Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh của công ty TNHH Dịch vụ Dầu Khí Tiền Cảng tại Quý I/2017 - Pdf 56

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Bất cứ doanh nghiệp nào khi đi vào sản xuất kinh doanh đều phải chịu trách nhiệm trước
kết quả kinh doanh của mình, bảo toàn được vốn kinh doanh và quan trọng là kinh doanh
có lãi. Muốn như vậy doanh nghiệp phải nhận thức được vị trí của khâu tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa vì nó quyết định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để
doanh nghiệp có thu nhập bù đắp chi phí bỏ ra, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách nhà
nước.
Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là hướng tới lợi nhuận nên bên cạnh các biện pháp
quản lý chung, việc tổ chức hợp lý công tác kế toán bán hàng là rất cần thiết, giúp doanh
nghiệp có đầy đủ thông tin kịp thời và chính xác để đưa ra quyết định kinh doanh đúng
đắn.
Doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao là cơ sở doanh nghiệp có thể tồn tại và
phát triển ngày càng vững chắc trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh sôi động và quyết
liệt. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán bán hàng, em đã chọn đề tài
“Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh của công ty TNHH Dịch vụ Dầu
Khí Tiền Cảng tại Quý I/2017” để nghiên cứu và viết bài báo cáo thực tập tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu

Các doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường đóng vai trò như một cầu nối
trung gian đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Mục đích chính doanh nghiệp
là tiêu thụ hàng hóa. Song muốn có hàng hóa để kinh doanh thường xuyên thì doanh
nghiệp cần tổ chức và thu mua thật khoa học và hợp lý – đó chính là phương tiện để
doanh nghiệp đạt được mục đích của mình. Chính vì vậy, thông qua bài nghiên cứu này,
em mong muốn có thể hệ thống hóa lý luận cơ bản về việc vận dụng các chuẩn mực kế
toán, chế độ kế toán hiện hành để làm rõ quy trình kế toán bán hàng tại công ty Tiền
Cảng cũng như xác định tình trạng kinh doanh của công ty trong quý I /2017.


3. Phạm vi nghiên cứu

Xét về góc độ kinh tế: Bán hàng là quá trình hàng hóa của doanh nghiệp được chuyển từ
hình thái vật chất (hàng) sang hình thái tiền tệ (tiền). Tùy thuộc vào hình thức bán hàng,
để chia ra thành thương mại bán buôn (bán sĩ) và bán lẻ.
Vì vậy, đẩy nhanh quá trình bán hàng đồng nghĩa với việc rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh
doanh, tăng nhanh vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp thương mại nói
riêng có những đặc điểm chính sau:


Có sự thay đổi thỏa thuận giữa người mua và người bán, người bán đồng ý bán, người

mua đồng ý mua và chấp nhận trả tiền.
• Có sự thay đổi quyền sở hữu hàng hóa: Người bán mất quyền sở hữu, người mua đã có
quyền sở hữu hàng hoa đã mua bán. Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp
cung cấp cho khách hàng một khối lượng hàng hóa và nhận lại một khoản gọi là doanh
thu bán hàng. Số doanh thu này là cơ sở để doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh
của mình.


1.1.1.2. Phương pháp bán hàng
Dưới góc độ kế toán, nghiên cứu các phương thức bán hàng để xác định trách nhiệm hàng
hóa và chi phí, thời điểm ghi chép doanh thu bán hàng vào sổ kế toán.
Đối với bán buôn (bán sỉ)
Có 2 phương thức bán hàng cơ bản:
-Bán hàng qua kho: Hàng hóa mua về được nhập vào kho sau đó mới xuất ra bán. Có 2
hình thức giao hàng:
+ Giao hàng tại kho: Theo hình thức này bên bán giao hàng tại kho bên bán, người đại
diện bên mua nhận hàng tại kho bên bán, ký vào hóa đơn bán hàng và nhận hàng cùng
với hóa đơn dành cho bên mua. Kể từ thời điểm này bên bán ghi nhận doanh thu bán
hàng và bên mua phải chịu trách nhiệm về hàng hóa, về chi phí phát sinh.

Thanh toán không dùng tiền mặt là thanh toán bằng cách:
- Chuyển khoản qua ngân hàng
- Séc
- Ngân phiếu.
1.1.2. Khái niệm về xác định kết quả kinh doanh
1.1.2.1. Khái niệm xác định kết quả kinh doanh


Xác định kết quả kinh doanh là hoạt động so sánh giữa chi phí đã bỏ ra và thu nhập kinh
doanh đã thu về trong kỳ thông qua báo cáo hoạt động kinh doanh.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng
quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (bao gồm kết quả hoạt
động kinh doanh thông thường và kết quả khác) trong một kỳ nhất định.
Nếu thu nhập lớn hơn chi phí thì kết quả bán hàng lãi, thu nhập nhỏ hơn chi phí thì kết
quả bán hàng là lỗ. Việc xác định kết quả kinh doanh thường được tiến hành vào cuối
thàng, cuối quý, cuối năm tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của
từng doanh nghiệp.
1.1.2.2.Cách xác định kết quả kinh doanh
Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố liên
quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí.
Mô hình dưới đây thể hiện sự vận động của doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh
doanh một cách tổng quát

Tiền

Hàng

Phải thu KH

Doanh thu thuần

doanh + Lợi nhuận khác.
- Có 3 trường hợp xảy ra:
Trường hợp 1: Lợi nhuận kế toán trước thuế thu nhập DN = 0: hòa vốn (ít xảy ra)
Trường hợp 2: Lợi nhuận kế toán trước thuế thu nhập DN0: Lãi
Lưu ý: Lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp theo công thức trên là xác định theo
nguyên tắc kế toán (tổng hợp lợi nhuận kế toán), còn thu nhập chịu thuế thu nhập doanh
nghiệp thì kế toán phải xác định lại theo quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp,
như vậy tổng lợi nhuận kế toán vè thu nhập chịu thuế thu nhập có thể không bằng nhau.
Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp = Thu nhập doanh nghiệp chịu thuế x thuế suất
thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp = lợi nhuận kế toán trước thuế - Chi phí Thuế
thu nhập doanh nghiệp.


+ Kết quả hoạt động kinh doanh bán hàng là số chênh lệch gữa doanh thu thuần về bán
hàng và doanh thu thuần hoạt động tài chính so với chi phí kinh doanh bao gồm: Giá vốn
hàng bán, chi phí tài chính, chi phí bán hàng và chi phụ quản lý doanh nghiệp.
Lợi nhuận thuần
Doanh
từ HĐ
thu bán
kinhhàng
doanh
thuần và cung cấp dịch vụ
phí quản lý DN
Chi phí bánChi
hàng
Giá vốn hàngChi
bánphí tài chính

TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
TK 3331 - Thuế GTGT phải nộp
TK 3387 - Doanh thu chưa thực hiện

và các TK liên quan khác(TK111,112,131...).
* TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Nội dung: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của
doanh nghiệp trong một kỳ kế toán của hoạt động sản xuất, kinh doanh từ các giao dịch
và các nghiệp vụ sau:
a) Bán hàng hóa: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hóa mua vào và
bán bất động sản đầu tư;
b) Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một kỳ,
hoặc nhiều kỳ kế toán, như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ theo
phương thức cho thuê hoạt động....
c) Doanh thu khác.
- Qui định về hạch toán TK 511:
 Điều kiện ghi nhận doanh thu

a) Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu bán hàng khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện
sau:


- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản
phẩm, hàng hóa cho người mua;
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hoặc
quyền kiểm soát hàng hóa;
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Khi hợp đồng quy định người mua được
quyền trả lại sản phẩm, hàng hóa, đã mua theo những điều kiện cụ thể, doanh nghiệp chỉ
được ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn tại và người mua
không được quyền trả lại sản phẩm, hàng hóa (trừ trường hợp khách hàng có quyền trả lại

kế toán có thể thấp hơn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ghi nhận ban đầu do các
nguyên nhân: Doanh nghiệp chiết khấu thương mại, giảm giá hàng đã bán cho khách
hàng hoặc hàng đã bán bị trả lại (do không đảm bảo điều kiện về quy cách, phẩm chất ghi
trong hợp đồng kinh tế);
Trường hợp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước, đến kỳ sau phải
chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hoặc hàng bán bị trả lại được ghi giảm doanh
thu theo nguyên tắc:
- Nếu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước, đến kỳ sau phải giảm giá,
phải chiết khấu thương mại, bị trả lại nhưng phát sinh trước thời điểm phát hành báo cáo
tài chính, kế toán phải coi đây là một sự kiện phát sinh sau ngày lập BCTC và ghi giảm
doanh thu trên BCTC của kỳ lập báo cáo.
- Trường hợp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải giảm giá, phải chiết khấu thương mại, bị
trả lại sau thời điểm phát hành Báo cáo tài chính thì doanh nghiệp ghi giảm doanh thu của
kỳ phát sinh.
 Doanh thu trong một số trường hợp được xác định như sau:


a) Doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ không bao gồm các khoản thuế gián thu phải
nộp, như thuế GTGT (kể cả trường hợp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp),
thuế TTĐB, thuế xuất khẩu, thuế bảo vệ môi trường.
Trường hợp không tách ngay được số thuế gián thu phải nộp tại thời điểm ghi nhận doanh
thu, kế toán được ghi nhận doanh thu bao gồm cả số thuế phải nộp và định kỳ phải ghi
giảm doanh thu đối với số thuế gián thu phải nộp. Khi lập báo cáo kết quả kinh doanh,
chỉ tiêu “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” và chỉ tiêu “Các khoản giảm trừ
doanh thu” đều không bao gồm số thuế gián thu phải nộp trong kỳ do về bản chất các
khoản thuế gián thu không được coi là một bộ phận của doanh thu.
b) Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp đã viết hóa đơn bán hàng và đã thu tiền bán hàng
nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua hàng, thì trị giá số hàng này không
được coi là đã bán trong kỳ và không được ghi vào tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ” mà chỉ hạch toán vào bên Có tài khoản 131 “Phải thu của khách

911 "Xác định kết quả kinh doanh".
=>Chú ý: TK 511 không có số dư cuối kì.
* TK 511 có 4 TK cấp II:
- Tài khoản 5111 - Doanh thu bán hàng hóa: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu
và doanh thu thuần của khối lượng hàng hóa được xác định là đã bán trong một kỳ kế
toán của doanh nghiệp. Tài khoản này chủ yếu dùng cho các ngành kinh doanh hàng hóa,
vật tư, lương thực,...
- Tài khoản 5112 - Doanh thu bán thành phẩm: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh
thu và doanh thu thuần của khối lượng sản phẩm (thành phẩm, bán thành phẩm) được xác
định là đã bán trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp. Tài khoản này chủ yếu dùng cho
các ngành sản xuất vật chất như: Công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp, ngư nghiệp, lâm
nghiệp,...


- Tài khoản 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh
thu và doanh thu thuần của khối lượng dịch vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách
hàng và được xác định là đã bán trong một kỳ kế toán. Tài khoản này chủ yếu dùng cho
các ngành kinh doanh dịch vụ như: Giao thông vận tải, bưu điện, du lịch, dịch vụ công
cộng, dịch vụ khoa học, kỹ thuật, dịch vụ kế toán, kiểm toán,...
- Tài khoản 5118 - Doanh thu khác: Tài khoản này dùng để phản ánh về doanh thu
nhượng bán, thanh lý bất động sản đầu tư, các khoản trợ cấp, trợ giá của Nhà nước…
1.2.1.3. Trình tự hạch toán
511

111,112,131...
Các khoản giảm trừ doanh thu

111,112
Doanh thu bán hàng và cung cấp
Dịch vụ

lại và từ chối thanh toán
- Giảm giá hàng bán: Hàng đã bán sau đó người bán, giảm trừ cho người mua một khoản
tiền do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
Theo quy định tại Thông tư 133/2016/TT-BTC, chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp các khoản
được ghi giảm trừ vào tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong năm, bao gồm:
Các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại trong kỳ báo
cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số phát sinh bên Nợ TK 511 đối ứng với bên
Có các TK 111, 112, 131, trong kỳ báo cáo.
Chỉ tiêu này không bao gồm các khoản thuế gián thu, phí mà doanh nghiệp không được
hưởng phải nộp NSNN (được kế toán ghi giảm doanh thu trên sổ kế toán TK 511) do các
khoản này về bản chất là các khoản thu hộ Nhà nước, không thuộc doanh thu nên không
được coi là khoản giảm trừ doanh thu.
1.2.2.3. Trình tự hạch toán
511

111,112,131
Các khoản giảm trừ doanh thu


1.2.3. Kế toán giá vốn hàng bán
1.2.3.1. Các phương pháp tính giá xuất hàng tồn kho.
Hàng tồn kho của doanh nghiệp là những tài sản được mua vào để sản xuất hoặc để bán
trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường, gồm:
- Hàng mua đang đi trên đường;
- Nguyên liệu, vật liệu;
- Công cụ, dụng cụ;
- Sản phẩm dở dang;
- Thành phẩm;
- Hàng hóa;
- Hàng gửi bán.

kê thực tế để phản ánh giá trị tồn kho cuối kỳ vật tư, hàng hóa trên sổ kế toán tổng
hợp và từ đó tính giá trị của hàng hóa, vật tư đã xuất trong kỳ.

k) Việc phân loại hàng tồn kho là vật tư hay thiết bị, phụ tùng thay thế tùy thuộc vào đặc
điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí vận chuyển, bảo quản hàng tồn kho phát sinh
trong quá trình mua hàng hoặc tiếp tục quá trình sản xuất, chế biến thì được ghi nhận vào
giá gốc hàng tồn kho. Chi phí vận chuyển, bảo quản hàng tồn kho liên quan đến việc tiêu
thụ hàng tồn kho thì được tính vào chi phí bán hàng.
1.2.3.2. Chứng từ sử dụng
- Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho;


- Biên bản kiểm kê vật tư, hàng hóa.
1.2.3.3. Tài khoản sử dụng
Tài khoản 632 – Giá vốn hàng bán


Nguyên tắc kế toán:

a) Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, bất động
sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp (đối với doanh nghiệp xây lắp) bán
trong kỳ. Ngoài ra, tài khoản này còn dùng để phản ánh các chi phí liên quan đến hoạt
động kinh doanh bất động sản đầu tư như: Chi phí khấu hao; chi phí sửa chữa; chi phí
cho thuê BĐSĐT theo phương thức cho thuê hoạt động; chi phí nhượng bán, thanh lý
BĐSĐT…
b) Khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính vào giá vốn hàng bán trên cơ sở số
lượng hàng tồn kho và phần chênh lệch giữa giá trị thuần có thể thực hiện được nhỏ hơn
giá gốc hàng tồn kho. Khi xác định khối lượng hàng tồn kho bị giảm giá cần phải trích
lập dự phòng, kế toán phải loại trừ khối lượng hàng tồn kho đã ký được hợp đồng tiêu thụ
(có giá trị thuần có thể thực hiện được không thấp hơn giá trị ghi sổ) nhưng chưa chuyển

+ Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn
kho sau khi trừ phần bồi thường do trách
nhiệm cá nhân gây ra;
+ Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn
kho (chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá
hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn số
dự phòng đã lập năm trước chưa sử dụng
hết).
+ Chi phí trích trước đối với hàng hóa bất
động sản được xác định là đã bán.

=>Tài khoản 632 không có số dư cuối kỳ.
1.2.3.4. Trình tự hạch toán

Bên Có
- Kết chuyển giá vốn của sản phẩm, hàng
hóa, dịch vụ đã bán trong kỳ sang tài khoản
911 “Xác định kết quả kinh doanh”;
- Khoản hoàn nhập dự phòng giảm giá
hàng tồn kho cuối năm tài chính (chênh
lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay
nhỏ hơn số đã lập năm trước);
- Trị giá hàng bán bị trả lại;
- Khoản hoàn nhập chi phí trích trước đối
với hàng hóa bất động sản được xác định là
đã bán (chênh lệch giữa số chi phí trích
trước còn lại cao hơn chi phí thực tế phát
sinh);
- Khoản chiết khấu thương mại, giảm giá
hàng bán nhận được sau khi hàng mua đã


155,157
Kết chuyển thành phẩm

trị hàng hóa tồn
kho đầu kỳ

Hàng gửi đi bán cuối kỳ

Kết chuyển giá trị hàng hóa
tồn kho cuối kỳ

155,157
Kết chuyển thành phẩm gửi đi bán đầu kỳ

631

2294
Hoàn nhập dự phòng, giảm

giá hàng tồn kho


Giá thành thực tế sản phẩm nhập kho; dịch
vụ hoàn thành của các đơn vị cung cấp
dịch vụ

Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

1.2.4. Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp


trong quyết toán thuế TNDN để làm tăng số thuế TNDN phải nộp.
Tài khoản 642 được mở chi tiết theo từng nội dung chi phí theo quy định. Tùy theo yêu
cầu quản lý của từng ngành, từng doanh nghiệp, tài khoản 642 có thể được mở chi tiết
theo từng loại chi phí như: chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Trong từng
loại chi phí được theo dõi chi tiết theo từng nội dung chi phí như:
a) Đối với chi phí bán hàng:
- Chi phí nhân viên: Phản ánh các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng
gói, vận chuyển, bảo quản sản phẩm, hàng hóa,... bao gồm tiền lương, tiền ăn giữa ca,
tiền công và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo
hiểm thất nghiệp,...
- Chi phí vật liệu, bao bì: Phản ánh các chi phí vật liệu, bao bì xuất dùng cho việc bảo
quản, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, như chi phí vật liệu đóng gói sản phẩm, hàng
hóa, chi phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản, bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng
hóa trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo quản TSCĐ,... dùng cho bộ
phận bán hàng.
- Chi phí dụng cụ, đồ dùng: Phản ánh chi phí về công cụ, dụng cụ phục vụ cho quá trình
tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa như dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán, phương tiện
làm việc,...


- Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán
hàng, như nhà kho, cửa hàng, bến bãi, phương tiện bốc dỡ, vận chuyển, phương tiện tính
toán, đo lường, kiểm nghiệm chất lượng,...
- Chi phí bảo hành: Dùng để phản ánh khoản chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa. Riêng
chi phí sửa chữa và bảo hành công trình xây lắp phản ánh ở TK 154 “Chi phí sản xuất
kinh doanh dở dang” mà không phản ánh ở TK này.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho bán
hàng như chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ phục vụ trực tiếp cho khâu bán hàng, tiền
thuê kho, thuê bãi, tiền thuê bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hóa đi bán, tiền trả hoa

khoản chi cho lao động nữ,...


Đối với sản phẩm, hàng hóa dùng để khuyến mại, quảng cáo:

- Trường hợp xuất sản phẩm, hàng hóa để khuyến mại, quảng cáo không thu tiền, không
kèm theo các điều kiện khác như phải mua sản phẩm, hàng hóa thì ghi nhận giá trị hàng
khuyến mại, quảng cáo vào chi phí bán hàng.
- Trường hợp xuất sản phẩm, hàng hóa để khuyến mại, quảng cáo nhưng khách hàng chỉ
được nhận hàng khuyến mại, quảng cáo kèm theo các điều kiện khác như phải mua sản
phẩm, hàng hóa (ví dụ như mua 2 sản phẩm được tặng 1 sản phẩm....) thì kế toán phản
ánh giá trị hàng khuyến mại, quảng cáo vào giá vốn hàng bán (trường hợp này bản chất
giao dịch là giảm giá hàng bán).


- Trường hợp doanh nghiệp có hoạt động thương mại được nhận hàng hóa (không phải trả
tiền) từ nhà sản xuất, nhà phân phối để quảng cáo, khuyến mại cho khách hàng mua hàng
của nhà sản xuất, nhà phân phối:
+ Khi nhận hàng của nhà sản xuất (không phải trả tiền) dùng để khuyến mại, quảng cáo
cho khách hàng, nhà phân phối phải theo dõi chi tiết số lượng hàng trong hệ thống quản
trị nội bộ của mình và thuyết minh trên Bản thuyết minh Báo cáo tài chính đối với hàng
nhận được và số hàng đã dùng để khuyến mại cho người mua (như hàng hóa nhận giữ
hộ).
+ Khi hết chương trình khuyến mại, nếu không phải trả lại nhà sản xuất số hàng khuyến
mại chưa sử dụng hết, kế toán ghi nhận thu nhập khác là giá trị số hàng khuyến mại
không phải trả lại.


Kết cấu nội dung tài khoản 642 – Chi phí quản lý kinh doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status