MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. PHẦN MỞ ĐẦU.
1.1 . Lý do chọn đề tài.
1. 2. Mục đích nghiên cứu.
1. 3. Đối tượng nghiên cứu.
1. 4. Phương pháp nghiên cứu.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2. 1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục của bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
3. KẾT LUẬN, KIỄN NGHỊ
3. 1. Kết luận
3. 2. Kiến nghị
TRANG
2
2
3
3
3
3
3
4
5
18
19
19
20
lôgic và tính chính xác cao, nó là chìa khoá mở ra sự phát triển của các bộ môn
khoa học khác. Cũng như các môn học khác môn toán có một vị trí đặc biệt
quan trọng trong đời sống của trẻ Tiểu học. Thông qua môn toán hình thành cho
các em những kiến thức cơ bản ban đầu để phát triển trí tuệ, tạo điều kiện tốt
nhất để học sinh tìm kiếm khám phá và nắm vững hệ thống tri thức toán học và
những kỹ năng cơ bản cần thiết. Vì vậy việc đổi mới về dạy học môn Toán
trong trường Tiểu học là việc làm cấp thiết nhằm giúp các em có được một hệ
thống kiến thức mới cùng những kỹ năng cơ bản cần thiết để vận dụng vào thực
tiễn một cách nhẹ nhàng, đầy hứng thú. Từ đó rèn luyện và bồi dưỡng các thao
tác tư duy toán học, phát triển khả năng suy luận, rèn luyện tính mềm dẻo, linh
hoạt, phát triển trí thông minh và óc sáng tạo cho học sinh. Một trong những
phương pháp chủ yếu để đạt được mục đích trên là tạo cho học sinh hứng thú
học tập, tạo niềm tin, niềm vui bằng cách lôi cuốn các em vào những trò chơi
toán học hấp dẫn, phù hợp với trình độ nhận thức, đặc điểm lứa tuổi của các em
trong giờ học toán, đặc biệt là ở lớp 1, 2, 3. Chính vì vậy việc đưa các trò chơi
học tập vào bài học là rất cần thiết, giúp cho các em có hứng thú và tiếp thu bài
một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc hơn khi học môn toán.
Qua các năm trực tiếp giảng dạy lớp Hai, tôi nhận thấy: Muốn dạy tốt
chương trình Toán lớp Hai không những người giáo viên phải nắm vững nội
dung chương trình mà còn phải năng động, sáng tạo để vận dụng linh hoạt
những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học. Đôi khi phương pháp dạy của giáo viên còn cứng nhắc, không giải
thích rõ những từ ngữ có liên quan đến việc yêu cầu của bài toán cho học sinh
hiểu. Học sinh ở vùng miền núi phần lớn bố mẹ các em giao phó việc học của
con em mình cho thầy cô giáo ở trường, gia đình ít quan tâm đến việc học của
các em… Chính vì thực trạng như vậy tôi đã quyết định đi sâu vào nghiên cứu
2
sáng kiến “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn toán cho học sinh lớp
có những con người lao động năng động, tự tin, linh hoạt, sáng tạo, sẵn sàng
thích ứng với điều kiện đổi mới đang diễn ra hằng ngày của đất nước. Trong khi
đó cách dạy truyền thống có sự mất cân đối giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt
động học của trò có những hạn chế nhất định như: Tiếp thu tri thức thụ động,
hạn chế phát triển tư duy, không bộc lộ và phát triển năng lực cá nhân. Vì vậy
đổi mới phương pháp dạy học có một vị trí hết sức quan trọng và cần thiết, là
việc làm thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục.
Đối với trẻ, việc thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động học
tập là phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học và đặc biệt là phù hợp
với phương pháp dạy học mới khi thông tư 30 ra đời và sau đó được sửa đổi bổ
sung bằng thông tư 22/2016.
Trò chơi học tập nó có tác dụng:
3
- Giúp học sinh thay đổi hình thức học tập trong giờ học, làm cho giờ học
bớt căng thẳng, học sinh tiếp thu tri thức nhẹ nhàng, gây hứng thú học tập cho
các em.
- Kích thích sự tò mò của học sinh Tiểu học, tạo cơ hội để học sinh tự
hoàn thiện mình.
- Thông qua trò chơi, học sinh vận dụng kiến thức một cách linh hoạt,
kích thích trí tưởng tượng, trí nhớ... Từ đó phát triển tư duy mềm dẻo, thông
minh, lanh lợi, hoạt bát thích giao lưu cho học sinh.
- Ngoài ra, thông qua hoạt động trò chơi học tập còn giúp các em phát
triển được nhiều phẩm chất đạo đức như: tính đoàn kết, thân ái, lòng trung thực,
tinh thần cộng đồng trách nhiệm.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Qua thực tế giảng dạy trên lớp của những năm học trước và qua dự giờ
thăm lớp đồng nghiệp tôi nhận thấy:
TL
19 em
59,4%
HS chưa Hoàn thành
SL
TL
3 em
9,4%
Từ thực tế dạy và học toán hiện nay, tôi nhận thấy việc thiết kế trò chơi học
tập góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng môn toán nói
chung và toán 2 nói riêng là rất cần thiết.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng.
4
2.3.1. Một số nguyên tắc khi thiết kế trò chơi học toán:
- Mỗi trò chơi phải củng cố được kiến thức kỹ năng cụ thể trong
chương trình (Có thể là kiến thức trọng tâm của một bài hoặc kiến thức hệ
thống, tổng hợp của một chương…).
- Các trò chơi phải giúp học sinh rèn luyện kỹ năng toán học, phát huy trí
tuệ, óc phân tích, tư duy sáng tạo.
- Trò chơi phải phù hợp với quỹ thời gian 3-5 phút.
- Trò chơi có sức hấp dẫn, thu hút được học sinh, tạo được không khí vui
vẻ, thoải mái cho các em.
- Trò chơi dễ thực hiện không cầu kỳ với các em.
- Trò chơi phù hợp với điều kiện thực tiễn: đồ dùng dạy học của giáo viên,
học sinh hoặc các phế liệu dễ kiếm.
Trên cơ sở một số nguyên tắc nêu trên và nội dung chương trình môn toán
4
100 - 30
* Cách chơi: Học sinh lên bảng cầm thẻ số đã ghi phép tính hoặc kết quả.
Mỗi em tự quan sát tính nhẩm kết quả hoặc tìm phép tính tương ứng với kết quả
ghi trên tấm thẻ số của mình và của bạn.Yêu cầu cả đội vừa lặc lò cò vừa hát
cùng cả lớp “ lặc lò cò cho cái giò nó khoẻ, đi xen kẽ cho nó khoẻ cái giò”. Khi
giáo viên bất ngờ hô “ tìm bạn! tìm bạn!” các em phải nhanh chóng tìm được
bạn cầm tấm thẻ số có ghi kết quả hoặc phép tính tương ứng với kết quả mình
cầm. Những bạn tìm đúng, tìm nhanh bạn mình nhất thì được công nhận đúng,
bạn nào tìm sai thì phải tính nhẩm lại để tìm đúng bạn mình.
Sau một lượt nếu còn thời gian giáo viên có thể đổi thẻ lẫn lộn để các em tiếp
tục chơi hoặc nhóm khác chơi.
- Học sinh và giáo viên nhận xét tuyên dương.
* Trò chơi này giáo viên có thể thay đổi hình thức chơi sang Kết bạn
bằng ghép số với phép tính trên bảng. GV có thể tổ chức chơi thi giữa các nhóm
5
xem nhóm nào ghép được nhiều phép tính với kết quả đúng nhanh hơn, chính
xác hơn thì nhóm đó thắng cuộc.
- Trò chơi có thể sử dụng tương tự ở (tiết 77, bài tập 2 – trang 78 – sgk; tiết
83, bài tập 4, trang 83- sgk; tiết 158, bài tập 3- trang 134- sgk); Bài tập 1, trang
143.
Trò chơi 2: Trò chơi “ xếp hàng tứ thự” (hay ai ở đâu ?).
* Mục tiêu:
- Giúp học sinh củng cố cách so sánh và sắp xếp các số theo thứ tự từ bé
đến lớn và ngược lại.
bằng 18….
+ Trò chơi này không cầu kỳ nhưng vẫn gây được không khí vui, sôi nổi,
hào hứng trong giờ học cho các em.
Trò chơi 4: Ai nhiều điểm nhất
- (Vận dụng vào dạy các tiết Luyện tập về bảng cộng, bảng trừ và tính giá trị
biểu thức. Cụ thể: Tiết 58 : Luyện tập )
- Mục đích :
+ Luyện tập củng cố kỹ năng cộng 2 số có nhớ trong phạm vị 100
+ Tập cho học sinh cách đánh giá, khen thưởng.
- Chuẩn bị
+ 2 cây chậu cảnh có đánh số 1, 2
+ Một số bông hoa bằng giấy màu cứng, mặt trước màu trắng ghi các
phép tính như:
36 + 12
33 + 58
36 + 12
48 + 13
16 + 50
48 + 30
+ Phấn màu
+ Đồng hồ theo dõi thời gian
+ Chọn 3 học sinh hoàn thành tốt nhất lớp làm giám khảo và thư ký
- Cách chơi : Chia lớp làm 2 đội, khi nghe hiệu lệnh "bắt đầu" lần lượt
từng đội cử người lên bốc hoa trên bàn giáo viên, người chơi có nhiệm vụ làm
nhanh phép tính ghi trên bông hoa, sau đó cài bông hoa lên cây của đội mình.
Người này làm xong cài hoa lên cây thì lại đến lượt người khác. Cứ như vậy cho
đến hết 2 phút. Sau khi giáo viên hô hết giờ thì 2 đội mỗi đội cử 1 đại diện lên
đọc lần lượt từng phép tính trên cây của mình đồng thời giơ cho cả lớp xem
bông hoa đó. Giám khảo đánh giá và thư ký ghi lại kết quả.
8:4
- Cách chơi :
+ Chọn 2 đội, mỗi đội 5 em
+ Giáo viên chia bảng làm 2, gắn mỗi bên bảng một bông hoa và 5 chú
Ong, ở bên dưới không theo trật tự, đồng thời giới thiệu trò chơi.
Cô có 2 bông hoa trên những cánh hoa là các kết quả của phép tính, còn
những chú Ong thì chở các phép tính đi tìm kết quả của mình. Nhưng các chú
Ong không biết phải tìm như thế nào, các chú muốn nhờ các con giúp, các con
có giúp được không ?
- 2 đội xếp thành hàng. Khi nghe hiệu lệnh "bắt đầu" thì lần lượt từng bạn
lên nối các phép tính với các số thích hợp. Bạn thứ nhất nối xong phép tính đầu
tiên, trao phấn cho bạn thứ 2 lên nối, cứ như vậy cho đến khi nối hết các phép
tính. Trong vòng 1 phút, đội nào nối đúng và nhanh hơn là đội chiến thắng.
* Lưu ý : Sau khi học sinh chơi xong, giáo viên chấm và hỏi thêm một số
câu hỏi sau để khắc sâu bài học
+ Tại sao chú Ong
không tìm được đường về nhà ?
24 : 4
+ Phép tính "24 : 4" có kết quả bằng bao nhiêu ?
+ Muốn chú Ong này tìm được đường về thì phải thay đổi số trên cánh
hoa như thế nào ?...
Trò chơi 6 : Rồng cuốn lên mây
- Mục đích :
9
- Kiểm tra kỹ năng tính nhẩm của học sinh. Ví dụ : củng cố các bảng
nhân, chia....
- Chuẩn bị :
- Một tờ giấy viết sẵn các phép tính nhân, chia trong các bảng nhân, chia
đội thắng cuộc.
* Lưu ý : Để các em chơi nhanh, vui và thử phản ứng nhanh giáo viên cần
chuẩn bị sẵn 1 số giờ viết ra giấy (không phải nghĩ lâu) để khi hô cho nhanh, ví
dụ : 7 giờ, 11 giờ 15 phút, 9 giờ, 4 giờ 45 phút, 8 giờ 20 phút, 12 giờ 35 phút, 4
giờ 30 phút.
Trò chơi 8 : Bác đưa thư
(Áp dụng dạy các bảng nhân, bảng chia).
- Mục đích : Giúp học sinh thuộc lòng bảng nhân , bảng chia từ 2 đến 5. Kết hợp
với các thói quen nói "cảm ơn" khi người khác giúp một việc gì.
- Chuẩn bị : + Một số thẻ, mỗi thẻ có ghi 1 số 3,6, 9,12, 14, 18, 20, 22, 24,
26,28,.... 30 là kết quả của các phép nhân để làm số nhà.
10
+ Một số phong bì có ghi phép nhân trong bảng nhân 3: 1 x 3; 3 x 1; 2 x 7;
9 x 2...
+ Một tấm các đeo ở ngực ghi "Nhân viên bưu điện".
- Cách chơi :
+ Gọi 1 số em lên bảng chơi giáo viên phát cho mỗi em 1 thẻ để làm số
nhà. Một em đóng vai "Bác đưa thư" ngực đeo "Nhân viên bưu điện" tay cầm
tập phong bì.
+ Một số em đứng trên bảng, lần lượt từng em một nói :
Bác đưa thư ơi?
Cháu có thư không ?
Đưa giúp cháu với,
Số nhà …, 12,…,...
Khi đọc đến câu cuối cùng "số nhà ...,12,…,…" thì đồng thời em đó giơ
số nhà 12 của mình lên cho cả lớp xem. Lúc này nhiệm vụ của "Bác đưa thư"
phải tính nhẩm cho nhanh để chọn đúng lá thư có ghi phép tính có kết quả là số
tương ứng giao cho chủ nhà (ở trường hợp này phải chọn phong bì "3 x 4" hoặc
- Sau mỗi 1 lần 2 em đóng vai mua bán xong cho các bạn nhận xét, nếu
đúng thì được chơi lần 2 và được thưởng một vài nhãn vở. Nếu sai thì về chỗ để
bạn khác lên chơi.
* Tổng kết : Khen nhưng em nghĩ ra cách trả tiền để người bán phải suy
nghĩ trả lại khó và em biết tính để trả lại cho đúng là những "nhà kinh doanh
giỏi".
Trò chơi 10: Trò chơi “ Bác mặt nạ thông thái”.
* Mục tiêu: Giúp học sinh củng cố lại cách tính giá trị của biểu thức.
- Rèn luyện kỹ năng quan sát, khả năng diễn đạt mạch lạc, tự tin cho học sinh.
* Thời gian chơi: 3 đến 5 phút.
* Chuẩn bị chơi: GV chuẩn bị 4 biển hình mặt nạ một bên có hình mặt cười,
một bên có hình mặt mếu, bảng con.
* Cách chơi: Chọn hai đội chơi mỗi đội khoảng 3 em. chọn ban thư kí, ban
giám khảo, các em còn lại là cổ động viên.
Giáo viên lần lượt xuất hiện bảng con ( trên mỗi bản con có ghi cách thực
hiện một phép tính.
Ví dụ: Tiết 78 tính giá trị của biểu thức, bài tập 2 – trang 79, sgk). Với nội
dung ghi trong bảng như sau:
5 x 8 - 11 ;
3x6:2
;
30 : 3 : 5
;
24 + 18 - 28
= 40 - 11
= 18 : 2
= 10 : 2
= 42 - 28
b. 900; 910; 920;...........;.............;...........;.............
c. 420; 430; 440;...........;.............;............;............
* Cách chơi: chơi thi đua giữa hai đội chơi. Chọn hai đội chơi mỗi đội khoảng
4 em, đặt tên cho hai đội ( đội Sơn ca và đội Họa mi...). chọn ban thư kí, ban
giám khảo, các em còn lại là cổ động viên vỗ tay cỗ vũ hai đội chơi.
Hai đội lên đứng thành hai hàng dọc đứng trước bảng của mình bạn đầu
hàng cầm phấn. Trong vòng 3 phút khi nghe giáo viên hô trò chơi bắt đầu. Bạn
đứng đầu lên viết số tiếp theo của dãy số sau đó chạy về đưa phấn cho bạn đứng
thứ hai và xuống đứng về cuối hàng, cứ tiếp tục như vậy cho đến em cuối cùng.
Đội nào điền đúng thứ tự các số, nhanh sẽ thắng cuộc. Đội điền chậm hoặc sai
số sẽ bị thua. Cả đội thua cùng hát một bài.
- Học sinh lớp, giáo viên nhận xét tuyên dương.
- Trò chơi có thể sử dụng tương tự ở tiết 132. 134 (bài tập 3, trang 142, 144sgk); tiết 162 ( bài tập 4, trang 169 – sgk).
13
Trò chơi 12: Trò chơi “ Giành cờ chiến thắng”.
* Mục tiêu: củng cố kỹ năng giảm đi một số lần và gấp lên một số lần.
- Rèn luyện cách xử lý linh hoạt, tinh thần đoàn kết cho học sinh.
* Chuẩn bị chơi: Giáo viên chuẩn bị một số phiếu học tập có thể có nội dung
như sau:
58
35
+ 12
+ 15
+ 30
5 bạn lên tham gia chơi các bạn còn lại làm cổ động viên. Khi giáo viên hô " 5
phút bắt đầu" thì các bạn của hai đội chơi lật đề bài lên, đọc kỹ và giải quyết
nhanh chóng yêu cầu đặt ra giải xuống bên dưới. Ai làm xong gắn bài làm của
mình lên phần bảng dành cho đội của mình rồi về chỗ ngồi. Giáo viên đánh dấu
những bài nộp trước thời gian quy định. Hết giờ nếu bài của đội nào viết tiếp là
phạm quy không được tính. Mỗi lời giải đúng sẽ được gắn một bông hoa. Mỗi
bài nộp trước thời gian cho phép và đúng thì được cộng thêm một bông hoa. Đội
có số bông hoa nhiều hơn là đội " vô địch".
Trò chơi này có thể sử dụng trong tiết " Ôn tập về giải toán" tiết 170, 171
trang 176 – sách giáo khoa.
* Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức trò chơi:
Ngoài các trò chơi giáo viên chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng cần thiết phục
vụ cho trò chơi trên tôi còn mạnh dạn tổ chức cho các em thực hiện chơi trò chơi
thông qua bài giảng điện tử. Với những hình ảnh đẹp mắt, những hiệu ứng linh
hoạt trên màn hình các em thích thú tham gia các trò chơi một cách tích cực, đầy
hứng thú. Từ đó các em nắm nội dung bài học một cách tự tin hơn. Tiết học
Toán của các em trở nên nhẹ nhàng và sinh động.
24. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Như chúng ta đã biết học sinh Tiểu học luôn luôn hiếu động, ham chơi, thích
cái mới lạ nhưng lại chóng chán. Đối với trẻ trò chơi là cái mới, kích thích tính
tò mò, muốn tìm hiểu, khám phá. Do vậy quan điểm " thông qua hoạt động vui
chơi để tiến hành hoạt động học tập" rất phù hợp với nhà trường Tiểu học.
Trong dạy học toán ở tiểu học, đặc biệt là ở các lớp 1, 2, 3 các trò chơi học
tập có nhiều tác dụng như:
- Giúp học sinh thay đổi loại hình hoạt động học tập trong giờ học, làm cho
giờ học bớt căng thẳng, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu, học sinh tiếp thu kiến
thức nhẹ nhàng, gây hứng thú học tập cho học sinh.
- Kích thích sự tìm tòi, tạo cơ hội để học sinh tự thể hiện mình.
HS chưa Hoàn thành
SL
TL
0 em
- Điều đáng mừng là các em rất hào hứng, chờ đợi tiết học toán, tạo cho
các em lòng yêu thích, ham mê môn toán.
- Các trò chơi này có thể áp dụng được với tất cả các lớp khác nhau, chỉ
cần giáo viên biết lựa chọn các trò chơi phù hợp với từng bài học cụ thể của
khối, lớp mình dạy để hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhẹ
nhàng hơn.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Qua thực tế giảng dạy tổ chức các trò chơi này vào các tiết học Toán của
lớp tôi phụ trách trong năm học và qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và nhất là
dự giờ ở khối lớp 2, bản thân tôi nhận thấy những tiết học mà giáo viên tổ chức
được các trò chơi thì các em rất tích cực hoạt động, tiếp thu và ghi nhớ bài rất
tốt. Vì vậy việc đưa hình thức tổ chức trò chơi vào dạy học toán ở Tiểu học nói
chung và dạy toán lớp 2 nói riêng là rất cần thiết.
Sử dụng trò chơi toán học giúp học sinh củng cố kiến thức, kỹ năng mà
học sinh vừa tiếp thu, phát triển năng lực tư duy, phát triển trí tưởng tượng, khả
năng diễn đạt, xử lý các tình huống nhanh nhẹn và điều quan trọng là tạo hứng
thú cho học sinh trong quá trình học tập phù hợp với tâm lý học sinh Tiểu học là
học mà chơi, chơi mà học.
Qua việc dạy học người giáo viên mỗi năm lại phát hiện ra một điều mới về
đơn vị kiến thức cũng như phương pháp truyền thụ hợp lý, sáng tạo hơn, giúp
học sinh lĩnh hội kiến thức toán đạt kết quả cao hơn. Giúp các em tiếp nhận bài
học tốt hơn, xây dựng hệ thống chương trình và nội dung môn toán theo hướng
đồng tâm, có hệ thống các tri thức toán học. Hình thành năng lực nhận thức,
được luyện tập thực hành nhiều lần, điều đó giúp các em nắm vững tri thức toán
một cách vững chắc.
- Việc học kết hợp tổ chức bằng hình thức trò chơi các em được rèn luyện
tính tự giác tích cực, nhanh nhẹn không rụt rè, có tinh thần đoàn kết… Giáo viên
không làm thay các em. Khi các em đã làm được tự nhiên nó khơi dạy trong các
em tính ham học, ham hiểu biết và khám phá.
3.2. Kiến nghị.
- Đối với nhà trường: Cần phối hợp với các tổ chức làm tốt hơn nữa công tác xã
hội hoá giáo dục, tạo điều kiện tốt nhất để học sinh phát triển tối đa năng lực của
mình trong học tập. Tham mưu với UBND xã đầu tư thêm cơ sở vật chất thiết
yếu để tạo điều kiện cho dạy học: Bàn ghế đúng quy cách, phòng học hợp lý
khoa học, bổ sung thêm các máy chiếu, tài liệu sách tham khảo phục vụ chuyên
môn cho giáo viên có phương tiện và tài liệu học hỏi nâng cao hơn về kiến thức
chuyên môn nghiệp vụ. Mở các chuyên đề bồi dưỡng để giáo viên học tập rút
kinh nghiệm về nội dung và phương pháp giảng dạy.
- Đối với giáo viên: Cần bồi dưỡng thêm về trình độ lý luận, về phương pháp
dạy học mới, tạo điều kiện cho giáo viên học tập nâng cao trình độ chuẩn, dự giờ
để học tập đồng nghiệp. Cần nghiên cứu đưa nhiều tiết học có ứng dụng công
nghệ thông tin vào giảng dạy. Sớm tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà giáo
dục về phương pháp dạy học mới vào chương trình giảng dạy ở tất cả các môn
học.
- Đối với học sinh: phải đọc bài làm bài đầy đủ trước khi đến lớp, tích cực tham
gia các hoạt động học tập dưới sự hướng dẩn của giáo viên.
17
- Đối với phụ huynh: Cần mua sắm đủ sách giáo khoa và đồ dùng phục vụ cho
việc học của các em đầy đủ hơn, quan tâm hơn nữa đến việc học hành của học
sinh.
Mặc dù đã cố gắng song thời gian nghiên cứu chưa nhiều, kinh nghiệm, trình
19
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Lê Thị Nhung
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Thị Trấn.
TT
1.
2.
Tên đề tài SKKN
Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo
lường cho học sinh lớp 5
Giáo dục môi trường cho học
sinh lớp 5 thông qua việc dạy
học môn Khoa học và phân
Cấp đánh giá
xếp loại
Kết quả
môn Địa lý.
Giáo dục môi trường cho học
3.
sinh lớp 5 thông qua việc dạy
học môn Khoa học và phân
môn Địa lý.
---------------------------------------------------
20