SỞ Y TẾ BẮC NINH
BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỊ XÃ TỪ SƠN
LÊ THỊ MINH NGUYỆT
THùC TR¹NG T×NH TR¹NG THIÕU M¸U ë PHô N÷
Cã THAI
BA TH¸NG CUèI §ÕN KH¸M T¹I BÖNH VIÖN §A
KHOA Tõ S¥N
N¡M 2017 Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N QUAN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Bắc Ninh, 2017
SỞ Y TẾ BẮC NINH
BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỊ XÃ TỪ SƠN
LÊ THỊ MINH NGUYỆT
THùC TR¹NG T×NH TR¹NG THIÕU M¸U ë PHô N÷
Cã THAI
BA TH¸NG CUèI §ÕN KH¸M T¹I BÖNH VIÖN §A
KHOA Tõ S¥N
N¡M 2017 Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N QUAN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Chủ nhiệm đề tài: Thạc sĩ LÊ THỊ MINH NGUYỆT
: Thể tích trung bình hồng cầu
PNCT
: Phụ nữ có thai
RDW
: Độ phân bố của kích thước hồng cầu
TC
: Tiểu cầu
TMDD
: Thiếu máu dinh dưỡng
TMTS
: Thiếu máu thiếu sắt
UNICEF : Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc
WHO
: Tổ chức y tế thế giới
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
3.2. Tỷ lệ và đặc điểm thiếu máu của PNCT...............................................23
3.3. Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở PNCT:.................................24
Chương 4: BÀN LUẬN.................................................................................29
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu..........................................29
4.1.1. Tuổi của PNCT..............................................................................29
4.1.2. Số lần có thai.................................................................................29
4.1.3. Số con đã có..................................................................................30
4.1.4. Số lần nạo, hút, sảy thai.................................................................30
4.1.5. So sánh các chỉ số của tế bào máu ngoại vi của PNCT với nhóm
phụ nữ Việt Nam bình không có thai.............................................31
4.2. Tỷ lệ thiếu máu và đặc điểm thiếu máu của PNCT..............................32
4.2.1. Tỷ lệ thiếu máu..............................................................................32
4.2.2. Đặc điểm thiếu máu.......................................................................33
4.3. Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở PNCT..................................33
4.3.1. Liên quan tuổi với thiếu máu.........................................................33
4.3.2. Liên quan trình độ văn hóa với thiếu máu.....................................34
4.3.3. Liên quan số lần đẻ với thiếu máu.................................................35
4.3.4. Liên quan số lần mang thai với thiếu máu....................................35
4.3.5. Liên quan số lần nạo, hút, sảy thai với thiếu máu.........................36
4.3.6. Liên quan giữa thiếu máu ở PNCT với uống viên sắt hàng ngày
trong thai kì.....................................................................................36
4.3.7. Liên quan giữa thiếu máu ở PNCT với chế độ dinh dưỡng giàu sắt...37
KẾT LUẬN....................................................................................................38
KIẾN NGHỊ...................................................................................................39
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
liên quan đến nhiều yếu tố nguy cơ về sức khỏe, sự sống còn của cả mẹ và
con cũng như hạnh phúc của mỗi gia đình.
Trong thời kỳ mang thai, sự hình thành và phát triển của thai nhi thuộc
rất nhiều vào sức khoẻ của mẹ. Việc nuôi dưỡng thai chịu ảnh hưởng của sự
cung cấp máu từ tuần hoàn của người mẹ tới bánh rau và thai. Nếu tuần hoàn
máu mẹ đầy đủ sẽ cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho thai, ngược lại nếu người
mẹ bị thiếu máu trong giai đoạn mang thai sẽ có ảnh hưởng xấu tới sự phát
triển của thai [6].
Tình trạng thiếu máu ở phụ nữ có thai rất phổ biến ở các nước đang phát
triển. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), ở các nước đang phát triển,
56% phụ nữ có thai bị thiếu máu; ở các nước phát triển, tỉ lệ này là 16%. Riêng ở
châu Phi, tỉ lệ này là 55,8%, châu Á: 41,6%; châu Mỹ La Tinh là 31,1%, và châu
Âu là 18,7% [29].
Thiếu máu trong thời kì mang thai là một trong những nguyên nhân gây
sẩy thai, thai lưu, đẻ non, thai chậm phát triển trong tử cung, hoặc trẻ đẻ ra
nhẹ cân, thiếu máu. Đối với mẹ, tỷ lệ tử vong khi đẻ ở người mẹ bị thiếu máu
sẽ cao hơn sản phụ bình thường [6]. Thiếu máu làm tăng tai biến chảy máu
trong và sau đẻ, nhiễm khuẩn hậu sản, sót rau, choáng trong cuộc đẻ, chậm
phục hồi sức khỏe của sản phụ sau đẻ [6].
Như vậy, tìm hiểu về thiếu máu ở phụ nữ có thai, ngoài ý nghĩa y học
còn mang ý nghĩa xã hội rõ rệt. Sự hiểu biết đầy đủ các khía cạnh của vấn đề
này như tỉ lệ mắc bệnh, các mối liên quan…sẽ đóng góp một phần quan trọng
2
vào sự nghiệp bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em nói chung cũng như trong việc
làm giảm tỉ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai nói riêng.
Bệnh viện đa khoa thị xã Từ Sơn là Bệnh viện hạng II chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân Từ Sơn và các huyện lân cận, ngoài trách nhiệm khám,
điều trị các bệnh liên quan đến cơ quan sinh sản, bệnh viện còn thực hiện
trọng nhất là sự thiếu hụt của 4 yếu tố: Sắt, Acid folic, Vitaminh B12 và
Protein, vì sẽ dẫn đến hậu quả thiếu năng lượng và thiếu máu. Bởi vậy, tình
trạng thiếu máu dinh dưỡng (TMDD) là một trong những vấn đề về sức khoẻ
cộng đồng hay gặp nhất ở phụ nữ có thai.
1.1.1.1. Khái niệm về thiếu máu
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, thiếu máu là tình trạng giảm số lượng hồng
cầu, giảm hàm lượng Hb trong một đơn vị thể tích máu, gây tình trạng thiếu
oxy tổ chức, trong đó sự thiếu hụt Hb là quan trọng nhất. Thiếu máu là hiện
tượng bệnh lý hay gặp trong thai nghén, xảy ra khi mất sự cân bằng giữa hai
quá trình sản xuất hồng cầu với nhu cầu tăng về số lượng hồng cầu và khối
lượng máu [26].
Bệnh thiếu máu ảnh hưởng đến gần một nửa số phụ nữ mang thai trên
thế giới: tỷ lệ trung bình là 52% ở các nước đang phát triển so với 23% ở các
4
nước phát triển. Các nguyên nhân phổ biến nhất của thiếu máu là do nghèo
đói, không đủ sắt và vi chất dinh dưỡng khác, sốt rét, bệnh giun móc, sán
máng, nhiễm HIV và bệnh lý Hemoglobin là những yếu tố thêm vào [5].
1.1.1.2. Quan niệm về thiếu máu ở phụ nữ mang thai
Trước đây các tác giả Âu - Mỹ, lấy tiêu chuẩn như sau [23]:
- Hb từ 13,7 - 14 g/dl
Bình thường
- Hb > 11 g/dl
Không thiếu máu
- Hb từ 10 - 11 g/dl
+ Do thiếu nguyên liệu tạo máu: thiếu sắt, acid folic, vitamin B12,
protein... Đây là những nguyên nhân gây thiếu máu chủ yếu trong thai nghén,
thực chất đó là loại TMDD [1].
5
+ Do chảy máu, mất máu cấp hoặc mạn tính, như: sảy thai băng huyết,
sinh đẻ nhiều, bệnh sốt rét, giun sán, chủ yếu là giun móc… Ngoài ra còn các
nguyên nhân khác như: tan máu, bệnh lý cơ quan tạo máu, giảm chức năng
tuỷ xương, do huỷ HC, loạn sản tuỷ, bệnh HC khổng lồ [1].
1.1.2. Phân loại thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai
Loại thiếu máu phổ biến nhất ở PNMT là TMDD. Các yếu tố dinh
dưỡng chủ yếu có liên quan với quá trình tạo máu là sắt, acid folic, vitamin
B12, và protein. Thông thường sự bổ sung các chất dinh dưỡng tối cần thiết
này ở PNMT thông qua ăn uống là không đáp ứng được đầy đủ.
Nhu cầu về các vi chất dinh dưỡng đều tăng cao ở phụ nữ mang thai,
trong đó đặc biệt là: iron, zinc, calcium, Vitamin A…
1.1.2.1. Thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ có thai
- Nguyên nhân thiếu máu do thiếu sắt (TMTS) ở PNMT là do lượng sắt
đưa vào giảm, trong khi nhu cầu tăng cao, do nôn nghén nhiều, giảm nồng độ
toan dịch vị, chế độ ăn uống nghèo nàn, thiếu thức ăn có nguồn gốc thực vật [3].
- Trên lâm sàng, sự thiếu sắt có thể diển ra lâu dài trước khi thiếu máu
thực sự xuất hiện, chỉ khi lượng Hb giảm rõ rệt làm giảm khả năng vận
chuyển oxy tới các tổ chức mới gây ra các triệu chứng thực thể.
- Triệu chứng cận lâm sàng: Đây là loại thiếu máu nhược sắc, Hb giảm
nhiều hơn giảm số lượng HC [1]. TMTS làm tăng nguy cơ thiếu vitamin A ,
B12, C và E , thiếu acid folic, và riboflavin [1]. Sắt huyết thanh giảm dưới
500µg/l, ferritin huyết thanh giảm dưới 12µg/l và chỉ số bão hòa transferin
cũng giảm dưới 16% [2].
1.1.2.2. Thiếu máu do thiếu acid folic ở phụ nữ có thai
thiếu máu do thiếu acid folic, cụ thể là: số lượng hồng cầu giảm, bạch cầu và
tiểu cầu giảm nhẹ, bạch cầu hạt giảm, và nhân chia nhiều múi, vitamin B12
huyết thanh giảm dưới 100pg/ml. Dịch vị thiểu toan hoặc vô toan [17].
7
1.1.2.4. Thiếu máu do thiếu protein ở phụ nữ có thai
Đây là loại thiếu máu không chỉ thiếu protein đơn thuần mà thường kèm
theo thiếu sắt, acid folic, vitamin và các yếu tố vi lượng khác. Khi thiếu
protein sẽ ảnh hưởng đến sự tạo thành và trưởng thành của tế bào, đặc biệt là
các tế bào ở các cơ quan có tốc độ hình thành và phân chia nhanh như hệ
thống tạo máu..do đó sẽ gây thiếu máu.
Nguyên nhân: chế độ ăn nghèo protein, thói quen ăn kiêng ở nơi có tập
tục lạc hậu. Hấp thu kém do nghén hoặc do bệnh lý đường tiêu hoá . Do tăng
cao nhu cầu protein ở phụ nữ đẻ nhiều, đẻ dày, đa thai, tiền sử băng huyết ở
các lần đẻ trước… [22].
Lâm sàng: suy dinh dưỡng đi trước thiếu máu, tính chất thiếu máu
nhược sắc. Cận lâm sàng: protein máu giảm, albumin giảm [17].
1.1.3. Nguyên nhân thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ
trong thời kỳ mang thai
1.1.3.1. Khẩu phần ăn không cung cấp đủ dinh dưỡng
Có nhiều nguyên nhân gây ra thiếu máu ở PNCT, trong đó thiếu máu do
cung cấp dinh dưỡng không đầy đủ đóng vai trò quan trọng nhất. Nếu trong
khi mang thai chế độ ăn uống không tăng lên, thiếu thức ăn có nguồn gốc
động vật (thịt, cá, trứng, sữa…) dẫn tới không đáp ứng đủ năng lượng,
protein, sắt, các vitamin và các yếu tố vi lượng cần thiết. Đồng thời khi bị
nghén, nôn nhiều, giảm độ toan dịch vị càng dẫn tới rối loạn hấp thu, làm tăng
nguy cơ thiếu dinh dưỡng. Kết quả một số nghiên cứu cho thấy TMTS ở
PNMT chiếm từ 70% đến hơn 80% các trường hợp thiếu máu [17].
Yếu tố khẩu phần liên quan đến thiếu vi chất dinh dưỡng bao gồm:
1.1.3.4. Bệnh nhiễm trùng và bệnh ký sinh trùng
Nhiễm trùng làm ảnh hưởng tới bộ máy tiêu hoá, phá huỷ các tuyến
nhày của dạ dày, làm cho ăn uống kém và mất ngon miệng. Đặc biệt nếu có
viêm dạ dày, do xoắn khuẩn Helicobacter pylori sống ở hang vị, khu trú và
phát triển ở niêm mạc dạ dày kiềm hoá, đồng thời sản sinh chất catalase,
9
protease, lipase dẫn tới việc kém hấp thu các chất dinh dưỡng và các vi chất
dinh dưỡng [3].
Nhiễm ký sinh trùng đường ruột gây tác hại lớn, vì ký sinh trùng chiếm
mất chất dinh dưỡng của cơ thể (như giun đũa), hút máu và gây chảy máu
thành ruột (như giun móc). Hậu quả nghiêm trọng nhất của giun móc là gây
mất máu mạn tính từ tá tràng và hỗng tràng, dẫn đến TMTS. Ngoài ra, giun
còn tiết ra chất độc như ascarridol, chất ức chế các men pepsin, cathepsin, và
chymotrypsin của cơ thể dẫn tới chán ăn, rối loạn tiêu hoá. Đối với giun tóc,
ký sinh ở đại tràng và hút máu, gây tổn thương niêm mạc đại tràng và gây hội
chứng lỵ [3].
1.1.4. Hậu quả của thiếu máu ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai
1.1.4.1. Thiếu máu khi mang thai ảnh hưởng đến sức khoẻ người mẹ
Thiếu máu làm tăng tỷ lệ các biến chứng trong thai nghén, như sảy thai,
băng huyết. Đồng thời làm tăng tỷ lệ đẻ khó, mổ lấy thai và tăng các biến cố
sau đẻ, như đờ tử cung băng huyết.
Thiếu máu khi mang thai cũng làm giảm sự tăng cân sinh lý của người
mẹ. Sức khoẻ mẹ giảm sút, sức đề kháng giảm, làm tăng nguy cơ nhiễm
khuẩn hậu sản, mắc các bệnh truyền nhiễm, tỷ lệ mắc bệnh tăng và tỷ lệ tử
vong của mẹ cũng tăng [5].
1.1.4.2. Thiếu máu thai nghén ảnh hưởng đến thai nhi và trẻ sau đẻ
Thiếu máu khi mang thai làm tăng tỷ lệ sảy, đẻ non, con chết lưu và
giảm cân nặng sơ sinh. Thiếu máu nặng khi mang thai cũng làm chiều dài trẻ
- Truyền máu: truyền máu hiếm khi được sử dụng trong thời gian mang thai.
- Bổ sung viên sắt dự phòng:
+ Bổ sung sắt - acid folic hàng ngày cho PNCT: Uống bổ sung viên sắt
hàng ngày được xem là giải pháp quan trọng, giải quyết tình trạng thiếu máu
11
ở PNCT, đã được WHO khuyến cáo và đang áp dụng tại Việt Nam. PNCT có
thể uống viên sắt ngay khi mang thai, đều đặn suốt thời gian mang thai cho tới
sau khi sinh 1 tháng. Liều bổ sung là 60mg sắt nguyên tố (1 viên/ngày), kèm
theo acid folic, vitamin B12… [21].
+ Bổ sung viên sắt dự phòng cho đối tượng nguy cơ cao: việc bổ sung
viên sắt cho phụ nữ gầy yếu, mới kết hôn cần thực hiện sớm, đó là giải pháp
quan trọng, giải quyết tình trạng thiếu máu ở cộng đồng. Đồng thời với việc
uống viên sắt, phụ nữ trẻ còn được tư vấn sớm về thiếu máu và thai nghén,
bởi vậy vừa giúp họ phòng tránh thiếu máu lại có hiểu biết và hành vi đúng
đắn trong chăm sóc sức khỏe sinh sản [5].
1.3. Tình hình thiếu máu của phụ nữ có thai trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình thiếu máu của phụ nữ có thai trên thế giới
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1992, ước tính trên thế giới có
gần 2 tỉ người bị thiếu sắt; 1,2 tỉ người có biểu hiện thiếu máu và hay gặp ở
các nước đang phát triển, ở Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La tinh [22].
Tại Châu Á, tình trạng thiếu máu rất phổ biến, đặc biệt nghiêm trọng ở
Nam á nơi mà PNCT bị thiếu máu với tỷ lệ cao. Nghiên cứu về tỷ lệ và loại
thiếu máu ở PNCT nghèo ở Karachi - Pakistan năm 1994 cho thấy trong 318
PNCT có 104 PNCT (32,7%) bị thiếu máu. Thiếu máu do thiếu sắt là nguyên
nhân nổi bật, chiếm tới 63,5% PNCT bị thiếu máu [20]
Tại Ấn Độ, nghiên cứu trên 16 quận cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNCT là
84,9%, trong đó tỷ lệ thiếu máu nặng (Hb< 70g/l) chiếm đến 13,1% [24].
Cũng theo tổ chức Y tế thế giới (2001) có 43% phụ nữ 15 - 49 ở các
thường, không dùng các chế phẩm chứa sắt có nguy cơ thiếu máu gấp 6,9 lần
bình thường. PNCT bị thiếu máu dinh dưỡng có nguy cơ sảy thai cao gấp 2,3
lần và nguy cơ sinh non cao gấp 2,6 lần bình thường [15].
Qua các nghiên cứu chúng ta thấy tỉ lệ thiếu máu ở PNCT nước ta còn
cao, phổ biến với mức độ nặng và vừa ở nhiều tỉnh thành ở Việt Nam, có sự
dao động theo vùng sinh thái. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là thiếu máu do thiếu
sắt. Các công trình nghiên cứu chủ yếu đưa ra tỷ lệ thiếu máu và những yếu tố
dịch tễ liên quan tới thiếu máu ở PNCT.
14
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ có thai 3 tháng cuối đến khám thai tại phòng khám sản bệnh
viện đa khoa Từ Sơn và làm xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi
bằng máy.
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Tiền sử khỏe mạnh.
- Tuổi thai từ 28 trở lên, tính theo ngày đầu của kỳ kinh cuối. Nhớ
chính xác ngày đầu kì kinh cuối hoặc tuổi thai được khẳng định bằng kết quả
siêu âm trong 3 tháng đầu.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- PNCT có bệnh lý về máu.
- Mất máu cấp do tai nạn, chấn thương.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 07 năm 2017 tại bệnh
viện đa khoa Từ Sơn.
2.3. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
đủ tiêu chuẩn được đưa vào nghiên cứu.
2.5. Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Đặc điểm chung về PNCT
- Tuổi PNMT: < 24; 25 – 29; 30 – 34; ≥ 35 tuổi.
- Trình độ văn hóa: tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, cao
đẳng và đại học.
- Tuổi thai hiện tại: 28- 42 tuần.
- Lần có thai thứ mấy: 1lần, 2 lần, ≥ 3 lần.
- Số lần nạo, hút, sảy thai: 0 lần, ≥ 1 lần.
- Số con đã có:
+ MCV= 80-100 fl: kích thước hồng cầu bình thường;
+ MCV > 100 fl: kích thước hồng cầu to.
- MCH (Lượng HST trung bình hồng cầu) [18]..
+ Bình thường MCH= 28-32 pg
+ MCH< 27pg: hồng cầu nhược sắc
- MCHC (Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu) [18].:
+ MCHC< 300 g/l: hồng cầu nhược sắc
+ MCHC= 300-360 g/l: hồng cầu đẳng sắc
- RDW (Độ phân bố của kích thước hồng cầu) [18].
+ Bình thường RDW= 12%- 15%
+ RDW > 15% là kích thước hồng cầu không đều