1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh lý phức tạp do nhiều yếu tố và nhiều gen
gây nên. Theo thông báo của Liên đoàn ĐTĐ quốc tế IDF (International
Diabetes Federation) hiện nay có khoảng 415 triệu người mắc ĐTĐ type 2 và
con số này sẽ tăng lên tới 642 triệu người vào năm 2020 nếu không có hành
động can thiệp kịp thời. IDF cũng ước tính là 183 triệu người không biết rằng
họ mắc ĐTĐ [1]. Tại Việt Nam tỷ lệ mắc ĐTĐ rất cao và cũng đang gia tăng
nhanh chóng. Theo điều tra năm 1990 điều tra tại Hà Nội, Huế, thành phố Hồ
Chí Minh tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 tương ứng là 1,20%, 0,96% và 2,52% [2].
Thống kê năm 2008, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ trong cả nước là trên 5,0% (khoảng
4,5 triệu người), tại các thành phố lớn và khu công nghiệp có tỷ lệ từ 7,0%
đến 10,0% [3]. Như vậy chỉ sau 10 năm tỷ lệ ĐTĐ đã gia tăng 300% [4]. Tỷ
lệ mắc bệnh ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới kéo
theo những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế đối với toàn xã hội.
ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 trên thế giới, gây giảm tuổi
thọ trung bình từ 5 đến 10 năm, là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà và suy
thận giai đoạn cuối [5].
Có rất nhiều nguyên nhân làm gia tăng biến chứng của ĐTĐ như chế độ
ăn uống không hợp lý, ít vận động, không tuân thủ chế độ chăm sóc và điều
trị, cũng như dùng thuốc không đúng. Ngoài ra còn một số yếu tố khác cũng
góp phần làm gia tăng biến chứng trên như là đa hình gen, trong đó có gen
MTHFR C677T, C (cytosine) biến đổi thành T (thymine), ở vị trí nucleotid số
677 làm biến đổi acid amin valine thành alanine. Gen MTHFR C677T làm
tăng nồng độ homocystein (Hcy) máu do làm giảm hoạt tính enzyme methyl
tetrahydrofolat reductase (MTHFR), giảm chuyển hóa Hcy thành methionine.
Do đó ức chế phát triển nội mạc, giảm đáp ứng vận mạch, giảm tác dụng
2
Định nghĩa
Theo WHO 2002: Đái tháo đường (ĐTĐ) là tình trạng tăng đường máu mạn
tính phối hợp với rối loạn chuyển hoá carbohydrate, lipid, protein do thiếu hụt
bài tiết insulin hoặc hoạt động kém hiệu quả của insulin hoặc cả hai [16].
1.1.2.
Tình hình đái tháo đường type 2 trên thế giới và Việt Nam
Các chuyên gia của WHO đã dự báo: "Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của các
bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hoá, đặc biệt bệnh ĐTĐ sẽ là bệnh không lây
phát triển nhanh nhất". Số người mắc ĐTĐ trên toàn thế giới tăng từ 171 triệu
người năm 2000 lên 194 triệu người năm 2003, đã tăng vọt lên 246 triệu
người năm 2006 và được dự báo tăng lên 380 - 399 triệu người vào 2025.
ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 trên thế giới, gây giảm tuổi
thọ trung bình từ 5 đến 10 năm, là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà và suy
thận giai đoạn cuối. Cứ 10 giây lại có một người chết do nguyên nhân ĐTĐ
và các biến chứng. Chi phí cho điều trị ĐTĐ của toàn thế giới năm 2007 ước
tính khoảng 232 nghìn tỷ đô la Mỹ, dự báo tăng lên khoảng 302 nghìn tỷ đô la
Mỹ vào năm 2025 [17], [18].
Tỷ lệ ĐTĐ tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á cũng tương đối cao.
Tại Philippine, kết quả điều tra quốc gia năm 2008 cho thấy tỷ lệ ĐTĐ là 7,2%,
trong đó tỷ lệ ĐTĐ khu vực thành thị là 8,3% và khu vực nông thôn là 5,8%
[19]. Theo kết quả điều tra năm 2008, tỷ lệ ĐTĐ tại Indonesia là 5,7% [20].
Ở Việt Nam, ĐTĐ đang gia tăng theo thời gian và theo mức
độ phát triển kinh tế cũng như đô thị hóa. Năm 2001, điều tra
4
5
Đa số bệnh nhân tình cờ phát hiện ĐTĐ khi đi thử máu (75%) và có tới
50% mắc đái tháo đường 1 - 5 năm mà không có triệu chứng. Cũng có nhiều
trường hợp bệnh nhân vào viện với các biến chứng nặng nề của đái tháo
đường như nhiễm trùng bàn chân, TBMMN, hôn mê TALTT,…
1.1.5. Triệu chứng cận lâm sàng [16]
−
Đường huyết lúc đói > 126 mg/dl (hoặc > 7 mmol/l).
−
Đường niệu dương tính.
−
HbA1c: HbA1c > 6,5%, HbA1c tăng (đường máu kiểm soát không tốt).
−
Peptid C: Bình thường hoặc tăng.
−
Định lượng insulin máu: Bình thường hoặc tăng.
−
Chẩn đoán xác định ĐTĐ khi có một trong các tiêu chuẩn theo Hiệp hội
đái tháo đường Mỹ (ADA - American Diabetes Association) 2014 [22]:
− Đường máu huyết tương lúc đói (bệnh nhân nhịn đói ít nhất 8 giờ) ≥ 1,26 g/l
hoặc 7,0 mmol/l (ít nhất 2 lần vào 2 ngày khác nhau).
− Đường máu huyết tương làm bất kỳ thời điểm nào ≥ 2 g/l hoặc 11,1 mmol/l
kèm theo các triệu chứng của tăng đường huyết (ăn nhiều, uống nhiều, đái
nhiều, gầy nhiều).
6
− Đường huyết 2 giờ sau uống 75 g glucose > 11,1 mmol/l (nghiệm pháp tăng
đường huyết).
− HbA1c > 6,5% bằng phương pháp sắc lỏng ký cao áp.
1.1.7. Biến chứng
Đường huyết cao là yếu tố rất quan trọng đối với biến chứng của bệnh
nhân ĐTĐ. Có 4 cơ chế khác nhau phối hợp gây nên các biến chứng của ĐTĐ
[23]. Thứ nhất, tăng AGEs (Advances glycation end products): Sự tăng
glucose máu kéo dài gây ra hiện tượng glycosyl hóa protein thông qua con
đường không enzym. Các sản phẩm chuyển hóa glycosyl hóa bậc cuối này là
những tác nhân tiền viêm mạnh. Nó gây biến đổi cấu trúc protein dẫn đến
biến đổi chức năng tế bào, đồng thời kích thích gia tăng sản xuất các cytokin
và yếu tố tăng trưởng, làm xơ vữa mạch máu, giảm chức năng cầu thận, biến
đổi nội mạc mạch máu do giảm sản xuất nitric oxyde, thay đổi chất gian bào
(HbA1c cũng là một AGEs, do glycosyl hoá hemoglobin, bình thường chiếm
< 6,5% tổng số hemoglobin, có vai trò quan trọng trong chẩn đoán sự ổn định
Rối loạn chức năng mạch máu và thần kinh
Thẩm thấu thành mạch
Rối loạn chức năng thần kinh
Bệnh thận ĐTĐ
Thiếu oxy võng mạc
Tân tạo vi mạch
Mất thị lực
Hình 1.1. Cơ chế bệnh sinh của bệnh ĐTĐ type 2
(Nguồn />(PKC: Protein kinase C; AGE: Advanced glycagon end production)
1.1.6.1. Biến chứng cấp tính [16]
a.
Hôn mê do nhiễm toan ceton
Hôn mê do nhiễm toan ceton là biến chứng cấp tính của ĐTĐ có nguy cơ
tử vong cao. Nguyên nhân là do tăng các hormon gây tăng đường huyết và
thiếu hụt insulin làm giảm sản xuất glucose tại gan, giảm chuyển hóa glucose,
tăng ly giải lipid, tăng tổng hợp thể ceton gây toan ceton. Hậu quả cuối cùng
8
dẫn tới tình trạng lợi niệu thẩm thấu gây ra tình trang mất nước và điện giải,
toan chuyển hóa.
b. Biến chứng thận
9
Cơ chế tổn thương thận trong bệnh ĐTĐ phức tạp, có sự tham gia của rất
nhiều yếu tố, trong đó hai yếu tố quan trọng là tăng glucose máu mạn tính và
vấn đề huyết động của thận (tăng áp lực cầu thận) đóng vai trò chính gây nên
một loạt biến đổi trong cấu trúc thận, ngoài ra có thể chịu ảnh hưởng mạnh
bởi yếu tố gen.
Con đường chuyểnCon
hóađường huyết động
Tăng glucose máu mạn tính
Tăng áp lực lọc
AGE
RAAS
PKC
VEGF
Con đường Polyo
TGF - β
Sản phẩm oxy hóa
Endothelin
− Tổn thương thận mất bù sau khi tiêm thuốc cản quang trong chụp đường
tiết niệu, chụp mạch, nong động mạch vành có thể gây suy thận cấp.
d. Bệnh lý mạch máu lớn
Biểu hiện xơ vữa nhiều mạch máu lớn: Thiếu máu cơ tim im lặng, nhồi
máu cơ tim (50% tử vong), viêm tắc động mạch chi dưới gây hoại tử khô,
viêm xương, tắc mạch bàn chân, cẳng chân, phải cắt cụt chi, TBMMN, tắc
mạch thận, THA, suy thận. Xơ vữa động mạch sớm lan rộng ảnh hưởng đến
các mạch máu.
e. Biến chứng thần kinh
Định nghĩa bệnh lý thần kinh ĐTĐ theo ADA 2005: “Sự hiện diện của các
triệu chứng và/hoặc dấu hiệu của rối loạn chức năng thần kinh ngoại biên ở
người ĐTĐ sau khi đã loại trừ các nguyên nhân khác”. Chẩn đoán bệnh lý
thần kinh ĐTĐ là một chẩn đoán loại trừ. Thường phối hợp với bệnh lý võng
mạc, bệnh lý thận tạo thành “tam bệnh” đặc hiệu của ĐTĐ [25].
f.
Biến chứng xương và khớp
− Bệnh lý bàn tay ở người ĐTĐ trẻ tuổi: Tay cứng dần do co kéo da ở trên
khớp. Nguyên nhân do biến đổi các collagen và các protein khác ở mô liên
kết.
− Gãy Dupuytren: Cân ở gan tay dày thành nốt, gây biến dạng như vuốt thú.
− Mất chất khoáng xương.
g. Bàn chân người ĐTĐ
− Chế độ ăn: Thực hiện chế độ ăn hợp lý, cân đối giữa các thành phần glucid
(chiếm 50 - 60%), protid (chiếm 15 - 20%), lipid (chiếm 20 - 30%). Nên chọn
loại thực phẩm có chỉ số tăng đường huyết thấp nhiều chất xơ, kiêng đồ ăn
ngọt. Chế độ ăn không những kiểm soát glucose máu mà còn ngăn ngừa các
biến chứng [26].
12
− Hoạt động thể lực: Tối thiểu 30 phút/ngày, 5 ngày/tuần lưu ý đường huyết,
huyết áp trước tập. Các loại hình luyện tập như đi bộ, bơi lội, cầu lông, leo
cầu thang,... Hoạt động thể lực thường xuyên hàng ngày, việc giảm 5% trọng
lượng cơ thể làm giảm 55% tỷ lệ mắc ĐTĐ trên nhóm đối tượng nguy cơ cao
[27], [17].
− Điều trị insuline: Bắt đầu 0,2 UI/kg/ngày, thường là 0,3 - 0,6 UI/kg/ngày.
− Điều trị bằng thuốc: Các nhóm thuốc điều trị tăng đường huyết bao gồm
nhóm kích thích tụy bài tiết insuline (sulphonylure), nhóm thuốc làm tăng
nhạy cảm insuline ở ngoại vi, giảm đề kháng insuline (metformin,
thiazolidinedione), nhóm ức chế enzym alpha glucosidase (acarbose), nhóm
glinid,... Thầy thuốc phải nắm vững cách sử dụng các thuốc hạ glucose máu
bằng đường uống, sử dụng insulin, cách phối hợp thuốc trong điều trị và
-
những lưu ý đặc biệt về tình trạng người bệnh khi điều trị bệnh ĐTĐ [3].
Điều trị yếu tố nguy cơ: THA, rối loạn lipid, các biến chứng,...
1.1.2. Gen MTHFR
nhãn áp, rối loạn tâm thần, và một số loại ung thư. Nguyên nhân được cho là
gen MTHFR C677T làm thay đổi hoặc giảm hoạt động của enzyme
methylene tetrahydrofolate reductase, dẫn đến sự gia tăng Hcy trong máu.
14
Hình 1.4. Vai trò của MTHFR trong chu trình chuyển hóa acid folic
(Nguồn: />Khi Hcy máu tăng, Hcy nhanh chóng bị oxy hóa tạo thành hỗn hợp
disulfides và Hcy thiolactone, đồng thời sinh ra các gốc oxy hóa superoxide
và hydrogen peroxide, gây tổn thương màng tế bào nội mô, gián tiếp thông
qua hydrogen peroxide do làm bộc lộ cấu trúc phía dưới và tế bào cơ trơn,
thúc đẩy quá trình tăng sinh và hoạt hóa tiểu cầu, bạch cầu [31], [32]. Đồng
thời khi đó quá trình tự oxy hóa Hcy tạo ra những dạng oxygen độc tế bào
khác bao gồm gốc anion superoxide và gốc hydroxyl. Superoxide khởi đầu
cho sự oxy hóa lipid, quá trình này xảy ra ở màng bào tương tế bào nội mô và
phân tử lipoprotein trọng lượng phân tử thấp. Ngoài ra Hcy làm thay đổi quá
trình đông máu thông qua tăng cường hoạt động của yếu tố V, XII và ức chế
15
hoạt động của protein C, ức chế thrombomodulin, cũng như hoạt tính của
heparin sulfat, từ đó thúc đẩy quá trình hình thành cục máu đông [33], [29],
[30], [34], [35]. Như vậy sự giảm hoạt tính enzyme MTHFR do gen MTHFR
C677T ảnh hưởng tới quá trình chuyển hóa acid folic và dẫn tới nhiều tình
trạng bệnh lý. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều yếu tố về di truyền và môi trường tác
động vào bệnh lý nói trên [36], [37], [38].
Homocysteine
16
nghiên cứu này, chúng tôi chỉ quan tâm tới đa hình gen MTHFR C677T, C
(cytosine) biến đổi thành T (thymine) ở vị trí nucleotid số 677 làm biến đổi
valine thành alanine. Từ đó hình thành nên các kiểu gen 677CC, 677CT và
677TT. Những người mang gen MTHFR ở dạng đồng hợp tử 677TT thì
enzyme hoạt động ít hơn 70% so với bình thường, còn ở dạng dị hợp tử
677CT là 30 - 40% [29], [30].
Nghiên cứu của Ozmen, Xianhui Qin, Emoto M, Tessari P chỉ ra rằng
những người mắc ĐTĐ có nồng độ Hcy máu cao hơn những người không
mắc ĐTĐ [39], [40], [41], [42]. Theo tác giả Han Wang, Cong Hu và Shu Hui Xiao nồng độ Hcy máu ở người Trung Quốc mang kiểu gen MTHFR
677CC là 11,3 µmol/l, MTHFR 677CT là 12,1 µmol/l, còn MTHFR 677TT là
12,5 µmol/l [43]. Theo Santosh Kumar Gupta thì có sự khác biệt về nồng độ
Hcy giữa người mang gen MTHFR 677CC (17,38 ± 8,01 µmol/l) với người
mang gen MTHFR 677TT (30,4 ± 15,7 µmol/l) ở nhóm người khỏe mạnh
cũng như ở nhóm có nguy cơ mắc bệnh lý động mạch cảnh (21,67 ± 10,84
µmol/l với 45,53 ± 14,71 µmol/l) (p
Exon 1
Linnebank M et al [52]
IVS2+533G→A
n/a (intronic)
Intron 2
Rosenberg N et al [53]
677C→T
A222V
Exon 4
Frosst P et al [54]
1068T→C
S352S
Exon 6
Goyette P et al [55]
IVS6+31T→C
n/a (intronic)
Intron 6
Goyette P et al [56]
1298A→C
E429A
Exon 7
Viel A et al [57]
1317T→C
F435F
Exon 7
Weisberg I [58]
IVS10+262C→G n/a (intronic)
Intron 10
Linnebank M et al [52]
1793G→A
129
61
24
677CC
n (%)
72 (40,0)
45 (47,9)
172 (34,0)
312 (53,0)
51 (42,2)
57(83,8)
172 (41,6)
77 (59,7)
55 (90,2)
24 (87,5)
Gen
677CT
n (%)
85 (48,0)
42 (44,7)
196 (39,0)
234 (40,0)
53 (43,8)
11 (16,2)
183 (42,2)
42 (32,6)
6 (9,8)
3 (12,5)
Wilcken [61]
Scheneider [62]
Wilcken [61]
Wilcken [61]
Sadewa [63]
Sedewa [63]
Hegele [64]
Sadewa [63]
Schneider [62]
Schneider [62]
1.2.4. Mối liên quan đa hình gen MTHFR với các chỉ số lâm sàng và cận lâm
sàng ở bệnh nhân ĐTĐ type 2
18
ĐTĐ type 2 là bệnh lý phức tạp do nhiều yếu tố và nhiều gen gây nên, là
vấn đề sức khỏe lớn trên toàn thế giới. Bệnh nhân mắc ĐTĐ tăng nguy cơ tim
mạch từ 2 - 6 lần so với bệnh nhân không mắc ĐTĐ [2].
MTHFR tham gia vào quá trình chuyển hóa của acid folic, nó xúc tác sự
hình thành của 5 - methyl tetrahydrofolate từ 5,10 - methylene
tetrahydrofolat. 5 -methyl tetrahydrofolat xúc tác cho chu trình chuyển hóa từ
homocystein thành methyonine. Do đó, khi gen MTHFR bị đột biến sẽ làm
tăng nồng độ Hcy trong huyết tương bệnh nhân. Từ đó:
− Thúc đẩy tăng sinh tế bào cơ trơn mạch máu, ức chế phát triển tế bào nội mạc.
− Rối loạn chức năng mạch máu do giảm đáp ứng vận mạch cũng như giảm đáp
ứng của thrombomodulin ở động mạch chủ.
− Ức chế tác dụng của heparin, ức chế phóng thích NO (nitro oxyde) và
tăng
sản xuất
glucose thông
qua hoạt
hóa
phosphoenolpyruvate carboxykinase và ức chế protein kinase B. H2S cũng ức
chế AMP - activated protein kinase do đó làm tăng nồng độ glucose máu, có
thể dẫn tới kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ type 2. Như vậy với việc làm tăng
nồng độ glucose máu mạn tính ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 sẽ làm làm gia tăng
các biến chứng của ĐTĐ.
20
Insulin bình
thường
Sản xuất
glucose
Sản xuất
glucose
Dung nạp
glucose
sống tại New Delhi từ năm 2005 đến năm 2008 chỉ ra rằng gen MTHFR 677CT
làm tăng các chỉ số cholesterol, LDL - C, triglycerid hơn so với nhóm mang gen
MTHFR 677CC (95 %CI = 1,27 - 2,94) [69]. Còn theo Frosst P và cộng sự thì
gen MTHFR là yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh lý mạch máu [70].
Khi nghiên cứu trên 156 bệnh nhân đái tháo đường type 2, Makiko Maeda
đã chỉ ra tần số mang gen MTHFR 677CT là 40%, đồng thời cũng xác định
mối liên quan giữa đa hình gen MTHFR C677T với các chỉ số lâm sàng và
cận lâm sàng như tuổi, giới, BMI, HbA1C, glucose máu, HDL - C (high
density lipoprotein cholesterol), LDL - C, cholesterol, triglycerid, và
creatinin. Ngoài ra Maeda còn nhận thấy rằng tỷ lệ gen MTHFR 677TT ở
bệnh nhân có biến chứng võng mạc do đái tháo đường cao hơn các kiểu gen
còn lại [71].
Nghiên cứu của Vlad Shpichinetsky kết luận rằng đa hình gen MTHFR
C677T có mối liên quan với sự phát triển của bênh thận ở bệnh nhân đái tháo
đường [72].
1.2.5. Một số phương pháp giảm Hcy máu
Hcy máu tăng sẽ làm gia tăng biến chứng ở bệnh nhân ĐTĐ type 2. Do đó
việc kiểm soát nồng độ Hcy máu rất quan trọng ở những bệnh nhân này. Hcy
được chuyển hóa thành methionine thông qua xúc tác của 5 - methyl
tetrahydrofolat và coenzyme vitamin B12. Vì vậy để làm giảm nồng độ Hcy
máu người ta cần bổ sung vitamin B12, acid folic hoặc folate cho những bệnh
nhân này. Acid folic là chất tổng hợp và không có trong tự nhiên. Khi bổ sung
acid folic, acid folic nhanh chóng chuyển thành dihydrofolate (DHF) rồi tetra
22
hydrofolate (THF) dưới tác dụng của enzyme dihydrofolate reductase
(DHFR) Nhờ enzyme methylene tetrahydrofolate dehydrogenase 1 (MHFD1),
THF lại chuyển thành 5,10 - methylene tetrahydrofolate (5,10 - MTHF). 5,10
24
Hình 1.10. Quá trình chuyển hóa Hcy
(Nguồn />Folate không giống acid folic, được biết đến như một nhóm các chất khác
nhau có thể tìm thấy trong tự nhiên dưới dạng:
Dihydrofolate
Methylfolate
Monoglutamin folate
Polyglutamin folate
Folate còn có nhiều trong các loại thực phẩm: Các loại hạt đậu (đậu
-
tương, đậu đen, đậu xanh,…) quả bơ, súp lơ xanh, trái cây họ cam, gan động
vật (gan gà, gan vịt,…), lòng đỏ trứng,… [75]. Với bệnh nhân mắc ĐTĐ type
2, ngoài chế độ ăn cho người tiểu đường thì nên bổ sung những loại thực
phẩm trên để giúp làm giảm nồng độ Hcy máu.
Bảng 1.4. Hàm lượng folate trong 100 gam phần ăn được của một số thực phẩm
Tên thực phẩm
Hàm lượng folate Tên thực phẩm
Hàm lượng folate
25
(100g)
(µg)
(Nguồn: Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam – Viện dinh dưỡng)
1.1.3. Các phương pháp phân tích đa hình gen MTHFR
Với sự phát triển của sinh học phân tử, hiện nay có rất nhiều kỹ thuật
để xác định kiểu gen. Một số kỹ thuật được sử dụng phổ biến trong nghiên
cứu như kỹ thuật ARMS - PCR (amplification refractory mutation system PCR: Hệ thống khuếch đại đột biến chịu nhiệt), ASP - PCR (Allelen specific PCR: Phản ứng khuếch đại chuỗi đặc hiệu alen), real - time multiplex PCR,
Sequencing (giải trình tự gen trực tiếp). Trong đó, ARMS - PCR là phương
pháp có độ nhạy cao, kỹ thuật đơn giản và giá thành rẻ, được áp dụng rộng rãi
trong các labo sinh học phân tử ở Việt Nam. Bởi vậy, trong phạm vi của đề
tài, tôi xin trình bày những nét chính của kỹ thuật ARMS - PCR, là kỹ thuật
liên quan đến việc xác định kiểu gen MTHFR trong nghiên cứu này. Ngoài ra
độ tin cậy của kỹ thuật này được kiểm chứng bằng giải trình tự gen. Về cơ
bản, kỹ thuật ARMS - PCR được tiến hành dựa trên cơ sở khuếch đại đoạn
gen nghi ngờ mang đột biến bằng kỹ thuật PCR.
1.3.1. Kỹ thuật PCR
Phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction) được Karry Millus đưa
ra vào năm 1985 và được Saiki hoàn thiện vào năm 1988, kể từ đó tạo nên
một tác động to lớn đối với các nghiên cứu sinh học trên toàn thế giới. PCR là