụ
nhất định nào đó, ví dụ như nuôi dưỡng cha mẹ cho đến khi chết. Hoặc cha mẹ tặng
cho con đất khi lập gia đình với mong muốn vợ chồng con chung sống hòa thuận,
hạnh phúc. Loại tranh chấp này thường phát sinh khi người được tặng cho không
thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với người tặng cho,
nên người tặng cho kiện đòi lại đất. Hoặc khi vợ chồng con ly hôn, cha mẹ không
cho nữa mà đòi lại đất đã cho.
Năm là, tranh chấp đất đai trong trường hợp đòi lại đất cho mượn, cho ở
nhờ. Loại tranh chấp này phát sinh trong trường hợp trước đây người có QSDĐ đã
cho mượn, cho thuê nhà đất, cho ở nhờ, nay những người mượn, thuê, ở nhờ không
chịu trả lại đất.
Sáu là, tranh chấp đòi lại QSDĐ có tài sản gắn liền trên đất của dòng họ,
nhà thờ, thánh thất, chùa chiền. Do hoàn cảnh đất nước, do yếu tố lịch sử để lại, các
cơ sở này được Nhà nước mượn, trưng dụng đất vào các mục đích khác nhau không
trả, nay họ đòi lại đất đã cho mượn.
Thứ sáu, tranh chấp về địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính cấp
tỉnh, huyê ên, xã với nhau. Đây thường là những tranh chấp diễn ra ở các khu vực có
vị trí thuâ ên lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhưng lại chưa có sự phân chia địa giới
hành chính rõ ràng giữa các cấp đơn vị hành chính tỉnh, huyện, xã.
Thứ bảy, tranh chấp do viê êc thực hiê ên QSDĐ bị cản trở. Loại tranh chấp
này phát sinh khi mô êt bên được Nhà nước công nhâ ên QSDĐ nhưng lại không thể
sử dụng được do bị người khác cản trở.
18
Thứ tám, tranh chấp liên quan đến viê êc bồi thường, giải phóng mă êt bằng
19
nhằm xoá bỏ thành quả cách mạng về ruộng đất, gây ra những xáo trộn lớn về
quyền sở hữu ruộng đất của người nông dân. Sau khi thống nhất đất nước (tháng
4/1975), Nhà nước tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp cùng với việc xây dựng các
nông, lâm trường quốc doanh. Những tổ chức này bao chiếm nhiều diện tích đất
nhưng sử dụng lãng phí, kém hiệu quả. Đặc biệt qua hai lần điều chỉnh ruộng đất
vào các năm 1978 - 1979, năm 1982 - 1983; cùng với chính sách chia cấp theo kiểu
bình quân đã dẫn đến những xáo trộn lớn về ruộng đất, ranh giới, số lượng, mục
đích SDĐ dẫn đến tranh chấp đất đai.
Thứ hai, khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, để giải phóng mọi năng lực sản xuất của người lao động, Nhà
nước thực hiện giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn
định lâu dài (gọi chung là người SDĐ). Người SDĐ được chuyển QSDĐ trong thời
hạn giao đất, cho thuê đất. Đất đai từ chỗ không được thừa nhận có giá đã được
pháp luật xác định khung giá đất và được đem thế chấp hoặc góp vốn trong sản xuất kinh doanh… Người SDĐ ngày càng nhận thức được giá trị của đất đai. Điều này
cũng là một nguyên nhân khách quan làm nảy sinh tranh chấp đất đai.
1.1.5.2. Nguyên nhân chủ quan
Bên cạnh nguyên nhân khách quan, tranh chấp đất đai còn phát sinh từ các
nguyên nhân chủ quan chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, việc buông lỏng công tác thống nhất quản lý đất đai của Nhà
nước trong một thời gian dài.
Trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, Nhà nước phân công,
phân cấp cho quá nhiều bộ, ngành dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ và còn
nhiều sơ hở. Có thời kỳ, đất nông nghiệp do ngành nông nghiệp quản lý; đất lâm
nghiệp do ngành lâm nghiệp quản lý; đất chuyên dùng thuộc ngành nào, ngành ấy
quản lý. Điều này dẫn đến tranh chấp giữa đất nông nghiệp với đất lâm nghiệp cũng
như với đất chuyên dùng; xảy ra tình trạng có loại đất do nhiều cơ quan quản lý
song cũng có loại đất không do cơ quan nào quản lý.