Đánh giá kết quả điều trị ung thư lưỡi giai đoạn t1 2n1m0 bằng phẫu thuật kết hợp hóa xạ trị đồng thời - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư lưỡi (UTL) là ung thư thường gặp nhất trong các ung thư vùng
khoang miệng, chiếm tỷ lệ 30-40%. Theo GLOBOCAN 2012, trên toàn thế
giới hằng năm có khoảng 263.900 trường hợp ung thư lưỡi mới mắc và
khoảng 128.000 trường hợp tử vong [1]. Theo ghi nhận tại Việt Nam năm
2010 cho thấy hàng năm có khoảng 3500 trường hợp ung thư khoang miệng
mới mắc, trong đó tỷ lệ mắc ung thư khoang miệng ở nam là 4,6/100000
dân/năm, ở nữ là 1,7/100000 dân/năm [2]. UTL thường gặp ở lứa tuổi từ 5060, nam gặp nhiều hơn nữ, tỷ lệ nam/nữ =3/1 [3].
Ung thư lưỡi được phát hiện bằng nhiều hình ảnh lâm sàng khác
nhau và có thể nhầm lẫn với các tổn thương lành tính của lưỡi. Mặc dù
UTL giai đoạn sớm có tiên lượng tương đối tốt, tuy nhiên có một số yếu tố
nguy cơ có thể làm ảnh hưởng xấu đến tiên lượng bệnh như kích thước u,
mức độ ác tính của khối u, tình trạng di căn hạch tiềm ẩn, tổn thương xâm
lấn…[4],[5],[6].
Đối với ung thư lưỡi giai đoạn sớm có chỉ định phẫu thuật đơn thuần
hoặc kết hợp điều trị bổ trợ sau mổ đem lại kết quả khả quan. Tỷ lệ sống
thêm 5 năm của bệnh nhân UTL giai đoạn I là 79,9% và giai đoạn II là 58%.
Tỷ lệ tái phát hạch của giai đoạn I là 29,8% và của giai đoạn II là 13,3% [7].
Tiên lượng của UTL tái phát thường rất xấu và gây khó khăn cho việc điều
trị cũng như làm giảm thời gian sống thêm của bệnh nhân. Chính vì vậy,
ung thư lưỡi giai đoạn sớm đã và đang là chủ đề được tập trung nghiên cứu
của nhiều tác giả trên thế giới để tìm ra những phương án điều trị thích
hợp, làm giảm tỷ lệ tái phát và tử vong.
Tại bệnh viện K việc điều trị bổ trợ sau phẫu thuật ung thư lưỡi giai đoạn
sớm phụ thuộc vào các đặc điểm tổn thương u trong mổ và kết quả mô bệnh
học. Mặt khác, hiện chưa có ghi nhận ở Việt Nam các nghiên cứu về ung


2

nang bạch huyết nằm dưới niêm mạc. Những nang này tập trung tạo thành
hạnh nhân lưỡi.
- Mặt dưới lưỡi: nhẵn, không có nhú và dính với nền miệng bởi một
nếp niêm mạc ở đường giữa, gọi là hãm lưỡi.
1.2. Cấu tạo của lưỡi
Lưỡi được cấu tạo bởi một khung xương sợi và các cơ vân, phủ bằng
một lớp niêm mạc.
- Khung xương sợi của lưỡi gồm xương móng và hai màng sợi (cân
lưỡi và vách lưỡi).


4

+ Cân lưỡi: nằm theo mặt phẳng đứng ngang, cao 1 cm, đi từ bờ trên
xương móng lên trên và lẫn vào rễ lưỡi.
+ Vách lưỡi: nằm theo mặt phẳng đứng dọc, hình liềm, dính vào chính
giữa mặt trước cân lưỡi. Vách lưỡi ngăn cách các cơ của lưỡi thành hai nhóm:
phải và trái.
- Các cơ của lưỡi: bao gồm các cơ nội tại (cơ phát sinh và tận hết ngay
trong lưỡi) và các cơ ngoại lai (đi từ phần lân cận tới tận hết ở lưỡi). Hầu hết
các cơ của lưỡi là các cơ đôi.
+ Các cơ nội tại: cơ dọc trên, cơ dọc dưới, cơ ngang lưỡi, cơ đứng lưỡi.
+ Các cơ ngoại lai: cơ cằm lưỡi, cơ móng lưỡi, cơ sụn lưỡi, cơ trâm lưỡi.
1.3. Mạch máu và thần kinh của lưỡi
* Mạch máu:
- Động mạch: là động mạch lưỡi, nhánh của động mạch cảnh ngoài.
Động mạch này chia làm hai ngành chính: các nhánh lưng lưỡi và động mạch
lưỡi sâu.
- Tĩnh mạch: máu từ lưỡi theo các tĩnh mạch lưng lưỡi và tĩnh mạch
lưỡi sâu đổ vào tĩnh mạch lưỡi rồi đổ vào tĩnh mạch mặt trước khi về tĩnh

bên đối diện. Nhưng ở 2/3 trước lưỡi có ít mạch tiếp nối ngang nên ít di căn
sang hạch cổ bên đối diện nếu bệnh chưa đến giai đoạn muộn [8], [9].
- Hạch bạch huyết vùng cổ có khoảng 300 hạch và chúng có thể được
phân loại theo nhiều cách khác nhau [11][12]. Henri Rouvière đề ra một phân


6

loại có tầm ảnh hưởng lớn vào năm 1938, tuy nhiên, hệ thống này dựa trên
các mốc giải phẫu tìm thấy trong phẫu thuật, làm cho nó không thực sự phù
hợp với yêu cầu của bác sỹ khác. Gần đây, hệ thống phân loại được đề xuất
dựa trên tổ chức xung quanh có thể quan sát được thông qua chẩn đoán hình
ảnh. Hệ thống phân loại thường được sử dụng dựa vào phát minh bởi Hiệp hội
ung thư Hoa Kỳ. Hiện nay, hệ thống được sử dụng nhiều nhất để phân chia
các hạch như sau.
Sự phân chia các vùng hạch rất quan trọng đối với ung thư đầu cổ, là cơ
sở cho việc điều trị và nạo vét hạch [9], [11], [12].

Hình.2: Các nhóm hạch cổ [11]
(Trích trong" Neck dissection classification update"của Robbins KT, Clayman
G, Levine PA)
IA. Nhóm dưới cằm
Các hạch nằm trong vùng giới hạn của bụng trước cơ nhị thân và xương móng
IB. Nhóm dưới hàm
Các hạch nằm trong vùng giữa bụng trước, bụng sau cơ nhị thân và
thân xương hàm dưới.


7


Theo ghi nhận ung thư của Bệnh viện K Hà nội năm 1995-1996: tỷ lệ
mắc ung thư khoang miệng ở nam là 2,9/100.000 dân/ năm, ở nữ 2,7/100.000
dân/ năm [13]. Ghi nhận ung thư giai đoạn 2001 – 2004 ở 5 tỉnh thành cho
thấy tỷ lệ mắc ung thư khoang miệng ở nam là 4,0/100.000 dân/ năm, ở nữ là
2,7/100.000 dân/ năm. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi UTL ở khu vực Hà Nội là
1,9/100.000 dân, đứng thứ 14; Hải Phòng 2,0/100.000 dân, đứng thứ 9; Thái
Nguyên 0,7/100.000 dân, đứng thứ 16; Thừa Thiên Huế 1,6/100.000 dân; Cần
Thơ 1,3/100.000 dân, đứng thứ 16 [14].
Ung thư lưỡi thường gặp ở lứa tuổi từ 50-60, nam gặp nhiều hơn nữ, tỷ
lệ nam/nữ =3/1 [1].
Theo thống kê của Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ, trên toàn thế giới hàng
năm có khoảng 263900 ca mới mắc và khoảng 128000 trường hợp tử vong
[11]. Tại Mỹ, năm 2009 có 10530 trường hợp ung thư mới mắc, 1900 trường
hợp tử vong và tỷ lệ nam/nữ=2/1.
1.6. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây bệnh
Ở hầu hết các trường hợp ung thư lưỡi không tìm được nguyên nhân
bệnh sinh, tuy nhiên người ta thấy rằng có một số yếu tố nguy cơ liên quan
đến bệnh bao gồm :
- Hút thuốc lá: Nghiên cứu của Gehanno cho thấy nếu hút 15 điếu /
ngày kéo dài 20 năm, nguy cơ mắc bệnh ung thư cao gấp 5 lần so với người
không hút [15].
- Rượu: Theo Brian nếu hút thuốc và uống rượu thì nguy cơ mắc ung
thư đầu mặt cổ tăng lên 10-15 lần [15].
- Nhai trầu: Là yếu tố nguy cơ trong ung thư khoang miệng. Người nhai
trầu có nguy cơ mắc cao gấp 4-35 lần so với người không nhai trầu [15].


9

- Tình trạng vệ sinh răng miệng: vệ sinh răng miệng kém, hàm răng giả

1.7. Triệu chứng lâm sàng:
1.7.1.1. Giai đoạn đầu: [20], [21]
Triệu chứng nghèo nàn hay bị bỏ qua
- Cơ năng: thường người bệnh có cảm giác như có dị vật hoặc xương cá
cắm vào lưỡi, rất khó chịu nhưng qua đi nhanh.
- Thực thể
Khám lưỡi: tìm thấy ở lưỡi có một điểm nổi phồng với sự thay đổi màu
sắc, niêm mạc trắng, xơ hoá hoặc tổn thương là vết loét nhỏ. Sờ thấy tổn
thương chắc, rắn, không mềm mại như bình thường.
Khám hạch: xuất hiện sớm, khoảng 50% bệnh nhân có hạch ngay từ
đầu. Hạch hay gặp là hạch dưới cằm, dưới hàm, cảnh cao. Khả năng di căn
hạch vùng từ 15%-75% tuỳ thuộc vào độ xâm lấn của u nguyên phát. Hạch
nhóm I có tần xuất bị di căn cao, sau đó đến nhóm II, III, IV.
- Ba loại thương tổn ở giai đoạn sớm mà có thể chữa khỏi bằng PT hoặc XT:
 Thể nhú sùi: tạo thành thương tổn hình đồng xu, màu ghi hồng, sờ
vào thấy mềm và không thâm nhiễm
 Thể nhân: tạo thành một nhân nhỏ cứng, nằm dính dưới niêm mạc,
niêm mạc hơi bị đội lên, đôi khi mất nhẵn bóng hoặc vỡ ra
 Thể loét: là một đám loét rất nông khó nhận thấy, giới hạn không
rõ, được bao bọc bởi một vùng đỏ xung huyết, tổn thương này
thường đau và không thâm nhiễm
1.8. Giai đoạn toàn phát
Giai đoạn toàn phát được phát hiện do đau khi ăn uống, đau kéo dài
gây khó khăn khi nói, nuốt [20], [22].
- Toàn thân: sốt do nhiễm trùng, không ăn được nên cơ thể suy sụp rất
nhanh.


11


- Vị trí và hình thái tổn thương hay gặp: [18], [23]
+ Vị trí: 80% gặp ở bờ tự do của lưỡi,10% gặp ở mặt dưới lưỡi, 8% gặp
ở mặt trên lưỡi, 2% gặp ở đầu lưỡi.
+ Hình thái tổn thương: sùi, loét, thâm nhiễm hoặc kết hợp.
- Một loạt các thay đổi bệnh lý từ tổn thương tiền ung đến ung thư có
thể xảy ra. Trong số các tổn thương tiền ung bao gồm: bạch sản (leukoplakia),
hồng sản (erythroplakia), và loạn sản [24].
1.9. Cận lâm sàng
1.9.1. Tế bào học và mô bệnh học
- Chọc hút kim nhỏ:
Chọc hút hạch bất thường ở cổ bằng kim nhỏ để tìm tế bào ác tính tại
hạch hoặc tìm tế bào ác tính tại tổn thương ở lưỡi bằng áp lam
- Mô bệnh học:
Chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học qua mảnh sinh thiết tại u trước
khi điều trị. Đa số các trường hợp là dạng UT biểu mô vảy (chiếm tỷ lệ 95%99%), còn lại 1-5% là UT biểu mô tuyến hoặc tuyến nang, UT dạng biểu bì
nhầy, u lympho không hodgkin, u hắc tố [18], [21], [23].
UT biểu mô vảy có thay đổi lớn về sự biệt hoá, khi biệt hoá tốt có sự
hình thành các ổ tế bào (cầu biểu mô hay cầu sừng), đó là những nhóm tế bào
do sự biệt hoá tạo ra các vòng xoáy ở trung tâm của các lá sừng, vây quanh
chúng là các tế bào hình đậu. Những u kém biệt hoá hơn có chứa các nhóm tế
bào hình đậu không có sừng hoá rõ rệt được xếp vào loại biệt hoá trung gian.
Các u ít biệt hoá ít hình thành tế bào hình đậu hoặc sản sinh keratin
Broders đã tìm ra một phương pháp hợp lý để đánh giá khả năng phát
triển của ung thư theo 4 độ ác tính:
 Độ I: U có xu hướng biệt hoá với 75% hoặc hơn nữa tế bào biệt
hoá.


13



đường kính hoặc có hoại tử trung tâm trong hạch. Hạn chế của CT scan là khó
phát hiện các hạch có kích thước giáp ranh, các hạch không hoại tử, hoặc lan
tràn vỏ hạch. Và cũng có thể không phân biệt bằng CT scan các hạch phản
ứng hay hạch bình thường. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, đặc biệt với
các trường hợp di căn hạch cổ kích thước dưới 10 mm hoặc các hạch di căn ẩn
[25], [26].
* Chụp cộng hưởng từ
• Khối u nguyên phát: trong nhiều trường hợp, CT và MRI cung cấp
thông tin bổ sung lẫn nhau. So với CT, MRI cung cấp các tổn thương mô mềm
tốt hơn rõ rệt. MRI cũng tốt hơn so với CT để phân biệt khối u dưới niêm và
trong việc phát hiện xâm lấn xương. Mặt khác, CT scan tốt hơn so với MRI để
phát hiện xâm lấn vỏ xương vì MRI không cho biết các tổn thương xương chi
tiết [27], [28], [29], [30].
• Hạch vùng: trong phần lớn các nghiên cứu, CT scan tốt hơn so với
MRI để phát hiện di căn hạch vùng. Độ nhạy được báo cáo của MRI thấp,
khoảng 57-67% [28], [29], [31].
1.9.3. Siêu âm
- Siêu âm ổ bụng: phát hiện tổn thương di căn gan, các vị trí khác trong
ổ bụng
- Siêu âm hạch cổ: phát hiện di căn hạch mà lâm sàng không thấy.
1.9.4. Xạ hình toàn thân
Phát hiện di căn xa
1.9.5. Các xét nghiệmkhác:
Công thức máu, sinh hoá máu, nhóm máu,... để đánh giá bilan và tác dụng
phụ của hoá chất [20].


15


2.2. Chẩn đoán phân biệt
Viêm loét lưỡi do chấn thương, chứng viêm miệng - lưỡi nhiều ổ, loét lưỡi
do lao, giang mai, tổn thương thâm nhiễm trong bệnh nấm actinomyces [36].
2.3. Chẩn đoán giai đoạn
* Phân loại TNM:
Theo hiệp hội quốc tế chống ung thư (UICC) năm 2010, ung thư lưỡi
được phân loại như sau [37].
T: u nguyên phát
- Tx: không đánh giá được u nguyên phát.
- To: không có u nguyên phát.
- Tis: ung thư biểu mô tại chỗ.
- T1: đường kính u  2 cm.
- T2: 2cm < đường kính u  4 cm.
- T3: đường kính u > 4 cm.
- T4a : Khối u xâm lấn vỏ xương hàm dưới, các cơ sâu của lưỡi( cơ
móng lưỡi, cơ dưới lưỡi, cơ khẩu cái lưỡi và cơ trâm lưỡi), xoang
hàm hoặc da mặt.
- T4b : Khối u xâm lấn khoang cơ nhai, chân bướm, nền sọ, động
mạch cảnh trong.
N: hạch vùng
- Nx: không đánh giá được hạch vùng.
- No: không di căn hạch vùng.
- N1: di căn một hạch duy nhất cùng bên đường kính  3 cm.
- N2:

N2a: 3 cm < di căn một hạch duy nhất cùng bên đường kính  6

cm.
N2b: di căn nhiều hạch cùng bên đường kính  6 cm .


độc và mô bệnh học khác u nguyên phát ở đầu – cổ.


18

4.1.1. Thời gian xuất hiện
Ung thư nguyên phát thứ hai có liên quan về mặt thời gian so với u ban
đầu. Ung thư nguyên phát thứ hai không đồng thời được chẩn đoán 6 tháng
sau u đầu tiên, trong khi ung thư nguyên phát thứ hai đồng thời được phát
hiện trong vòng 6 tháng sau u đầu tiên.
Ung thư nguyên phát thứ hai có thể được chẩn đoán cùng lúc trong khi
chẩn đoán u đầu tiên. Khi hai khối u được chẩn đoán cùng lúc, khối u được
chẩn đoán trước thường được xác định là u đầu tiên. Hai ung thư cùng lúc yêu
cầu chiến lược điều trị đồng thời cẩn thận vì tỷ lệ sống thêm thấp.
4.1.2. Dịch tễ và yếu tố nguy cơ
4.1.2.1. Tỷ lệ mắc
Nguy cơ ung thư nguyên phát thứ hai với bệnh nhân ung thư biểu mô tế
bào vảy tăng lên đáng kể so với cộng đồng cùng lứa tuổi. Hơn nữa, nguy cơ
tăng này phần lớn hạn chế ở đường hô hấp – tiêu hóa và duy trì theo thời gian
sau tổn thương ban đầu.
Hai nghiên cứu lớn đồng thời công bố chi tiết tầm quan trọng và chi tiết
của tỷ lệ nguy cơ:
- Một phân tích của 13 trung tâm ung thư ở châu Âu, Á, Úc và Canada
cung cấp dữ liệu trên 99,000 bệnh nhân và theo dõi xấp xỉ 490,000
người trên năm. Thống kê dữ liệu, 10,826 ung thư nguyên phát thứ hai
được xác định:
- Nguy cơ tích lũy 20 năm của ung thư nguyên phát thứ hai là 36% và tỷ
lệ mắc chuẩn (SIR) so với cộng đồng là 1.86.
- Ung thư nguyên phát thứ hai hay gặp nhất là ung thư phổi (nguy cơ tích
lũy 20 năm là 13%, SIR: 3.3)

4.1.2.2. Yếu tố nguy cơ
Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển một hoặc nhiều ung
thư khác ở vùng đầu cổ hoặc vị trí khác:
- Tiếp xúc với thuốc lá và rượu là yếu tố nguy cơ đã được biết rõ phát
triển ung thư vùng đầu cổ và là yếu tố đầu tiên liên quan với tần suất
tăng của ung thư nguyên phát thứ hai. Các tác nhân này được cho là


20

đóng góp vào sự thay đổi biểu mô và sự sử dụng liên tục liên quan với
tăng nguy cơ của ung thư thứ hai. Ngừng hút thuốc dường như là giảm
nguy cơ ung thư thứ hai sau khi chẩn đoán ung thư đầu – cổ, mặc dù lợi
ích chưa được xác định rõ ràng.
- Nhiều nghiên cứu lớn quan sát thấy nguy cơ ung thư nguyên phát thứ
hai tăng ở bệnh nhân ung thư đầu – cổ chẩn đoán ở độ tuổi tương đối
sớm và nguy cơ này giảm khi càng lớn tuổi.
- Vai trò của xạ trị trước đó là phức tạp. Điều trị trước đó đối với ung thư
đầu – cổ sử dụng xạ ngoài thường làm giảm tỷ lệ ung thư nguyên phát
thứ hai trong trường chiếu xạ. Quan sát này được giải thích là do việc
điều trị các tổn thương tiền ung thư và ung thư thứ hai tiềm ẩn. Trong
nghiên cứu dữ liệu SEER trên 27,985 bệnh nhân, tỷ lệ ung thư nguyên
phát thứ hai vùng đầu – cổ giảm đáng kể khi điều trị với xạ trị so với
nhóm được phẫu thuật (7.7% so với 10.5% tại thời điểm 15 năm). Tuy
nhiên, sự tiếp xúc với xạ trị có thể liên quan với các ung thư khác, như
ung thư tuyến giáp ở một số bệnh nhân. Các yếu tố khác liên quan đến
tăng nguy cơ ung thư nguyên phát thứ hai bao gồm vệ sinh răng miệng
kém, yếu tố miễn dịch và yếu tố gen.
4.1.3. Chẩn đoán
Đánh giá ban đầu với bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy đầu – cổ

- Vét hạch chức năng: giữ lại một hoặc nhiều cấu trúc mà trong vét hạch
triệt căn phá huỷ, đồng thời vẫn lấy được các vùng hạch. Hạn chế một cách tối đa
việc cắt bỏ tĩnh mạch cảnh trong, cơ ức đòn chũm, dây thần kinh IX
- Vét hạch chọn lọc: chỉ quan tâm đến việc vét một hoặc vài nhóm hạch.
* Chỉ định:
- Đối với hạch không sờ thấy trên lâm sàng: chỉ cần vét hạch chọn lọc
là đủ (vét hạch nhóm I, II, III vì tỷ lệ di căn thường gặp ở nhóm I và II).


22

- Đối với hạch sờ thấy trên lâm sàng:
+ Kích thước hạch ≤ 3 cm thì vét hạch cổ chức năng.
+ Kích thước hạch > 3 cm thì vét hạch cổ triệt căn vì người ta thấy rằng
trong trường hợp này khoảng 80% hạch đã bị phá vỡ vỏ nên việc bóc tách vỏ
hạch ở tĩnh mạch cảnh trong hoặc thần kinh nhóm gai là nguy hiểm.
+ Hạch cố định, dính nhiều vào mô xung quanh không có khả năng PT
thì hoá trị hoặc xạ trị trước sau đó xét khả năng PT.
3.1.3. Phẫu thuật tái tạo
Phẫu thuật tái tạo đóng vai trò quan trọng trong sự hồi phục sau phẫu
thuật điều trị. Sự phát triển của nhiều phương pháp tái tạo mới ngay cả sau khi
cắt bỏ rộng ung thư đầu-cổ (dùng vạt từ ngực và cổ) đã cho phép cắt rộng hơn
bờ xung quanh ung thư và gia tăng tỷ lệ điều trị khỏi.
Phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong điều trị bệnh UTL với mục
đích điều trị triệt căn cần phải phẫu thuật rộng để lấy hết tổ chức ung thư đôi
khi sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh: ảnh hưởng đến thẩm
mỹ, chức năng nhai, nuốt, nói… của bệnh nhân [20], [23],
3.1.4. Biến chứng của phẫu thuật [39].
* Với u nguyên phát:
- Chảy máu

trên lâm sàng là 50 Gy. Khi hạch sờ thấy trên lâm sàng thì xạ trị dự phòng toàn
cổ 50 Gy, nâng liều tại vùng hạch sờ thấy trên lâm sàng đến 60 -70 Gy.
+ Xạ trị hậu phẫu
Tại u: khi phẫu thuật triệt căn liều xạ hậu phẫu trung bình 50 Gy; khi
phẫu thuật tiếp cận liều xạ trung bình 70 Gy. Phân liều 9 - 10 Gy tuần, 1,8 - 2
Gy ngày, 5 ngày/ tuần.
Tại hạch: xạ trị toàn hạch cổ 45-55Gy, nếu hạch đã phá vỡ vỏ thì nâng
liều từ 10-15Gy trên vùng hạch đã phá vỡ vỏ.
- Xạ trị áp sát


24

+ Xạ trị áp sát là kỹ thuật xạ trị đặc biệt với việc dùng các nguồn phát
xạ tới một khoảng cách ngắn và có độ suy giảm nhanh. Thường chỉ định điều
trị kết hợp xạ ngoài với xạ áp sát trong các trường hợp nhằm điều trị triệt để
hoặc các trường hợp mô bệnh học thuộc loại kém nhạy cảm với xạ trị hoặc
những trường hợp bệnh còn sót lại hoặc tái phát sau điều trị.
Nguồn phóng xạ thường đặt hoặc cắm vào các mô UT, các dạng hay
dùng như kim Radium 226, sợi Iridium 192.
+ Trước khi tiến hành xạ áp sát, người ta chế tạo khuôn hàm răng để
bảo vệ hàm răng vùng tiếp giáp với các đường phát xạ.
Xạ trị đóng vai trò điều trị triệt căn hoặc bổ trợ trong điều trị bệnh
UTL, tuy nhiên cũng gây ra một số tác dụng phụ như khô miệng, viêm miệng,
sạm da, cháy da, loét da, khít hàm… [24], [40], [41].
3.3. Xạ trị kết hợp hóa chất phác đồ có nhóm platinium.
- Có ít nhất ba thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh lợi ích cải thiện
thời gian sống thêm toàn bộ hoặc không bệnh của sự kết hợp hóa chất phác đồ
có platinium và tia xạ so với tia xạ đơn thuần.
+ Nghiên cứu EORTC gồm 334 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy

Một số phác đồ hoá chất dùng trong điều trị UT đầu mặt cổ: [44] .
- Phác đồ CF:
Cisplatin

100 mg/ m2, TM, ngày 1.

5-Fluorouacil 1000 mg/m2, TM, ngày 2-5, chu kỳ 28 ngày.
- Phác đồ TCF:
Docetaxel

75mg/m2 hoặc Paclitaxel

Cisplatin

75 mg/ m2, TM, ngày 2.

175mg/m2 , TM, ngày 1.

5-Fluorouacil 750 mg/m2, TM, ngày 3-6, chu kỳ 28 ngày.
- Phác đồ PFL:
Cisplatin

100mg/m2 , TM, ngày 1.

5-Fu

800mg/m2/ngày, TM, ngày 1.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status