Rèn luyện kĩ năng nhận diện ngôn từ văn bản cho học sinh lớp 2, 3 trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản truyện - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======

TRẦN THU KHUYÊN

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NHẬN DIỆN NGÔN
TỪ VĂN BẢN CHO HỌC SINH LỚP 2,3
TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ĐỌC HIỂU
VĂN BẢN TRUYỆN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng việt ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học

PGS. TS ĐỖ HUY QUANG

Hà Nội, 2018


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Phó giáo
sư, Tiến sĩ Đỗ Huy Quang – người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn
các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã
tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Hà nội, ngày tháng

năm 2018

Sinh viên thực hiện


Sách giáo khoa

2

HS

Học sinh

3

GV

Giáo viên

4

NXB

Nhà xuất bản

5

STT

Số thứ tự

6

TN


1.1.1.2. Đọc hiểu, dạy học đọc hiểu trong giờ tập đọc .....................................8
1.1.1.3. Thể loại truyện, đặc trưng của thể loại truyện. ....................................9
1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ ........................................................................................10
1.1.2.1. Lý luận về ngôn ngữ học cấu trúc và văn bản truyện nhìn từ ngôn ngữ
học cấu trúc .....................................................................................................10
1.1.2.2. Lý luận về ngữ dụng học và văn bản truyện nhìn từ ngữ dụng học ..10
1.1.3. Cơ sở văn học ...........................................................................................12
1.1.3.1. Lý thuyết tiếp nhận và đọc hiểu văn bản truyện theo lý thuyết tiếp
nhận .................................................................................................................12
1.1.3.2. Lý thuyết ứng đáp và đọc hiểu văn bản truyện theo lý thuyết ứng đáp
.........................................................................................................................13
1.1.4. Cơ sở giáo dục ..........................................................................................15
1.1.4.1. Đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, phát triển cá
tính và khai thác tiềm năng trong mỗi người học ...........................................15
1.1.4.2. Dạy học theo lý thuyết kiến tạo, đọc hiểu là quá trình kiến tạo nghĩa
và ý nghĩa từ văn bản của người đọc ..............................................................17


1.2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................18
1.2.1. Khảo sát chương trình sách giáo khoa, quy trình dạy tập đọc. ................18
1.2.2. Khảo sát qua giáo viên ............................................................................22
1.2.3. Khảo sát qua học sinh...............................................................................23
Tiểu kết chương 1......................................................................................................24
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NHẬN DIỆN NGÔN TỪ
VĂN BẢN CHO HỌC SINH LỚP 2, 3 TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ĐỌC
HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN.....................................................................................26
2.1. Biện pháp rèn luyện kĩ năng nhận diện ngôn từ văn bản truyện theo ngôn ngữ
học cấu trúc ............................................................................................................26
2.1.1. Biện pháp rèn kĩ năng nhận diện cấu trúc văn bản truyện .......................26
2.1.1.1. Biện pháp rèn kĩ năng nhận diện tên văn bản, bố cục văn bản..........26

KẾT LUẬN ...............................................................................................................67
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................68


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết nhất ở bậc tiểu
học. Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy logic, việc học Tiếng Việt sẽ giúp
HS hình thành và phát triển tư duy hình tượng. Thông qua môn Tiếng Việt, các em
sẽ được học cách giao tiếp, cách truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mình một cách
chính xác và biểu cảm. Nhà trường tiểu học ở Việt Nam coi Tiếng Việt là một môn
học trung tâm, làm nền móng cho các môn học khác.
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng, đó là hình
thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho HS. Tập đọc là một phân môn của
chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học. Đây là phân môn có vị trí đặc biệt trong
chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng đọc, một kỹ
năng quan trọng hàng đầu của HS ở bậc học đầu tiên. Kỹ năng đọc có nhiều mức
độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội
dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Khi HS đọc
tốt, viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các môn học khác một cách chắc chắn. Từ
đó HS mới phát triển được năng lực giao tiếp của mình.
Trong quá trình dạy học phân môn Tập đọc ở tiểu học, việc rèn kĩ năng đọc
hiểu chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Rèn đọc hiểu giúp HS nâng cao năng lực tư
duy, từ đó chiếm lĩnh được kiến thức và vận dụng theo năng lực của bản thân.Trong
chương trình Tập đọc lớp 2, 3, mỗi tuần HS được học một văn bản truyện. Từ việc
học văn bản truyện, HS được rèn luyện kĩ năng đọc, đọc hiểu và kể. Sau mỗi văn
bản đều có hệ thống câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu bài, HS muốn trả lời được những
câu hỏi đó đòi hỏi phải hiểu và nhận diện được những từ ngữ quan trọng trong bài
để trả lời.
Dạy học Tiếng Việt ở các trường phổ thông hiện nay đã và đang đổi mới từ

- Nguyễn Thanh Hùng là người có hàng chục cuốn sách và bài báo về đọc hiểu
và dạy học đọc hiểu. Năm 2008, chuyên luận Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong
nhà trường được ấn hành, là công trình có giá trị cao, nghiên cứu sâu về lý thuyết
đọc hiểu, bao quát được những nội dung cốt yếu, phát triển và cập nhật các công
trình nghiên cứu trên thế giới. Ông khẳng định “Đọc hiểu cần tách ra khỏi vòng
kiểm soát chật hẹp của phương pháp để trở thành nội dung tri thức chung gắn liền


với lý thuyết tiếp nhận, lý luận giao tiếp, thi pháp học, lý luận dạy học ngữ văn. Dạy
đọc hiểu là tạo nền tảng văn hóa cho người đọc” (Tr.149).
- Trần Đình Sử, tổng chủ biên bộ sách Ngữ văn THPT (bộ nâng cao) là người
dành nhiều tâm huyết cho vấn đề dạy học đọc hiểu. Theo ông “Đọc hiểu văn bảnmột khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay”, “dạy văn là
dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để giúp các em hiểu bất cứ văn bản nào
cùng loại”.
- Phan Trọng Luận, tác giả giáo trình Phương pháp dạy học Văn và nhiều
chuyên luận liên quan đến dạy đọc hiểu văn như Văn chương, bạn đọc sáng tạo
(2003), Văn học nhà trường, nhận diện, tiếp cận, đổi mới (2011), Phương pháp
luận giải mã văn bản văn học (2014). Ông còn là tổng chủ biên bộ sách Ngữ văn
THPT (bộ cơ bản). Trong cuốn Phương pháp luận giải mã văn bản văn học, ông rất
đề cao cách dạy văn ở Mỹ theo Lý thuyết ứng đáp và muốn chuyển giao cách dạy
đó về Việt Nam.
- Nguyễn Văn Tùng trong cuốn “Lí luận văn học và đổi mới đọc hiểu tác
phẩm” (2012, NXB Giáo dục Việt Nam) đề cập đến 2 vấn đề: bàn về nội hàm ý
nghĩa những thuật ngữ văn học và ứng dụng lí luận văn học vào việc khám phá giá
trị nghệ thuật của các tác phẩm văn học đang được giảng dạy trong nhà trường.
- Nguyễn Trọng Hoàn trong “Đọc hiểu Ngữ văn 6, 7, 8, 9” đã đề cập đến vấn đề
đọc hiểu văn học. Tác giả khái quát từ góc độ về quan niệm, giải pháp đọc hiểu văn
bản Ngữ văn đến góc độ cụ thể như một số vấn đề đọc hiểu văn, thơ trữ tình và các
tác phẩm văn chương nghị luận.
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học đọc hiểu ở tiểu học

đọc ở Tiểu học.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thể loại: truyện
+ Đối tượng học sinh: lớp 2, 3
+ Phạm vi khảo sát: một số lớp 2, 3 ở trường tiểu học Quang Minh A, Hà
Nội.


5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí thuyết và khảo sát để có những đánh giá thực trạng trong
thực tiễn làm cơ sở lí luận cho đề tài.
- Xây dựng những biện pháp để rèn luyện kĩ năng nhận diện ngôn từ văn bản
cho HS lớp 2, 3 trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản truyện.
- Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi và tính hiệu quả của đề xuất
trong khoá luận.
6. Phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu, tôi sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, tổng hợp các vấn đề lí thuyết: tìm hiểu các
tài liệu liên quan đến đề tài, xây dựng các luận điểm cho đề tài, đưa ra các dữ liệu
làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn thông qua nhiều hoạt động: khảo sát, quan
sát thực tiễn, dự giờ, khảo sát những sản phẩm dạy học của GV và HS để:
+ Khai thác những kinh nghiệm tốt
+ Đánh giá một cách khách quan thực tiễn
+ Biết được, nghe được những mong muốn, đề xuất của người dạy và người
học
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: thực hiện phương pháp này để thể nghiệm
các biện pháp khoá luận đưa ra nhằm nâng cao năng lực đọc hiểu hiệu quả cho giờ
Tập đọc ở các lớp 2, 3.
7. Cấu trúc của khoá luận

động”. Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện
trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động.
Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu: Kỹ năng là năng lực thực hiện một hành
động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và tận dụng những tri thức,
cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra.
* Kỹ năng nói: Kỹ năng nói là một kỹ năng quan trọng cần trang bị, rèn luyện
cho mỗi người. Kĩ năng nói được hiểu là khả năng, trình độ biểu đạt ngôn ngữ, âm


thanh. Kỹ năng nói không đơn thuần là nói mà còn thể hiện cử chỉ, điệu bộ, thái
độ,...để diễn đạt được chính xác nội dung, thể hiện đầy đủ mọi ý định, bộc lộ được
những tình cảm tinh tế nhất. Vì vậy, có thể khẳng định việc rèn kỹ năng nói là một
trong những hoạt động cần thiết trong nhà trường.
Theo chúng tôi, kỹ năng nói là: Khả năng, trình độ biểu đạt ngôn ngữ, là cách
thức thực hiện hài hòa có kết quả việc sử dụng ngôn ngữ kết hợp với các hành vi cử
chỉ, điệu bộ của chủ thể trong hoạt động giao tiếp với những hoàn cảnh, tình huống
thực tế khác nhau.
*Kỹ năng nhận diện ngôn từ văn bản thể loại truyện: Đọc hiểu, theo Nguyễn
Thái Hòa là tích hợp của kỹ năng đọc và kỹ năng hiểu. Đọc là đọc phần chữ của văn
bản, hiểu là quá trình đi tìm nghĩa, ý nghĩa chứa trong ngôn từ văn bản. Hai kỹ năng
này hỗ trợ cho nhau, cần đến nhau. Đọc phần chữ của văn bản không đơn giản chỉ
là phát lên âm thanh của chữ mà phải thấy liên kết của văn bản, liên kết theo cấu
trúc, theo giao tiếp, theo loại thể, theo thi pháp...Nhận diện được sự phong phú
trong tổ chức văn bản của truyện sẽ có điều kiện đọc được các tầng nghĩa và ý nghĩa
phong phú của văn bản.
* Rèn kĩ năng: Một số kỹ năng cần rèn luyện là: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng
đọc và kỹ năng diễn đạt.
- Kỹ năng lắng nghe: Lắng nghe không đồng nhất với nghe. Nghe chỉ là một
hoạt động vô ý thức của con người còn lắng nghe là một khả năng của hệ thần kinh.
Khi lắng nghe, nhờ hoạt động của tư duy mà chúng ta hiểu được nội dung thông

văn bản); bước đầu biết kết nối và đánh giá thông tin trong văn bản và vận dụng
những thông tin đó vào giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống.
Chương trình giáo dục phổ thông, chương trình tổng thể, Bộ GD-ĐT, tháng 4
năm 2017, cho biết “Thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, chương trình
giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và
năng lực, tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp người học tích lũy được kiến
thức phổ thông vững chắc; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học
suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển
hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong


phú”. Từ đó, dạy học đọc hiểu ở tiểu học cũng phải đổi mới theo định hướng hình
thành và phát triển năng lực người học. Giờ Tập đọc ở tiểu học, GV không chỉ giúp
HS hiểu nghĩa từ, nghĩa câu, nghĩa đoạn, nghĩa và ý nghĩa toàn bài mà còn phải tập
trung rèn luyện cho HS 2 năng lực, năng lực trở thành người đọc độc lập, biết cách tự
đọc hiểu văn bản cùng loại ở ngoài SGK và năng lực biết chuyển nội dung bài đọc
vào cuộc sống để giải quyết các vấn đề đặt ra liên quan đến người đọc.
1.1.1.3. Thể loại truyện, đặc trưng của thể loại truyện
* Thể loại truyện: Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Long – Quang Hùng,
Nxb Từ điển bách khoa thì truyện là “sự việc có lớp lang, sự tích hoặc tưởng tượng
được kể lại”.
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi (Chủ biên) thì: “Truyện là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai
phương thức khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại văn học”.
Có thể thấy truyện là thể loại phản ánh cụ thể hiện thực đời sống một cách
khách quan bằng việc kể lại sự việc, miêu tả tính cách nhân vật, chi tiết, có đầu có
đuôi thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh và độc đáo, kể lại bởi một người kể
chuyện (trần thuật) nào đó.
* Đặc trưng của thể loại truyện. Theo cuốn “Phân tích tác phẩm văn học theo
loại thể”, (Trần Thanh Đạm chủ biên, NXB Giáo dục 1970), thể loại truyện có 3 đặc

các thực thể, các tính chất và các khía cạnh khác của thế giới để chuyển tải, xử lý và
gán nghĩa, cũng như điều khiển và giải quyết sự mơ hồ.
Văn bản truyện nhìn từ ngôn ngữ học cấu trúc sẽ thấy mối liên kết chặt chẽ của
hệ thống gồm từ, câu, đoạn, bài, tiêu đề của bài; các biện pháp tu từ được sử dụng
như ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh, điệp từ, điệp ngữ; các phương thức biểu đạt
trên văn bản như đoạn kể, đoạn tả, biểu cảm, lập luận, đoan đối thoại, đoạn độc
thoại. Phân tích văn bản thành các yếu tố thành phần như thế này là để có điều kiện
nhận diện văn bản truyện cụ thể hơn, hỗ trợ cho việc xác định nghĩa, ý nghĩa trong
văn bản đầy đủ, phong phú hơn.
1.1.2.2. Lý luận về ngữ dụng học và văn bản truyện nhìn từ ngữ dụng học


Ngữ dụng học là một chuyên ngành thuộc ngôn ngữ học và tín hiệu học, nghiên
cứu về sự đóng góp của bối cảnh tới nghĩa. Ngữ dụng học bao hàm cả Lý thuyết
hành vi ngôn từ, Hàm ngôn hội thoại, tương tác lời nói và cả những cách tiếp cận
khác tới hành vi ngôn ngữ như triết học, xã hội học và nhân học. Ngữ dụng học
nghiên cứu về cách làm sao nghĩa lại được chuyển tải qua không chỉ cấu trúc và
hiểu biết ngôn ngữ (ngữ pháp, từ vưng, v.v..) của người nói và người nghe, mà còn
qua cả ngữ cảnh của phát ngôn, cùng với những hiểu biết có từ trước đó liên quan
tới chủ đề, ý đồ được suy ra của người nói, và các yếu tố khác nữa.
Trong chương trình giáo dục ở nhiều quốc gia, môn học về tiếng mẹ đẻ là một bộ
môn trọng yếu. Ở nước ta, Tiếng Việt cũng có vai trò như vậy, nó cung cấp cho HS
một số khái niệm cơ bản và thiết thực về ngôn ngữ học nói chung và Tiếng Việt nói
riêng để các em có thể tự giải thích các hiện tượng ngôn ngữ đơn giản về tiếng mẹ
đẻ. Dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp là xu hướng hiện đại đã được rất
nhiều nước thực hiện từ rất lâu và đạt được những thành quả không thể phủ nhận.
Do đó, dạy học Tiếng Việt cũng không nằm ngoài nguyên tắc ấy. Giao tiếp trong
dạy học Tiếng Việt được hiểu như một chỉ dẫn định hướng bao trùm, là một nguyên
tắc dạy học, phương pháp giảng dạy và mục đích dạy học để làm cho người học
không chỉ thụ đắc được kiến thức thuần túy ngôn ngữ học mà còn hình thành được

phẩm chỉ khi đến tay người đọc. Đời sống của tác phẩm văn học diễn tiến từ 2 phía:
người sáng tạo ra nó và phía người tiếp nhận. Nghiên cứu văn học cũng xuất phát từ
2 phía: phía sáng tạo và phía tiếp nhận. Nhưng từ trước tới nay, lí luận văn học chủ
yếu nghiên cứu khâu sáng tác. Với tư cách là một lý thuyết khoa học, lý thuyết tiếp
nhận là một bổ sung cần thiết cho khoa học nghiên cứu văn học nhằm khám phá đầy
đủ hơn tác phẩm văn học và sự vận hành của nó trong đời sống. Mối quan hệ giữa
người đọc và tác phẩm là vấn đề trung tâm của lý thuyết tiếp nhận, là cơ sở lý luận
của lý thuyết tiếp nhận. Nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận chính là nghiên cứu mối
quan hệ biện chứng giữa tác phẩm và người đọc.
Người đọc bình thường bao gồm tất cả công chúng thuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi,
giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thành phần xã hội, thị hiếu thẩm mĩ và
khuynh hướng tư tưởng. Công chúng tiếp nhận văn học xuất phát từ thực tiễn đời


sống và nhu cầu tự nhiên của tình cảm vì thế mà sự tiếp nhận cũng muôn màu đa
dạng. Có thể phân biệt nhiều loại tiếp nhận: tiếp nhận của bạn đọc nói chung, tiếp
nhận của nhà văn, nhà phê bình và đặc biệt ở đây chúng ta khai thác vấn đề tiếp
nhận của học sinh. Như chúng ta đã biết, tiếp nhận của HS có đặc thù riêng. Thứ
nhất, tuổi đời của các em còn rất trẻ, tâm lí đang giao thoa giữa tính cách trẻ con và
người lớn nên chưa ổn định. Thứ hai là do non tuổi nên tri thức về lịch sử xã hội
còn hạn hẹp. Tuy vậy, ở lứa tuổi này các em bắt đầu hình thành tính chủ định trong
tư duy nhận thức. Các em có nhu cầu tự khám phá những đặc điểm tâm lí và lí giải
nó theo quan điểm riêng. Tuy non nớt về tuổi đời nhưng các em lại có một tâm hồn
tinh tế, rộng mở, trí tưởng tượng phong phú, đa dạng, khả năng liên tưởng cao. Vấn
đề là làm thế nào để kích thích, định hướng và phát huy những mặt tích cực cũng
như hạn chế những tiêu cực của tác phẩm lên tư tưởng, tâm hồn các em. Phát huy
vai trò bạn đọc, năng lực cảm thụ của HS là huy động một cách khoa học những
năng lực chủ quan của các em, để các em thật sự thấy hứng khởi, chủ động tham gia
vào quá trình tiếp nhận văn học, như thế giờ dạy học mới có hiệu quả.
1.1.3.2. Lý thuyết ứng đáp và đọc hiểu văn bản truyện theo lý thuyết ứng đáp

- Đánh giá các quan điểm, ý tưởng, thái độ của nhân vật, nhà văn dựa trên
những niềm tin và hệ giá trị riêng
- Đặt câu hỏi về những điểm mà mình chưa rõ về văn bản
- Chia sẻ, lắng nghe, thảo luận về các ứng đáp của mình và bạn cùng nhóm, lớp
- Đặt mình vào địa vị, tình thế của nhân vật để chiêm nghiệm ...
Các dạng câu hỏi, bài tập cho HS ứng đáp với văn bản vô cùng phong phú đa
dạng. Tuy nhiên, có thể tóm tắt một số dạng khái quát như sau:
- Cảm xúc, ấn tượng của em như thế nào khi đọc văn bản?
- Em lưu tâm đến vấn đề/ Em đặt ra câu hỏi nào khi đọc văn bản?
- Văn bản đồng quan điểm hoặc khác quan điểm với em về những vấn đề gì?
Trích dẫn những dòng cụ thể trong văn bản để chứng minh cho quan điểm của em.


- Nếu em là nhân vật, em sẽ hành động theo cách nào? Nếu em là tác giả, em có
muốn viết lại phần kết thúc câu chuyện không? Giả sử em là người biên tập, em sẽ
đề nghị tác giả viết lại câu/ phần/ đoạn nào trong văn bản? Vì sao?
- Văn bản này gợi nhắc em nhớ đến những văn bản nào khác? Trích dẫn các
dòng trong văn bản và giải thích mối liên hệ đó.
- Đánh giá chung của em về văn bản này? v..v.....
Đọc hiểu mang bản chất của hoạt động nhận thức, nhằm giải mã văn bản, tiếp
nhận mọi giá trị, mọi thông tin chứa trong văn bản. Nhưng nếu hoạt động nhận thức
chỉ gồm quá trình chuyển tri thức từ ngoài vào trong trí tuệ HS thì chưa đủ, chưa
khép kín hoạt động nhận thức và kết quả nhận thức không được kiểm soát. Phải có
quá trình ứng đáp, phản hồi, đánh giá, HS nói ra quan điểm, thái độ riêng của mình
khi tiếp nhận. Và quá trình này phải diễn ra từ bước nhận diện văn bản đến hiểu văn
bản, đến đánh giá và vận dụng kết quả đọc hiểu.
1.1.4. Cơ sở giáo dục
1.1.4.1. Đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, phát triển cá
tính và khai thác tiềm năng trong mỗi người học
Kiến thức và sự hiểu biết về nguyên tắc đảm bảo chất lượng ngày càng mở rộng

những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn.
GV là người tổ chức và chỉ đạo HS tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến
thức mới, vận dụng kiến thức đã biết vào thực tiễn...
- Chú trọng rèn luyện cho HS biết khai thác SGK và các tài liệu học tập, biết
cách nhớ lại những kiến thức đã có, suy luận để phát hiện kiến thức mới. Định
hướng cho HS cách tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, … để dần hình
thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.
- Tăng cường phối hợp học tập cá nhân với học tập hợp tác, lớp học trở thành
môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh
nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
- Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến
trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát
triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS với nhiều hình thức như theo


lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán,
tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.
1.1.4.2. Dạy học theo lý thuyết kiến tạo, đọc hiểu là quá trình kiến tạo nghĩa và
ý nghĩa từ văn bản của người đọc
Lý thuyết kiến tạo ứng dụng trong dạy học dựa trên việc nghiên cứu quá trình
học tập của con người, từ đó hình thành quan điểm dạy học phù hợp với cơ chế đó.
Ở nhiều quốc gia, lý thuyết kiến tạo đã trở thành xu hướng tất yếu của đổi mới giáo
dục.
Phương pháp dạy học dựa trên Lý thuyết kiến tạo là một trong những phương
pháp dạy học tích cực. Phương pháp này coi trọng vai trò chủ động của người học
trong quá trình học tập, người học chủ động tự xây dựng hiểu biết cho bản thân, tự
kết nối thông tin mới với thông tin hiện tại để kiến thức mới có ý nghĩa và tạo nên
các thông tin mới khác. GV sẽ làm công việc chỉ định, mà chỉ khi đi theo đúng chỉ
định ấy HS mới có được những tri thức họ cần. Khi này người học mới phát hiện ra
những lối đi mới, bất ngờ, để tiếp cận lời giải hợp lý trên cơ sở suy đoán logic.

dân tộc anh em trên đất nước ta đến các hoạt động văn hóa, khoa học, thể thao và
các vấn đề của xã hội như bảo vệ hòa bình, phát triển hữu nghị, sự hợp tác giữa các
dân tộc, bảo vệ môi trường sống, chinh phục vũ trụ.
* Quy trình dạy học Tập đọc lớp 2, 3
Quy trình dạy học gồm các bước như sau:
- Bước 1: Giới thiệu bài
- Bước 2: Luyện đọc:
+ GV đọc mẫu toàn bài
+ HS luyện đọc:
Luyện đọc câu, kết hợp luyện phát âm:
Thao tác 1: Đọc nối tiếp câu (đọc so sánh từng tiếng trong câu)
Thao tác 2: Luyện phát âm đọc đúng tiếng dễ lẫn, dễ sai, tiếng khó
Luyện đọc đoạn trước lớp:
Thao tác 1: Đọc nối tiếp đoạn trước lớp
Thao tác 2:Luyện đọc đúng câu dài, câu khó đọc
Giải nghĩa từ khó, từ mới,...
+ Luyện đọc đoạn trong nhóm
+ Thi đọc đoạn
+ Đọc đồng thanh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status