Giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng nguồn vốn huy động tại ngân hàng TMCP công thương việt nam chi nhánh ngũ hành sơn, đà nẵng - Pdf 56

Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp

1

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh

LỜI MỞ ĐẦU
Sau 25 năm đổi mới, kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, tháng 12/1986 đến nay,
Việt Nam đã đạt được những thành tựu toàn diện to lớn và hết sức quan trọng trên mọi
lĩnh vực. Nhờ đổi mới mà nền kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất được tăng
cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện. Sở dĩ có được
những thành công đó là do sự đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân và sự tập trung cao
độ tất cả nguồn lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Trong đó nguồn vốn đầu tư
là nguồn lực hết sức quan trọng. Nguồn vốn này có thể có được từ nhiều kênh, trong
đó hệ thống ngân hàng là một kênh huy động vốn hiệu quả và quan trọng nhất của đất
nước. Thông qua các ngân hàng với nghiệp vụ huy động và cho vay, nguồn vốn huy
động từ dân cư và các tổ chức chuyển tới những ngành, những lĩnh vực đang cần vốn
đầu tư. Có thể nói, hệ thống ngân hàng đã và đang làm rất tốt vai trò trung gian vốn
của nền kinh tế, góp phần huy động và chu chuyển vốn nhàn rỗi trong xã hội cho sự
phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, việc huy động vốn của các ngân hàng
thương mại đang gặp khó khăn. Nhiều ngân hàng đang thiếu nguồn vốn huy động để
đáp ứng nhu cầu cho vay. Nguyên nhân là do các NHTM luôn phải đối mặt với sự
cạnh tranh gay gắt, không chỉ từ các NHTM khác, mà từ tất cả các tổ chức tín dụng
đang cùng hoạt động kinh doanh trên thương trường. Đặc biệt ,bước sang năm 2011,
khi mọi rào cản đối với các ngân hàng nước ngoài theo cam kết khi Việt Nam chính
thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007
được tháo bỏ, các ngân hàng thương mại Việt Nam còn phải đứng trước áp lực cạnh
tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn từ phía các ngân hàng nước ngoài với năng
lực tài chính tốt hơn, công nghệ, trình độ quản lý và hệ thống sản phẩm đa dạng và có
chất lượng cao hơn, có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Ngoài ra, tâm lí

Trinh cùng các cô chú, anh chị trong ngân hàng, bản thân cũng rất nỗ lực cố gắng
nhưng chuyên đề cũng không tránh khỏi những sai sót. Do đó, em rất mong được sự
đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo cũng như các cô chú anh chị trong ngân hàng để
chuyên đề này được hoàn thiện hơn.
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Tú Oanh

SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1


3

Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp

MỤC LỤC

SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh


Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp

4

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NH:Ngân hàng
NHTM: Ngân hàng thương mại

CHƯƠNG 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGUỒN VỐN TRONG HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại:
1.1.1 Khái niệm NHTM:
Ngân hàng là loại hình tổ chức đã ra đời từ lâu và có vai trò quan trọng đối với
nền kinh tế nói chung và đối với công đồng địa phương nói riêng.Để định nghĩa NH,
người ta có thể căn cứ vào tính chất . mục đích hoạt động của các tổ chức trên thị
trường, hay dựa vào sự kết hợp giữa tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Một
số định nghĩa về ngân hàng như sau:
- Định nghĩa của Pháp: Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở kinh doanh
nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúg dưới hình thức kí thác hay hình thức
khác có số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay tài
chính.
- Định nghĩa của Ấn Độ: ngân hàng là những cơ sở nhận tiền kí thác để cho vay
hay đầu tư và tài trợ
- Định nghĩa của FED: Bất kì một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho
phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu ( như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền
điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại, cho vay cá
nhân, hộ gia đình sẽ được xem là một ngân hàng
- Định nghĩa của Đan Mạch những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận
tiền gửi kí thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị đĩa ốc, các
phương tiện tín dụng
- Quốc hội Mỹ đưa ra định nghĩa: Ngân hàng được định nghĩa như một công ty
là thành viên của Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang
- Theo luật Tổ chức tín dụng( TCTD) Việt Nam năm 2010:
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi
nhuận.
 TÓM LẠI: Mỗi quốc gia có định nghĩa khác nhau về ngân hàng ( dựa vào
mục đích, đối tượng hoạt động,…) nhưng các định nghĩa trên đều có một thống nhất:


1.1.2.2. Chức năng tạo tiền:
- Đó là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi
thành một khoản tiền ngân hàng lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ
tín dụng, đầu tư qua nhiều ngân hàng.

- Quá trình tạo tiền của NHTM được thể hiện thông quan hoạt động tín dụng và đầu tư
trong mối liên hệ chặt chẽ với NHTW của mỗi nước.

1.1.2.3. Chức năng trung gian thanh toán
Nhờ nhận tiền kí thác của khách hàng và cho khách hàng vay, NHTM mở ra các
sổ sách theo dõi, và chuyển tiền trong các giao dịch lẫn nhau của khách hàng, ngân
hàng sẽ xuất tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác hay chuyển tiền từ nơi này sang
nơi khác. Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra các công cụ thanh toán
không dùng tiền mặt và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, thẻ thanh toán,..). Như
vậy, Thông qua chức năng này NHTM đã tiết kiệm tiền mặt, tiết kiệm được chi phí lưu
SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1


Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp

8

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh

thông tiền mặt, hạn chế vốn ứ đọng trong khâu thanh toán cho khách hàng, thúc đẩy
việc luân chuyển tiền tệ một cách nhanh chóng.
Thông qua chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng, NHTM có
thể tạo và hủy tiền. Lợi dụng điều này, NHTW đã sử dụng các công cụ dự trữ bắt buộc
để thực thi chính sách tiền tệ của mình.


SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1


Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp

9

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh

-Thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ đi phần dùng để
mua cổ phiếu quỹ (nếu có).
+Vốn cấp 2 bao gồm:
- 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật;
- 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp luật;
-Quỹ dự phòng tài chính;
- Trái phiếu chuyển đổi do tổ chức tín dụng phát hành thỏa mãn các điều kiện theo luật
định
- Các công cụ nợ khác thỏa mãnđiều kiện theo luật định
-Vốn huy động: Vốn tự có của NHTM chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng nguồn
vốn.Vốn huy động từ bên ngoài là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt đông ngân hàng. Nó là
một trong những yếu tố chính quyết định quy mô cũng như hiệu quả kinh doanh của
ngân hàng.
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của NHTM, thực chất là tài sản bằng tiền của các
chủ sở hữu mà ngân hàng được tạm thời quản lý và sử dụng làm vốn kinh doanh và
phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời đầy đủ khi khách hàng yêu cầu.

1.1.3.2.

Nghiệp vụ sử dụng vốn:(Nghiệp vụ tài sản Có)

1.2. Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM:
SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1


Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp

10

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh

1.2.1. Khái niệm, đặc diểm của vốn huy động:
. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của NHTM, thực chất là tài sản bằng tiền
của các chủ sở hữu mà ngân hàng được tạm thời quản lý và sử dụng làm vốn kinh
doanh và phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời đầy đủ khi khách hàng yêu cầu. Vốn huy
động là một trong những yếu tố chính quyết định quy mô cũng như hiệu quả kinh
doanh của ngân hàng.
Đặc điểm của vốn huy động:
- Vốn huy động trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM.
Các NHTM hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn này.
- Vốn huy động là nguồn vốn không ổn định, vì khách hàng có thể rút tiền của họ mà
không bị ràng buộc -> NHTM cần phải duy trì 1 khoản dự trữ thanh khoản để sẵn sàng
đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng.
- Có chi phí sử dụng vốn tương đối cao và chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào rất lớn trong
hoạt động kinh doanh của các NHTM.
- Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh cao gay gắt giữa các ngân hàng.
- Vốn huy động chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các
NHTM không được sử dụng nguồn vốn này để đầu tư.
1.2.2. Các loại nguồn vốn huy động:

1.2.2.1. Tiền gửi:

cầu chi trả hay rút tiền của khách hàng nếu không là vi phạm hợp đồng
Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm đảm bảo an toàn tài sản và dùng vào chi
trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
* Đặc điểm của nguồn vốn này :
- Nguồn vốn này thường xuyên biến động, tính chất ổn định rất kém cho nên
chỉ sử dụng cho vay 1 phần, phần lớn để dự trữ đảm bảo thanh toán cho khách hàng.
- Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn, lãi suất thpt, hay không phải trả lãi, do vậy
khai thác tốt nguồn này sẽ mang lại hiệu quả cao.
+ Tiền gửi kí quỹ: loại tiền gửi này đã xác định mục đích, không hưởng lãi, không khả
dụng như séc bảo chi, L/C.
+ Tiền gửi có kì hạn: là loại tiền gửi của tổ chức kinh tế mà chỉ được rút ra khi đến
hạn. Vì vậy về nguyên tắc, loại tiền này chỉ được rút ra khi đến hạn, thời hạn có thể 3
tháng, 6 tháng… Tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Nhưng
do cạnh tranh trong kinh doanh nên ngân hàng có thể cho khách hàng rút vốn trước
hạn với các điều kiện như phải báo trước một thời gian hay không được hưởng lãi hay
hưởng lãi suất thấp như tiền gửi không kì hạn.
* Đặc điểm của nguồn vốn này:
- Nguồn vốn này có tính chất tương đối ổn định, do vậy ngân hàng có thể sử
dụng để cho vay ngắn hạn với thời hạn dài hơn.
- Nguồn vốn này có lãi suất tương đối cao so với tiền gửi không kì hạn nhưng
vẫn thấp hơn nhiều so với nguồn vốn khác

SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1


Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp

12

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh


Chứng chỉ tiền gửi

-

Kì phiếu

-

Trái phiếu

SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1


Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp

13

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh

1.2.2.3 Vốn đi vay:

ϖ Vay trong nước:

- Vay của NHNN : Các NHTM có thể vay vốn ở NHNN dưới hình thức chiết
khấu hay tái chiết khấu hoặc cho vay thông thường. Tuỳ thuộc vào chính sách tiền tệ
( nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ) của NHNN trong từng thời kì mà nguồn này có lãi suất
cao hay thấp. Do vậy, các NHTM chỉ dùng nguồn này nhằm bổ sung khả năng thanh
toán của mình hay mở rộng dư nợ khi tính hiệu quả.
- Vay của các TCTD khác: các NHTM hay các TCTD có sự thoả thuận với nhau

14

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh

công thức này, có thể khẳng định ngân hàng nào trường vốn là ngân hàng có nhiều thế
mạnh trong cạnh tranh. Vì vậy, ngoài nguồn vốn ban đầu cần thiết (vốn điều lệ) theo
quy định thì ngân hàng luôn phải chăm lo tới việc tăng trưởng nguồn vốn trong suốt
quá trình hoạt động của mình.
ϖ Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng
trên thương trường.
Ngân hàng hoạt động dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau , nếu không có uy tín thì
ngân hàng không thể tồn tại và ngày càng mở rộng hoạt động của mình. Uy tín được
thể hiện ở khả năng sẵn sàng chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Khả năng thanh
toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn. Vì vậy, loại trừ
các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân
hàng nói chung và vốn khả dụng của ngân hàng nói riêng. Với khả năng huy động vốn
cao, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành
các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả, góp phần vừa giữ được chữ tín, vừa nâng cao vị
thế của ngân hàng trên thương trường.
ϖ Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh
giúp các doanh nghiệp có khả năng tự hoàn thiện mình hơn. Với ngân hàng vốn chính
là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Thực tế đã chứng minh: quy
mô vốn, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại là điều kiện tiền đề cho việc
thu hút nguồn vốn, và nguồn vốn lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong
việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối
lượng tín dụng, chủ động về thời hạn, lãi suất. Kết quả của sự gia tăng trên giúp ngân
hàng kinh doanh đa năng trên thị trường, phân tán rủi ro, tạo thêm vốn cho ngân hàng
và khi đó, tất yếu trên thương trường sức cạnh tranh của ngân hàng sẽ tăng lên.
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn huy độngcủa NHTM

tác động trực tiếp. Khi nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất phát triển , từ đó tạo điều kiện
tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường cho việc thu hút vốn của ngân hàng thuận
lợi . Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát tăng làm cho môi trường đầu tư của
ngân hàng bị thu hẹp khiến quá trình tạo vốn của ngân hàng gặo khó khăn. Không một
quốc gia nào có thể phát triển nếu môi trường chính trị không ổn định. Sự ổn định về
chính trị hay về chính sách ngoại giao cũng tác động mạnh mẽ đến quan hệ vốn của
ngân hàng với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Điều này cũng là nhân
tố ảnh hưởng tới công tác huy động vốn của ngân hàng. Nhân khẩu học cũng là một
nhân tố ảnh hưởng tới nguồn vốn thông qua việc phân bổ dân cư, trình độ, lứa tuổi …
Ngân hàng cũng nên xem xét yếu tố này trong hoạt động huy động vốn của mình.
Môi trường văn hoá.
Môi trường văn hoá là yếu tố quyết định đến tập quán, tâm lý, thói quen trong việc sử
dụng tiền của dân cư. Và những tập quán tiêu dùng này sẽ ảnh hưởng đến nghiệp vụ
tạo vốn của ngân hàng. Nếu ở những vùng mà người dân quen sử dụng số tiền nhàn rỗi
dưới hình thức cất trữ thì việc huy động vốn của ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1


Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp

16

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh

Hơn nữa , mức độ chấp nhận rủi ro của xã hội, thói quen tích luỹ ảnh hưởng đến quyết
định của những thành viên trong xã hội về phương thức tiêu dùng và tiết kiệm, giữ tiền
ở nhà , gửi tiền ở ngân hàng, đầu tư vào chứng khoán hoặc bất động sản …
Yếu tố cạnh tranh trên thị trường tài chính
Hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng có sự tham gia của nhiều loại hình ngân
hàng mới và các tổ chức tài chính phi ngân hàng . Do đó , cạnh tranh có xu hướng gia


17

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh

hàng, phát triển thêm mạng lưới hoạt động từ chi nhánh cấp 3, cấp 4, các ngân hàng
lưu động, và các ngân hàng hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp,
kinh doanh dịch vụ ...
• Chất lượng hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động tiền gửi
vào hệ thống ngân hàng, nghiệp vụ huy động vốn làm nhiệm vụ khơi tăng các nguồn
vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thì nghiệp vụ sử dụng vốn thực hiện sử dụng các nguồn
vốn đó vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ....để đem lại khả năng sinh lời, thu lợi nhuận
về cho ngân hàng .Do vậy nếu nghiệp vụ sử dụng vốn không hiệu quả tất yếu dẫn đến
việc huy động vốn bị thu hẹp lại . Khi sử dụng vốn kém hiệu quả, làm thất thoát vốn
nhiều dẫn đến lòng tin của dân chúng vào ngân hàng bị giảm đi . Từ đó sẽ rất khó khăn
cho các hình thức huy động các nguồn vốn nhàn rỗi . Mặt khác hoạt động tín dụng
hiệu quả tạo cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế kinh doanh có hiệu quả, thu
nhập xã hội ngày càng tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, đời sống của dân cư ngày càng
nâng cao, nguồn vốn nhàn rỗi ngày càng tăng, tạo cho nguồn vốn ngân hàng huy động
ngày càng tăng trưởng để thực hiện đầu tư cho các chu kỳ sản xuất tiếp theo .
• Uy tín của ngân hàng.
Có thể gọi đây chính là tài sản vô hình của ngân hàng. Uy tín bao gồm uy tín của ngân
hàng trong toàn hệ thống, của các thành viên trong hội đồng quản trị, ban giám đốc. Sự
nổi tiếng của ngân hàng là tài sản quý trong công tác huy động vốn vì trong lòng thị
trường ngân hàng đã tạo một hình ảnh riêng, khi đó khách hàng sẽ tin tưởng vào ngân
hàng, giúp ngân hàngcó khả năng ổn định khối lượng vốn huy động, tiết kiệm chi phí
huy động (thực tế khi ngân hàng có tiếng tăm, họ dễ dàng thu hút vốn hơn các ngân
hàng khác ngay cả khi lãi suất tiền gửi của ngân hàng đưa ra có thấp hơn).
• Chiến lược kinh doanh của ngân hàng.

được môi trường đầu tư của mình có hiệu quả hay không thì quá trình hoạt động của
ngân hàng đảm bảo được an toàn vốn, tăng uy tín, tạo điều kiện thu hút khách hàng gửi
tiền cũng như vay tiền. Mặt khác, trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng càng cao,
mọi thao tác nghiệp vụ thực hiện nhanh chóng, chính xác, có hiệu quả; thái độ phục
vụ, tác phong là việc của cán bộ ngân hàng tốt, nhiệt tình, cởi mở, tạo thuận lợi cho
khách hàng sẽ gây được ấn tượng tốt đối với khách hàng, thu hút được nhiều khách
hàng hơn. Thái độ phục vụ của cán bộ ngân hàng đối với khách hàng có ảnh hưởng lớn
đến việc huy động vốn cho ngân hàng. Do đó, để thu hút khách hàng gửi tiền, đi đôi
với việc trau dồi kiến thức, nghiệp vụ, cán bộ ngân hàng phải thường xuyên chú ý đến
thái độ phục vụ của mình sao cho vừa lòng khách hàng .
• Chính sách Marketing của ngân hàng…
Các ngân hàng thương mại hiện nay đã từng bước học tập và ứng dụng nghệ thuật
thông tin quảng cáo, các hình thức khuyến mãi…Tuy việc đầu tư cho công tác này còn
hạn chế, nhưng có thể nói đây cũng là mặt mạnh của ngành ngân hàng trong việc cạnh
tranh để huy động tiền gửi. Thông tin quảng cá , tiếp thị khuyến mại, các dịch vụ hậu
SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1


Bn tho chuyờn tt nghip

19

GVHD: ThS. Trnh Th Trinh

mói rừ rng s phỏt trin mnh m trong c ch th trng. V tu vo chu k sng ca
sn phm dch v m ngõn hng cung cp cỏc nh qun tr ngõn hng chn thi
im , thi gian s dng, chin lc qung cỏo khuyn mói cng nh hu mói phự
hp.

1.2.5.Cỏc ch tiờu ỏnh giỏ s phỏt trin v cht lng ngun vn huy ng:

SVTH: Nguyn Th Tỳ Oanh_34K07.1


Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp

20

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh

Nếu một ngân hàng thương mại có nguồn sử dụng vốn tương với nguồn vốn
huy động, chứng tở nguồn vôn huy động đã được sử dụng có hiệu quả và công tác huy
động vốn của ngân hàng đã thành công. Bởi vì phần lớn thu nhập từ hoạt động sử dụng
vốn sẽ được bù đắp phần nào chi phí huy động và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Hơn nữa, việc sử dụng vốn tốt sẽ thúc đẩy hoạt động huy động vốn. Cho nên khi đánh
giá chất lượng nguồn vốn huy động người ta thường xem xét đến công tác sử dụng vốn
của ngân hàng đó.

1.2.5.4 Chi phí huy động vốn bình quân:
a. Lãi suất huy động:
Lãi suất huy động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế.
Người gửi muốn một lãi suất cao, ngườ vay lại muốn lãi suất thấp. Là trung gian đóng
vai trò cầu nối giữa hai đối tượng trên, ngân hàng phải tìm cách điều chỉnh mức lãi
suất sao cho hợp lý nhất đối với các bên, trong đó điều quan trọng là phải đảm bảo lợi
ích của ngân hàng. Vì vậy trong huy động vốn, mỗi ngân hàng đều cố gắng áp dụng
mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm được những nguồn vốn sao cho chi phí huy động
vốn bình quân là thấp nhất và sử dụng vốn đó với một mức lãi suất chấp nhận được
chấp nhận được trên thị trường. Chi phí huy động được đánh giá qua hệ thống các chỉ
tiêu lãi suất huy động bình quân(tính bằng bình quân gia quyền của lãi suất các nguồn
theo khối lượng từng nguồn), lãi suất huy động cảu từng nguồn và đặc biệt là lãi suất
cạnh tranh NEC.

- Mức độ hoạt động của vốn huy động: được đánh giá qua chỉ tiêu hệ số sử
dụng vốn. Hệ số sử dụng vốn càng tiến đến 1 càng tốt, điều này thể hiện nguồn vốn
huy động được sử dụng tối đa.
- Mức độ thuận tiện của khách hàng: Được đánh giá qua thủ tục gửi tiền, rút tiền, các
dịch vụ kèm theo của ngân hàng… nhằm tiết kiệm được thời gian và chi phí cho khách
hàng.
- Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định
- Một số chỉ tiêu khác: số lượng vốn bị rút ra trước hạn, kì hạn thực tế của nguồn
vốn…
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM- CHI NHÁNH NGŨ HÀNH SƠN
2.1. Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh
Ngũ Hành Sơn
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam- Chi nhánh Ngũ Hành Sơn:
Ngân hàng TMCP Công Thương Ngũ Hành Sơn được thành lập theo quyết định
NHCT/QĐ số 33 ngày 28/05/1990: quyết định thành lập NHCT Khu vực III thuộc tỉnh
Quảng Nam – Đà Nẵng. Sau đó do chia tách địa chính tỉnh Quảng Nam và Thành phố
Đà Nẵng, NHCT khu vực III được thành lập lại, trực thuộc chi nhánh NHCT thành phố
Đà Nẵng theo quyết định số 14/NHCT ngày 17/02/1996 của Tổng giám đốc NHCT
VN
SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1


Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp

22

GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh





Tiếp nhận vốn tài trợ ủy thác, đầu tư từ nhà nước, từ các tổ chức kinh tế trong
và ngoài nước để cho vay theo các chương trình

SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1


23

Bản thảo chuyên đề tốt nghiệp


GVHD: ThS. Trịnh Thị Trinh

Cho vay ngắn hạn, trung dài hạn đối với các cá nhân, các tổ chức cá nhân, các
tổ chức cá nhân, các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế



Cho vay ủy thác theo các chương trình vốn tài trợ



Thực hiện nghiệp vụ tài trợ thương mại, thanh toán xuất nhập khẩu



Có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát quá trình sự dụng vốn của khách hàng

Tiền tệ
kho
quỹ

Tổ
quản lý
rủi ro

Phòng
giao
dịch số
1–
Hoàng
Diệu

Phòng
giao
dịch số
2 – 12
Hàm
Nghi

Chú thích:
: Quan hệ chức năng
: Quan hệ trực tuyến
2.1.3.2. Nhiệm vụ của các phòng ban


Ban Giám đốc: gồm 1 Giám đốc và 2 Phó giám đốc, trực tiếp điều hành công



khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ
+ Thực hiện các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác quản lý tài
chính, chi tiêu nội bộ tại ngân hàng
+ Cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lý
hoạch toán các giao dịch.
+ Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống, giao dịch trên máy, quản lý quỹ
tiền đến tưng giao dịch viên đúng theo quy định của nhà nước và NHTMCP công
thương Việt Nam. Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các dịch vụ
ngân hàng.
+ Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán tại ngân
hàng. Bảo trì, bão dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của mạng máy tính
của ngân hàng về công nghệ.


Phòng tổ chức hành chính: thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại

ngân hàng theo đúng chủ trương chính sách của nhà nước và quy định của ngân hàng
công thương Việt Nam. Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động
kinh doanh tại ngân hàng, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh trật tự ngân hàng.


Phòng tiền tệ kho quỹ: có chức năng quản lý an toàn kho quỹ, quản lý quỹ tiền

mặt theo quy định của ngân hàng nhà nước với NHCT Việt Nam. Thực hiện chi tạm
ứng và thu tiền cho các quầy giao dịch, thu tiền cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền
mặt lớn.


Tổ chức quản lý rủi ro

và điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch, nghỉ dưỡng. Tuy nhiên,
cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế, thu nhập dân cư còn thấp và kinh tế chưa phát triển.
Số lượng doanh nghiệp ít, kinh tế vẫn chưa phát triển mạnh, hoạt động thương mại
quy mô nhỏ, lẻ chủ yếu là hộ kinh doanh cá thể… Do đó cũng có ảnh hưởng nhất định
đến việc tăng nguồn vốn và mở rộng cho vay của Chi nhánh.
Tuy nhiên nhờ những chính sách kịp thời đúng đắn và sự nỗ lực quyết tâm cao
của toàn thể cán bộ nhân viên tại chi nhánh nên trong những năm qua hoạt động kinh
doanh của Chi nhánh ngày càng phát triển, các chỉ tiêu kinh doanh tăng trưởng tốt, lợi
nhuận năm sau cao hơn năm trước.

2.1.4.1 Tình hình huy động vốn:
Để biết được khái quát tình hình huy động vốn của ngân hàng TMCP Công
thương VIệt Nam – Chi nhánh Ngũ Hành Sơn- Đà Nẵng, ta sẽ xem xét tình hình huy
động vốn của chi nhánh trong ba năm qua từ năm 2008 đến năm 2010 qua bảng biểu
và biểu đồ sau:
Bảng 1: Phân tích tình hình huy động vốn:
ĐVT: Triệu đồng
SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh_34K07.1



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status