SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VẬN DỤNG TRÒ CHƠI TRONG
DẠY HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC
SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN NGA SƠN
Người thực hiện: Thịnh Thị Luyến
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thị Trấn Nga Sơn
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2019
MỤC LỤC
Trang
1. Mở đầu
2
1.1. Lí do chọn đề tài.
2
1.2. Mục đích nghiên cứu.
3
trở lên.
5
18
19
19
20
1. Mở đầu:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đang trên con đường hội nhập và phát triển. Cuộc sống vật
chất và tinh thần của người dân ngày một nâng cao. Hiện tại hầu hết các gia đình
đều có các loại máy móc phục phụ cho các nhu cầu sinh hoạt cuộc sống hàng
ngày cũng như nhu cầu vui chơi giải trí như: máy giặt, tủ lạnh, ti vi, điện thoại,
máy tính,… Nhiều gia đình đã mua sắm và thưởng cho con mình các trò chơi
hiện đại, đắt tiền. Các em được tiếp xúc với các máy móc trong gia đình ngày
nay là rất sớm, có nhiều em chưa đi học đã biết sử dụng thành thạo ti vi, điện
thoại,… Điều này đã giúp cho các em tăng tính tò mò khám phá cái mới lạ, tạo
cho các em tăng tính tư duy. Nhưng cũng chính vì sự tập trung vào khám phá và
vui chơi với các đồ dùng sẵn có nên lớp trẻ ngày nay đang có biểu hiện lười đọc
và viết. Qua thời gian giảng dạy và chấm bài kiểm tra định kì của học sinh các
lớp. Nhiều em học sinh khối lớp 4, lớp 5 nhưng vốn từ của các em còn nghèo
nàn, cách dùng từ đặt câu chưa phù hợp.
Môn Tiếng Việt có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học tập
cũng như giao tiếp của các em. Môn Tiếng Việt giúp các em có các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết; phục phụ cho việc học và giao tiếp; môn Tiếng Việt còn
cung cấp cho các em vốn từ ngữ phong phú để các em sử dụng. Phân môn
Luyện từ và câu (LTVC) là phân môn đóng vai trò quan trọng đối với việc phát
triển ngôn ngữ của học sinh nói chung và đối với học sinh lớp 2 nói riêng, là
hứng thú học tập cho học sinh, từ đó nâng cao chất lượng học tập phân môn
LTVC nói riêng, phân môn Tiếng Việt nói chung, giúp học sinh có khả năng sử
dụng Tiếng Việt như một công cụ giao tiếp, học tập.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực tế giảng dạy và học tập LTVC khối 2 trường tiểu học Thị
Trấn Nga Sơn.
- Nghiên cứu về các trò chơi, cách vận dụng các trò chơi trong dạy học
LTVC lớp 2
- Học sinh lớp 2D trường Tiểu học Thị Trấn.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Đọc các tài liệu liên quan đến đề tài: Sách hướng dẫn giảng dạy TV2, Tạp
chí giáo dục Tiểu học.
- Nghiên cứu chương trình TV lớp 2, tài liệu hướng dẫn về đổi mới nội
dung - phương pháp dạy học ở Tiểu học, Chương trình bồi dưỡng thường xuyên.
- Tài liệu hướng dẫn trò chơi Tiếng Việt lớp 2.
- Nghiên cứu tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng, nghị quyết số 29 của TW về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Dự giờ đồng nghiệp .
- Sinh hoạt chuyên môn
- Khảo sát chất lượng học sinh.
1.4.3. Phương pháp thực nghiệm:
- Tiến hành dạy thực nghiệm, đối chứng, trao đổi rút kinh nghiệm, đánh giá việc
vận dụng đổi mới nội dung - phương pháp dạy học vào lớp 2D trường Tiểu học Thị
Trấn
- Quan sát việc học tập LTVC của học sinh.
- Thống kê chất lượng thông qua bài khảo sát.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của việc dạy và học phân môn LTVC.
dụng trò chơi thì nội dung trò chơi phải gắn với mục tiêu bài học, luật chơi rõ
ràng đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, điều kiện - phương tiện tổ chức trò chơi
phong phú, chơi đúng lúc, đúng chỗ, đồng thời phải kích thích sự thi đua giành
phần thắng giữa các đội tham gia. [3]
2. 2. Thực trạng việc dạy và học của phân môn LTVC lớp 2:
2. 2.1. Việc dạy của giáo viên.
Trường Tiểu học Thị Trấn là trường luôn dẫn đầu về phong trào dạy tốt,
học tốt trong khối tiểu học của huyện Nga Sơn. Trường có đội ngũ giáo viên
vững về chuyên môn, nghiệp vụ, 100% giáo viên của nhà trường có trình độ trên
chuẩn. Đặc biệt, các đồng chí khối 2 rất tâm huyết với học sinh, luôn trăn trở tìm
ra phương pháp dạy học linh hoạt để lôi cuốn được học sinh vào học tập đạt kết
quả cao nhất.
3
Trong thực tế giảng dạy, qua thao giảng, kiến tập của giáo viên trong khối
2 (qua một số tiết LTVC) bản thân tôi và đồng nghiệp đã áp dụng một số phương
pháp dạy học tích cực vào dạy học như phương pháp trò chơi được coi trọng
nhưng vẫn còn một số tồn tại:
- Tài liệu nói về hình thức tổ chức trò chơi học tập còn hạn chế, một số tài
liệu có đưa ra các hình thức trò chơi phong phú song chưa sát thực, không mang
tính khả thi.
- Trò chơi chưa được chuẩn bị chu đáo, chưa phù hợp với đối tượng học
sinh (về thẩm mỹ và nội dung)
- Luật chơi chưa rõ ràng, rườm rà. Cách tổ chức trò chơi còn mang tính
hình thức
- Một số giáo viên lạm dụng sử dụng trò chơi nhiều, thời gian kéo dài
trong tiết học làm ảnh hưởng đến mạch kiến thức.
2. 2.2. Việc học của học sinh.
Trường tiểu học Thị Trấn là một trong những trường chuẩn quốc gia mức
Thích học và
làm bài đầy đủ
SL
%
6
21,4
Bình thường
SL
16
%
57,2
Không thích
SL
6
%
21,4
Với thực trạng trên, cùng với những băn khoăn, trăn trở của mình tôi mạnh
dạn tìm hiểu nội dung chương trình, tài liệu hướng dẫn, thực tế kinh nghiệm
giảng dạy trên lớp, trao đổi cùng đồng nghiệp để lựa chọn một số trò chơi cho
học sinh phù hợp với từng kiểu bài, từng tiết dạy, từng đối tượng học sinh trong
lớp nhằm tạo hứng thú học tập cho các em khi học LTVC , từ đó nâng cao chất
lượng môn Tiếng Việt nói riêng và chất lượng giáo dục nói riêng.
2. 3. Một số kinh nghiệm vận dụng trò chơi nhằm nâng cao giờ dạy LTVC:
Để gây hứng thú vào giờ dạy LTVC chính là việc giáo viên khơi dậy hứng
thú, niềm say mê học tập, tạo không khí sôi nổi cho một giờ học bằng việc áp
mới rút ra kiến thức trọng tâm của bài.
Chương trình LTVC lớp 2 gồm các tiết: Tuần 1,3,4,7,8,15,16.
b. Dạng bài mở rộng vốn từ :
Cơ sở của việc hệ thống hóa vốn từ là sự tồn tại của từ trong ý thức
con người, từ tồn tại trong đầu óc con người không phải là những yếu tố
rời rạc mà là một hệ thống. Chúng được sắp xếp theo một hệ thống liên
tưởng nhất định giữa các từ này với từ khác có một nét gì chung khiến ta
nhớ đến từ kia nên từ được tích lũy nhanh chóng hơn. Từ mới có thể được
sử dụng trong lời nói và khi sử dụng nhờ hệ thống liên tưởng, học sinh
nhanh chóng huy động lựa chọn từ phù hợp với yêu cầu giao tiếp.
Với mục đích tích lũy nhanh chóng vốn từ và tạo điều kiện để sử dụng
từ một cách dễ dàng, giáo viên đưa ra những từ theo một hệ thống và đồng
thời xây dựng một bài tập hệ thống hóa vốn từ trong dạy từ. Ở lớp 2, các
em được học từ theo chủ đề, cứ 2 tuần các em được học một chủ đề: từ ngữ
về các môn học, vè thời tiết,về cây cối, chim chóc...
Chương trình LTVC lớp 2 gồm các tiết: Tuần 2, 6, 7, 19, 20, 21, 22,
23, 24, 25, 26, 28, 29, 30, 31, 33, 34.
c. Dạng bài tích cực hóa vốn từ:
Dạng bài tập này không chỉ giúp học sinh nắm được nghĩa mà còn làm
rõ khả năng kết hợp từ. Những bài tập được sử dụng ở lớp 2 là bài tập điền
từ, bài tập đặt câu, bài tập tạo từ….
Chương trình LTVC lớp 2 gồm các tiết: Tuần 10,11,13,12,14,32,34.
d. Dạng bài khái niệm câu:
Quá trình hình thành khái niệm câu có thể chỉ ra theo các bước sau :
6
Đưa ngữ liệu và phân tích ngữ liệu với mục đích làm rõ những dấu
hiệu bản chất của khái niệm câu.
Khái quát hóa dấu hiệu thiết lập quan hệ giữa các dấu hiệu của khái
(nếu có)
Bước 3: Làm mẫu
Bước 4: Thực hiện trò chơi
Bước 4: Đánh giá - Nhận xét sau cuộc chơi.
Bước này bao gồm những việc làm sau:
7
- Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của
từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm.
+ Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng
cho đội đoạt giải.
+ Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện.
Nhiều giáo viên đã quan niệm trò chơi học tập chỉ để giải trí, thay đổi không
khí nên thường tổ chức qua loa, ngẫu hứng mà không thực hiện tuân thủ các bước
dẫn đến trò chơi không đảm bảo mục tiêu, học sinh không nắm rõ luật chơi, khi thực
hiện thì lúng túng, mất trật tự, trọng tài đánh giá không đúng…
2.3.3. Vận dụng các trò chơi vào trong từng dạng bài cụ thể:
Mỗi một dạng bài LTVC có mục tiêu riêng và cách khai thác riêng. Mỗi trò
chơi học tập có mục đích, vai trò và hiệu quả nhất định.
Việc lựa chọn các trò chơi học tập trong môn Luyện từ và câu phải đáp ứng
được mục tiêu của bài học. Các trò chơi phải đặt ra cho học sinh các nhiệm vụ
học tập tương ứng với nội dung dạy học. Mỗi trò chơi cần có một vị trí đóng góp
cụ thể trong tiến trình thực hiện mục đích dạy học. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu
dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 2, hệ thống các trò chơi phải được lựa
chọn sao cho đa dạng về chủ đề, phong phú về cách chơi. Dựa vào hình thức,
cách chơi và luật chơi của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh
hoạt dựa theo nội dung từng bài dạy mà giáo viên tổ chức trò chơi phù hợp với
đối tượng học sinh của mình. Để từ đó các em cảm thấy : “Mỗi ngày đến
+ Có biểu tượng về nghĩa của từ
- Chuẩn bị: + Tranh ảnh, đồ vật thật theo yêu cầu bài: 3 bộ
+ Thẻ ghi tên các tranh ảnh, đồ vật thật: 3 bộ.
- Cách chơi:
+ 2- 3 nhóm chơi/lần (mỗi nhóm 4 - 8 h/s tuỳ vào số lượng tranh ảnh có
trong bài).
+ Các tranh (ảnh, đồ vật) xếp thành 2- 3 nhóm
+ Luật chơi: Khi giáo viên nêu yêu cầu: Ghép nhanh tên cho các sự vật thì
h/s cùng tiếp sức thi đua gắn thẻ vào đồ vật (ảnh, tranh) tương ứng. Nếu nhóm
nào gắn đúng, nhanh nhất là nhóm thắng cuộc.
- Trò chơi được vận dụng ở các bài
Bài 1 (Tuần1 - trang 8). Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật, mỗi việc
được vẽ dưới đây:(học sinh, nhà, xe đạp, múa, trường, chạy, hoa hồng, cô giáo)
Mẫu 1: 1 trường học, 5 hoa hồng
Bài 1 (tuần 3 - trang 26). Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật,
cây cối …) được vẽ dưới đây.
Bài 1 (Tuần 17 trang 142). Chọn cho mỗi con vật dưới đây mỗi từ chỉ đúng
đặc điểm của nó: nhanh, chậm, khoẻ, trung thành.
Bài 1 (Tuần 22 - trang 35). Nói tên các loài chim trong những tranh sau:
(đại bàng, cú mèo, chim sẻ, sáo sậu, cò, chào mào, vẹt).
Bài 1 (Tuần 24 - trang 55). Chọn cho mỗi con vật trong tranh vẽ bên một từ
chỉ đúng đặc điểm của chúng: tò mò, nhút nhát, dữ tợn, tinh ranh, hiền lành,
nhanh nhẹn.
* Ví dụ: Khi dạy bài 1, tuần 3- Trang 26
- Chuẩn bị tranh ảnh ( đã tô màu) theo nội dung bài tập 1 ba bộ.
- Luật chơi: Giáo viên gắn 3 tranh đã chuẩn bị lên bảng và lớp đếm một,
hai, ba thì em thứ nhất của ba nhóm lên viết từ chỉ sự vật vào tranh ảnh phù hợp,
( Nếu em nào viết sai thì những bạn sau không được sửa lại), sau đó tiếp đến học
sinh thứ hai và đến khi hết thời gian quy định.
phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh.
10
- Cách chơi:
+ Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm (A - B) (h/s bằng nhau).
+ Sau khi giải thích nghĩa từ dùng để gọi tên chủ đề (giáo viên hoặc h/s giải
thích), giáo viên nên yêu cầu: Tìm nhanh các từ cùng chủ đề.
+ Luật chơi: Giáo viên chỉ định một học sinh ở nhóm A nói được từ theo
yêu cầu. Rồi h/s A1 chỉ 1 bạn bất kỳ B1, h/s B1 nói nhanh từ tìm được rồi chỉ
bất kỳ A2 nêu tiếp … Cứ như vậy cho tới hết lớp.
Trường hợp bạn bị chỉ định không nêu được từ theo yêu cầu hoặc nói từ
trùng lặp sẽ nói “chuyển” để bạn khác cùng nhóm (đứng cạnh, tiếp sức, mỗi lần
như vậy nhóm nào có h/s nói “chuyển” thì nhóm đó bị (trừ) 1 điểm phạt, nhóm
nào nhiều điểm phạt là nhóm bị thua.
b. Dạng bài mở rộng vốn từ :
Khi dạy kiểu bài mở rộng vốn từ, thông thường giáo viên hướng dẫn cho
học sinh làm từng bài tập rồi chữa bài, chốt kết quả và cuối cùng là học sinh
chữa bài vào vở bài tập. Với cách dạy này thì học sinh tìm được ít các câu thành
ngữ nói về các
con vật, tôi đã áp dụng trò chơi:
b.1.Thi tìm nhanh tục ngữ, thành ngữ về loài vật”.
Mục đích:
- Làm giàu vốn thành ngữ, tục ngữ có tên loài vật quen thuộc
cho học sinh.
- Giúp học sinh nắm vững đặc điểm của các con vật.
- Rèn trí nhớ, năng lực liên tưởng nhanh (nhìn tranh về loài vật nghĩ ngay
đến thành ngữ, tục ngữ có tên loài vật đó)
Chuẩn bị: Tranh ảnh các con vật (Cắt rời từng tranh nhỏ, mỗi tranh một
- Hót như khướu
- Học như cuốc kêu
- Nói như vẹt
- Hôi như cú …
- Không ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau;
- Gà què ăn quẩn cối xay; Chữ như gà bới…
Nhóm HS tham gia trò chơi: Thi tìm nhanh câu tục ngữ, thành ngữ về loài vật
*Trò chơi này có thể áp dụng dạy cho các tiết học LTVC tuần 22, 24.
Như vậy, cùng một dạng bài: mở rộng vốn từ, chúng ta có thể dụng bằng
nhiều phương pháp và hình thức tổ chức khác dạy học khác nhau. Người giáo
viên cần đọc kĩ nội dung bài dạy để lựa chọn các hình thức và các trò chơi cho
phù hợp với nội dung bài .
12
b.2. Trò chơi: “ Xếp từ theo nhóm”
* Mục đích:
- Nhận biết nghĩa của từ bằng cách tìm ra những điểm giống nhau của sự
vật mà từ gọi tên.
- Rèn trí thông minh, khả năng phân tích, khái quát nhanh của đối tượng.
*Chuẩn bị :
- Làm các thẻ quân bài trên mỗi thẻ ghi một từ cần phân nhóm.
VD: Chia các từ sau thành 2 nhóm:
+ Ngô, khoai, bắp cải, bí.
+ Ngô, lúa, su su, sắn, mướp
- Số lượng người chơi là 2 nhóm chơi; mỗi người chơi đều có bút để đánh
dấu.
*Cách tiến hành :
1. Giáo viên phát cho mỗi người (nhóm) chơi một bộ bài hoặc một bảng từ,
- Những nguời chơi phải chọn thật nhanh quân bài của mình có từ đồng
nghĩa với quân bài của trọng tài để đánh ra.
- Trọng tài công nhận quân bài đánh ra là từ đồng nghĩa thì người đánh
quân bài đó sẽ được ''ăn''; nếu sai thì người đánh quân bài đúng tiếp theo sẽ
được ''ăn''.
Trường hợp 2, 3 người cùng ra quân bài đúng thì cùng được ''ăn''.
- Đánh hết bộ quân bài, ai có số lượng quân bài được ''ăn'' nhiều nhất sẽ
thắng cuộc. Như vậy, người thắng là người nhận ra nhanh, đúng từ đồng nghĩa.
c. Dạng bài tích cực hóa vốn từ:
Dạng bài tập này không chỉ giúp học sinh nắm được nghĩa mà còn làm
rõ khả năng kết hợp từ. Những bài tập được sử dụng ở lớp 2 là bài tập điền
từ, bài tập đặt câu, bài tập tạo từ….
Ví dụ : Bài “ Từ ngữ về tình cảm” (tuần 12)
Thông thường, khi dạy bài tập 1 của tuần 12, giáo viên hướng dẫn
các em làm:
Dùng mũi tên () nối các tiếng sau thành những từ có hai tiếng rồi
ghi các từ tìm được vào dòng dưới.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh bằng cách: Hướng dẫn các em tạo các
từ theo từng tiếng dưới dạng sơ đồ cây. Như tiếng“ yêu” ta có các từ: yêu
thương, yêu quý, yêu mến..tương tự như vậy học sinh sẽ tạo các từ tiếp
theo. Nhưng nhiều em không biết nối, nên khi đọc kết quả các em chỉ nêu
được khoảng 5, 6 từ.
Tôi đã nghiên cứu nội dung của bài và đã lựa chọn trò chơi:
c.1.Thi ghép tiếng thành từ.
Tôi đã áp dụng trò chơi như sau:
* Chuẩn bị :
- Dựa theo bài tập 1, tiết luyện từ và câu tuần 12 (sách giáo khoa TV 2 tập
1- Tr.99) Giáo viên làm các bộ quân bài ghi tiếng (đủ cho số nhóm học sinh
tham gia thi); mỗi bộ quân bài có kích thước khoảng 5cm x 15cm . Mỗi bộ gồm
xếp được 11 từ. ( So với kết quả để các em tự ghép từ với các tiếng đã cho thì
các em ghép được nhiều hơn khoảng 4, 5 từ)
+ Tác dụng của trò chơi: Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng; Rèn khả
năng nhận ra từ, rèn tác phong nhanh nhẹn.
Trò chơi này có thể áp dụng cho: Bài tập 1( Tuần 25- tr 64)
Nhóm học sinh đang tham gia trò chơi: Thảo luận nhóm, ghép từ.
15
c.2. Trò chơi: Phân nhanh các nhóm từ
*Mục đích: + Nhận biết nghĩa của từ bằng cách tìm ra các đặc điểm giống
nhau của sự vật mà từ đó gọi tên.
+ Rèn trí thông minh, khả năng phân tích.
* Chuẩn bị:
+ Viết sẵn các từ trong bài tập lên bảng
+ Hoa có dán sẵn băng dính (Số lượng tuỳ theo số từ có trong bài và số hoa
phải có 2 màu khác nhau, gấp 2 lần số từ).
+ Cách chơi: Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm và nêu yêu cầu: Phân nhanh
các nhóm từ.
+ Luật chơi: Trong khoảng thời gian quy định (có thể là 2 phút), học sinh
của các nhóm tiếp sức nhau dán hoa dưới các từ giáo viên đã viết sẵn lên bảng,
dán hoa màu xanh vào nhóm 1, dán hoa màu đỏ vào nhóm 2. Nhóm nào đúng và
nhanh hơn là thắng cuộc.
d. Dạng bài khái niệm câu:
Dạy bài dạng khái niệm câu, giáo viên thường đưa ra mẫu câu như: Ai là
gì? Hoặc Ai làm gì? Rồi hướng dẫn học sinh tìm bộ phận câu trả lời câu hỏi Ai?
hoặc câu hỏi là gì? Làm gì? Cho học sinh làm mẫu, cuối cùng là học sinh làm
bài vào vở, rồi đọc bài làm, lớp chữa bài, hầu hết các em đều đặt được câu
nhưng các câu gần giông nhau như: Mẹ em đang giặt quần áo. Hoặc: Em đang
2. 4. Hiệu quả của sáng kiến:
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn áp dụng các trò chơi phù hợp trong mỗi
bài tập, mỗi tiết dạy. Kết quả thu được là các em tiếp thu bài tốt, phát huy tính
tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự nhiên,
nhẹ nhàng và hiệu quả. Chất lượng học sinh học môn Tiếng Việt nâng lên rõ rệt.
Câu văn của các em ít có từ dùng sai hơn. Đặc biệt rèn kĩ năng nói, diễn đạt của
các em rất mạch lạc, phong phú, tự nhiên. Nhiều câu văn hay, từ ngữ gây sự bất
ngờ thú vị, có sức gợi cảm lớn. Điều đó chứng tỏ vốn từ của các em được nâng
lên, các em biết sử dụng vốn từ một cách hợp lý hơn, sinh động hơn. Sau mỗi
giờ học gây được sự sảng khoái ham thích học tập.
Để có kết quả, tôi tiến hành khảo sát chất lượng lớp 2, kết quả đạt được
(Tại thời điểm giữa tháng 3 năm học 2018 - 2019) như sau:
Kếtquả
Thích học
Bình thường
Không thích
SL
%
SL
%
SL
%
Số bài
28
20
71,4
8
28,6
0
Với một thời gian ngắn ngủi để áp dụng phương pháp trò chơi vào dạy học phân môn luyện từ và câu tôi thấy 100% học sinh hứng thú học, các giờ học
viên chỉ được tổ chức một lần trong tiết dạy. Cần phối hợp liên hoàn, linh hoạt
và sáng tạo giữa các phương pháp truyền thống, hiện đại và trò chơi để tiết học
sôi nổi, hứng thú và hiệu quả.
Trong quá trình nghiên cứu và vận dụng phương pháp trò chơi để gây hứng
thú tạo hiệu quả cho giờ học luyện từ và câu ở lớp 2, tôi nhận thấy:
Trước hết người giáo viên phải có tâm huyết với nghề, luôn tìm tòi, học
hỏi, trao đổi kiến thức, cập nhật những vấn đề mới của xã hội.
Cần khơi dậy hứng thú học tập, lòng say mê thích học hỏi của học sinh.
Làm cho học sinh cảm thấy mỗi giờ học là một buổi tham quan kỳ thú. Không
nên gò ép các em theo một khuôn thước nhất định. Biết trân trọng và phát huy
tính sáng tạo của học sinh.
Cần phối kết hợp các phương pháp trong quá trình dạy học. Cần coi trọng
phương pháp trò chơi và phát huy tối đa tiềm lực của phương pháp này trong
dạy học phân môn luyện từ và câu. Tuy nhiên khi vận dụng phương pháp trò
chơi vào dạy học giáo viên cần chú ý:
- Trò chơi phải góp phần thực hiện được mục tiêu bài học.
- Trò chơi phải được chuẩn bị kỹ, chu đáo phù hợp với đối tượng học sinh
(về thẩm mỹ và nội dung)
- Luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện.
- Trò chơi không nên tổ chức kéo dài vì nó sẽ ảnh hưởng tới mạch kiến thức.
- Không nên lạm dụng trò chơi. Chỉ nên chọn 1 trò chơi hay áp dụng cho 1
bài. Trong 1 tiết chỉ nên tổ chức từ 1 đến 2 trò chơi. Tuyệt đối tránh hiện tượng
tổ chức 2 trò chơi trong 1 bài tập. Sử dụng trò chơi đúng lúc, đúng chỗ.
- Giáo viên cần “khéo” tổ chức trò chơi để trò chơi học tập mang đúng
nghĩa của nó: Học mà chơi, chơi mà học. Giáo viên cần kích thích sự thi đua
giành phần thắng giữa các bên tham gia.
18
3.2. Kiến nghị.
Vở Bài tập Tiếng Việt lớp 2.
Trích dẫn TLTK
[1] Module TH1: Một số vấn đề tâm lý học dạy học ở Tiểu học.(Trang 11)
[2]Chương trình học mà chơi – chơi mà học trên truyền hình.
[3]. Phương pháp trò chơi trong đổi mới PPDH ở Tiểu học (Theo Tiểu
học. vn)
20
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên: Thịnh Thị Luyến
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên, Trường Tiểu học Thị Trấn
Nga Sơn
Kết quả
đánh
giá xếp
loại
Năm học
đánh giá
xếp loại
TT
Tên đề tài SKKN
3
Một số biện pháp rèn kỹ năng
sống cho học sinh lớp 2
Ngành GD cấp
tỉnh
B
2015
-2016
21