ĐẶT VẤN ĐỀ
Thủng ổ loét dạ dày tá tràng là một biến chứng thường gặp của bệnh loét
dạ dày tá tràng, chiếm từ 5-10, đứng hàng thứ ba trong cấp cứu bụng ngoại
khoa, đứng thứ hai trong viêm phúc mạc thứ phát sau viêm ruột thừa.
Loét dạ dày tá tràng là bệnh lý gặp phổ biến ở nhiều nước trên thế giới
cũng như ở Việt Nam, thường tiến triển thành từng đợt và hay tái phát với nhiều
biến chứng nguy hiểm.Là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn
chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ em.Giữa thế kỷ XX, tần suất loét dạ dày không thay đổi,
nhưng loét tá tràng có xu hướng tăng và tỉ lệ loét tá tràng /loét dạ dày là 2/1, và
đa số gặp ở nam giới. Có khoảng 10-15% dân chúng trên thế giới bị bệnh
LDDTT ở Anh và ở Úc là 5, 2-9, 9%, ở Mỹ là 5-10%. Hiện nay có khoảng 10%
dân chúng trên thế giới bị LDDTT và ảnh hưởng tại một số thời điểm trong cuộc
sống của họ.
Có nhiều nguyên nhân gây bệnh LDDTT như vi khuẩn Helicobacter
pylori, do tình trạng tăng tiết acid, yếu tố tâm lý căng thẳng kéo dài gây mất cân
bằng cho chức năng dạ dày, hình thành bệnh viêm loét dạ dày. Hoặc no đói
không đều: Khi đói, axit hydrochloric và các chất xúc tác trong dạ dày ở nồng
độ khá cao dẫn tới tình trạng "tự tiêu hóa" niêm mạc. Khi ăn quá no lại dễ làm
tổn thương "cơ chế" tự bảo vệ của dạ dày . Khi ăn uống thất thường, không
đúng bữa, không được nghỉ ngơi, bệnh sẽ dễ phát và tái phát. Uống quá nhiều
rượu, hóa chất và các bệnh tự miễn khác cũng là nguyên nhân dẫn đến bệnh
LDDTT.
Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy điều trị thành công các vết
loét dạ dày tá tràng là có thể. Tuy nhiên do người bệnh không biết chữa, không
biết phòng ngừa đúng phương pháp, chưa có đủ hiểu biết về cách chăm sóc, tự
phòng bệnh. Chính vì thế bệnh LDDTT trở thành vấn đề quan tâm y tế của nước
ta và nhiều nước trên thế giới. Việc cung cấp cho bệnh nhân một số kiến thức về
bệnh giúp họ tránh được những yếu tố làm bệnh nặng thêm. Bệnh nhân kiêng
1
tràng gây ra do acid clohydric, pepsin
.
1.1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
a. Nguyên nhân:
Loét xảy ra là do tăng nồng độ hoặc hoạt động của acid pepsin hoặc là do
giảm sự chống đỡ bình thường của niêm mạc dạ dày tá tràng. Một số nguyên
nhân sau thường hay gặp.
- Di truyền: Tần suất cao ở một số gia đình. Loét dạ dày tá tràng xảy ra ở 2 anh
em sinh đôi đồng noãn hơn là dị noãn.
3
- Tăng tiết pepsinogen I phối hợp với tăng tiết acid HCL.
- Cường gastrin máu do u gastrinome trong bệnh đa u nội tiết nhóm I.
- Cường gastrin máu do phì đại tế bào G vùng hang vị.
- Các bệnh lý di truyền khác phối hợp với loét: Bệnh mastocytose, hội chứng
run, sang chấn và loét.
- Yếu tố tâm lý: Ở người có nhiều sang chấn tình cảm, hoặc trong giai đoạn căng
thẳng .
- Rối loạn vận động: Đó là sự làm vơi dạ dày và sự trào ngược của tá tràng dạ
dày.
- Yếu tố môi trường
- Yếu tố tiết thực: Bản chất của thức ăn, gia vị, giờ ăn hoặc tốc độ ăn nhanh
dường như không đóng vai trò trong bệnh nguyên của loét. Tuy nhiên không loại
trừ loét phân bố theo địa dư là có sự đóng góp của thói quen về ăn uống. Với
liều cao rượu gây tổn thương niêm mạc dạ dày.
- Thuốc lá: Thường gặp ở người hút thuốc lá, thuốc lá cũng làm xuất hiện các ổ
loét mới và làm chậm sự lành sẹo hoăc gây đề kháng với điều trị.
1.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG
Bệnh có thể biểu hiện điển hình hoặc không điển hình.
Thể điển hình: Bệnh biểu hiện bởi hội chứng lóet:
Đau bụng là triệu chứng chính, biểu hiện:
Đau vùng thượng vị, đau như bỏng rát, quặn, đau xoắn, hoặc có thể chỉ đau âm ỉ.
Đau có tính chất chu kỳ trong ngày, mùa và trong năm.
Đau theo nhịp điệu với bữa ăn: Đau khi đói, ăn vào thì đỡ đau (lóet hành tá
tràng) hoặc đau ngay sau khi ăn (lóet dạ dày). au như vậy trong 1, 2 hay 3 tuần
lễ rồi tự khỏi nhiều khi không điều trị gì.
Thời kỳ không đau kéo dài trong nhiều tuần lễ hoặc nhiều tháng, có khi cả
năm. Thường đến năm sau vào mùa rét, hay có một yếu tố thuận lợi nào đó thì
một chu kỳ đau mới như trên lại xuất hiện.
Càng về sau bệnh đau loét mất dần tính chất chu kỳ, bệnh nhân có nhiều
đợt đau trong năm, rồi trở thành đau liên tục.
Ngoài cơn đau có khi bệnh nhân còn bị ợ hơi, ợ chua hay ợ nóng.
Thể không điển hình:
5
Bệnh tiến triển im lặng, không có triệu chứng của đau loét và biểu hiện đột
ngột bởi một biến chứng như: chảy máu tiêu hóa, thủng ổ loét hoặc ung thư hoá
hay hẹp môn vị.
Cận lâm sàng
Không có triệu chứng thực thể nào khi loét chưa có biến chứng. Chẩn đoán
xác định dựa vào những thăm dò cận lâm sàng.
Chụp X-quang dạ dày -tá tràng có thuốc cản quang: có thể phát hiện thấy ổ loét.
Nội soi dạ dày tá tràng bằng ống soi mềm: là phương pháp có giá trị chẩn
đoán nhất. Nhìn thấy trực tiếp ổ lóet, đánh giá đúng kích thước, vị trí của ổ lóet
và các tổn thương khác kèm theo.
Xét nghiệm dịch vị: Độ acid tăng trong loét tá tràng, giảm trong loét dạ dày.
Ung thư hóa
1.3. DỊCH TỄ HỌC
1.3.1. Tần suất bệnh:
Thủng là một biến chứng của loét dạ dày tá tràng.Tỉ lệ thủng ổ loét DD-TT
là 5%-10%, [31]. Theo Đỗ Đức Vân, trong thời gian 30 năm (1960 – 1990), tại
bệnh viện Việt Đức có 2.481 trường hợp thủng dạ dày tá tràng, tương ứng hơn
80 trường hợp cho 1 năm. Tại bệnh viện Nhân dân Gia Định TP.HCM, từ tháng
05/1996 – 05/1997, theo Nguyễn Anh Dũng có 109 trường hợp thủng ổ loét dạ
dày tá tràng. Tại bệnh viện Cấp cứu Tröng Vöơng TP.HCM, từ tháng 12-1995 –
03/1997, có 134 trường hợp thủng loét dạ dày tá tràng. Tại bệnh viện Chợ Rẫy,
từ tháng 08/1998 – 08/1999 có 170 trường hợp thủng ổ loét dạ dày tá tràng.[31].
Theo MC Connel tại bệnh viện cựu chiến binh Mỹ so sánh hai giai đoạn
1974-1977 và 1984-1987 tỉ lệ biến chứng chảy máu, thủng và hẹp môn vị vẫn
không thay đổi [31].
1.3.2. Giới:
Tỷ lệ loét dạ dày tá tràng xảy ra ở nam nhiều hơn ở nữ [37], [40], [57], [58],
[84], [87].
Ở Mỹ: nam/nữ = 2/1 ; Gần đây giảm ở nam và tăng ở nữ. Điều này có thể lý
giải do tăng hút thuốc lá và sử dụng thuốc kháng viêm ở nữ, cùng với sự phát
triển của xã hội, áp lực công việc ở nữ gần giống nam giới.
Ở Việt Nam, theo Đỗ Đức Vân, tỷ lệ nam / nữ là 15/1[35] trong giai đoạn
1960 – 1990 và theo Lê Ngọc Quỳnh, bệnh viện Saint Paul Hà Nội là 12,4/1
trong giai đoạn 1986 – 1993.[31] . Theo Trần Ngọc Thông, Hồ Hữu Thiện,
Phạm Như Hiệp, Lê Lộc « đánh giá kết quả khâu lỗ thủng loét DD-TT bằng
7
phẫu thuật nội soi và mổ hở tại Bệnh viện Trung ương Huế », được báo cáo tại
Hội nghị Ngoại khoa và Phẫu thuật nội soi Việt Nam 2008, thì tỷ lệ nam /nữ là
1.5.1. Triệu chứng lâm sàng:
Thường chẩn đoán thủng dạ dày tá tràng không khó. Chỉ với lâm sàng thì
cũng có thể chẩn đoán xác định ngay trong lần thăm khám đầu tiên với các triệu
chứng sau:
a. Cơ năng:
Đau bụng dữ dội và đột ngột, có thể vài ngày, vài giờ trước khi thủng, trên
nền đau bụng lâm râm, nhưng thường xảy ra đột ngột dữ dội như dao đâm.
Thường gây cho bệnh nhân cảm giác nhớ rất rõ giờ đau. Lúc đầu đau ở vùng
thượng vị. Sau đó lan khắp bụng. Đau là triệu chứng gặp trong 100% trường hợp
[26], [31], [32], cũng là lý do đưa bệnh nhân đến bệnh viện. Ngay cơn đau đầu
tiên có khoảng 70% bệnh nhân có thể xuất hiện tình trạng sốc. Sốc thường xuất
hiện thoáng qua vài phút đến nửa giờ với các biểu hiện: mặt tái nhợt, sợ hãi, toát
mồ hôi lạnh, hạ thân nhiệt, huyết áp giảm nhẹ. Sau đó toàn thân trở về bình
thường, nếu bệnh nhân đến muộn sẽ biểu hiện nhiễm trùng, nhiễm độc do viêm
phúc mạc.
Nôn: Là triệu chứng không đặc hiệu, ít khi nôn, nếu có nôn thường ở giai
đoạn trễ do phúc mạc bị kích thích.
Bí trung đại tiện: Gặp trong 85% trường hợp. Thường ở giai đoạn trễ do
viêm phúc mạc gây liệt ruột [31].
b. Thực thể:
các triệu chứng ở thành bụng không rõ ràng, khó chẩn đoán.
c. Triệu chứng toàn thân:
Nếu nhập viện sớm, bệnh nhân thường không có sốt, mạch, huyết áp gần
như bình thường. Có khoảng 30% bị sốc trong những giờ đầu sau khi thủng,
biểu hiện bằng vẻ mặt xanh, nhợt nhạt, vã mồ hôi, lo âu, sợ hãi, lạnh đầu chi,
thân nhiệt hạ, huyết áp giảm, mạch nhanh. Tình trạng sốc chỉ thoáng qua sau đó
trở về bình thường.
Nếu bệnh nhân đến muộn, ở giai đoạn phúc mạc nhiễm khuẩn, bệnh nhân có
sốt cao, mạch nhanh nhẹ, có dấu hiệu nhiễm trùng, nhiễm độc, môi khô, lưỡi dơ,
có thể hôn mê. Bệnh nhân có thể tử vong 4-5 ngày sau khi thủng [26], [31].
d. Tiền sử loét dạ dày tá tràng.
Có 70-80% [27], [31], [32] bệnh nhân bị thủng dạ dày tá tràng có tiền căn
đau bụng vùng trên rốn từ vài tháng đến vài năm trước đó. Trong số đó có bệnh
nhân đã được chẩn đoán loét dạ dày tá tràng bằng nội soi, x-quang. Theo Đỗ
Đức Vân, tiền căn đau là 65% và Trần Thiện Trung là 70%. 30%-33% trường
hợp không có tiền căn đau và thủng là dấu hiệu đầu tiên của bệnh loét DD-TT
(Trần Thiện Trung, Đỗ Sơn Hà) [31].
1.5.2. Triệu chứng cận lâm sàng:
a. Xét nghiệm:
Máu:
- Bạch cầu tăng:
>10.000 – 20.000 / mm3 [31].
- Bạch cầu đa nhân trung tính tăng.
10
nữa, chúng đắt tiền và không phải cơ sở y tế nào cũng có được.
1.6. TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG
1.6.1. Tuân thủ điều trị loét dạ dày tá tràng
Tuân thủ điều trị loét dạ dày tá tràng đạt trên 80% được coi là thành công
11
Đúng thời gian và Liên tục
• 2 lần một ngày
• Thời gian đủ
Đúng thuốc, đúng liều, đúng cách
• Ăn đúng giờ
• Ăn những thức ăn mền, nhai kỹ
• Tránh các chất có cồn, chất kích thích, cay nóng.
• Ngủ không quá muộn
• Đúng số lượng viên thuốc
1.6.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ:
a. Nhóm yếu tố về thuốc
Tuân thủ chịu ảnh hưởng của những yếu tố liên quan đến thuốc, bao gồm:
•
•
•
•
•
Tần suất dùng thuốc
Số lượng viên thuốc (tất cả các thuốc)
Tính chất phức tạp của điều trị
Yêu cầu về sinh hoạt
Tác dụng phụ (trên thực tế hoặc dự kiến)
Sự tin tưởng vào lợi ích điều trị
Hệ niềm tin – “tự tin”
Tin tưởng vào nhân viên y tế và hệ thống y tế
Ốm, đau, các bệnh khác
d. Yếu tố tâm lý xã hội
Vấn đề tâm lý xã hội hoặc phong cách sống cũng có thể ảnh hưởng đến việc
tuân thủ và khả năng thích ứng với điều trị LDDTT:
• Vấn đề tài chính
• Nghiện rượu hay nghiện một số chất khác
• Trầm cảm, những vấn đề sức khỏe tâm thần khác
• Thiếu sự hỗ trợ từ gia đình
e. Dịch vụ y tế
Dịch vụ y tế hoạt động tốt làm tăng khả năng bệnh nhân tuân thủ thành
công thông qua:
• Duy trì khả năng tiếp cận tới phòng
• Thời gian làm việc linh hoạt
• Không thân thiện với khách hàng
• Thời gian chờ lâu
• Quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân tồi
• Chi phí điều trị LDDTT
• Vấn đề đi lại, khoảng cách đến phòng khám
• Thiếu thuốc, không có thuốc, nguồn cung ứng thuốc bị xáo trộn
1.7.
1.7.1.
•
•
•
•
•
•
•
1.7.4.
•
•
Đau vùng thượng vị do tăng tiết dịch vị.
Lo lắng do đau vùng thượng vị kéo dài.
Bệnh nhân không thực hiện được chế độ ăn uống đúng do thiếu kiến
thức về bệnh.
Nguy cơ có biến chứng xảy ra.
Bệnh nhân không biết cách phòng bệnh do thiếu hiểu biết về bệnh.
Lập kế hoạch chăm sóc:
Giảm lo lắng cho bệnh nhân
Giảm đau vùng thượng vị.
Xây dựng chế độ ăn uống phù hợp với bệnh nhân
Theo dõi phát hiện biến chứng.
Hướng dẫn bệnh nhân cách phòng bệnh và chăm sóc sức khoẻ.
Thực hiện kế hoạch chăm sóc:
Giảm đau vùng thượng vị:
Chườm nóng vùng thượng vị ( nếu không có biến chứng xuất huyết ).
Giúp bệnh nhân bỏ thói quen hút thuốc lá, uống cà phê, rượu, bia. Dù là
đang dùng thuốc tốt, đắt tiền mà vẫn hút thuốc lá và uống rượu bia thì
cũng không khỏi. Phải giải thích và kết hợp kiểm tra chặt chẽ.
Cho bệnh nhân uống thuốc theo y lệnh đầy đủ và chính xác.
Giảm lo lắng:
• Có chế độ nghỉ ngơi và làm việc thích hợp. Đau nhiều thì nghỉ, khi đỡ
•
Chảy máu tiêu hoá: Theo dõi mạch, huyết áp, chất nôn, phân hàng ngày.
Thủng ổ loét: Đau đột ngột, có biểu hiện choáng. Khi phát hiện phải
nhanh chóng báo cáo bác sỹ để chuyển sang ngoại khoa.
• Hẹp môn vị: ( nôn ra thức ăn cũ )
+ Cho ăn nhẹ, ăn từng ít một.
+ Đặt Sonde dạ dày khi có chướng bụng.
+ Chuẩn bị bênh nhân khi có chỉ định rửa dạ dày, nội soi dạ dày.
+ Điều trị nội khoa không đỡ chuyển điều trị ngoại khoa.
Hướng dẫn bệnh nhân cách phòng bệnh và tự chăm sóc sức khoẻ:
• Cung cấp cho bệnh nhân một số kiến thức về bệnh, giúp họ tránh được
•
•
•
•
•
1.7.5.
những yếu tố làm bệnh nặng thêm.
Bệnh nhân phải kiêng các chất kích thích như rượu, cà phê, chè đặc, gia vị.
Nên ăn thức ăn mềm, dễ tiêu, ăn chậm, nhai kĩ.
Khi dùng thuốc phải theo sự chỉ dẫn của bác sỹ nhất là các thuốc giảm đau.
Đề phòng các biến chứng có thể xảy ra.
Có chế độ nghỉ ngơi, làm việc phù hợp với bệnh, thay đổi lối sống.
Đánh giá:
Những kết quả mong muốn là:
- Hết đau.
- Hết lo lắng.
- Có chế độ ăn uống phù hợp với bệnh.
- Theo dõi phát hiện sớm và xử trí kịp thời các biến chứng.
Hà Đông - Hà Nội.
2.3.Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được triển khai từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017.
Trong đó thời gian thực tế tại cơ sở từ tháng 04/2017 đến tháng 09 /2017.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.4.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu
a. Cỡ mẫu
Tất cả bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh từ 04/2017
đến 09/2017
n = 100
16
b. Phương pháp chọn mẫu
Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp: chọn mẫu có chủ đích.
- Bước 1: Chọn Bệnh viện nghiên cứu là Bệnh viện Tuệ Tĩnh.
- Bước 2: Chọn khoa Nội
- Bước 3: Chọn đối tượng nghiên cứu. Chọn 60 bệnh nhân, cách chọn: Lập
danh sách toàn bộ bệnh nhân loét dạ dày tá tràng sau đó chọn 1 cách 1 đến
đủ 60 từ trên xuống dưới
2.4.3. Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.1. Nhóm biến số chỉ số nghiên cứu
Các biến nghiên cứu
Biến số và chỉ số nghiên cứu
Hiểu biết về dấu hiệu bệnh nhân loét dạ dày tá tràng
Hiểu biết về nguyên nhân loét dạ dày tá tràng
Kiến thức
Hiểu biết về thời điểm loét dạ dày tá tràng
Thực hành của bệnh nhân về vấn đề chế độ sinh hoạt
Thực hành của của bệnh nhân khi bị loét dạ dày tá
tràng
Thực hành của của bệnh nhân về tham gia vào các
hoạt động phòng chống bệnh loét dạ dày tá tràng
Liên quan giới tính với hiểu biết về tuân thủ điều trị
loét dạ dày tá tràng
Liên quan nơi cư trú với hiểu biết về tuân thủ điều trị
loét dạ dày tá tràng
Liên quan khoa điều trị với hiểu biết về tuân thủ điều
Một số yếu tố liên
quan đến kiến thức,
thái độ tuân thủ điều
trị loét dạ dày tá tràng
Liên quan giữa nghề nghiệp với hiểu biết về tuân thủ
điều trị loét dạ dày tá tràng
Liên quan giữa mức độ cung cấp thông tin với hiểu
trị về loét dạ dày tá
biết về tuân thủ điều trị loét dạ dày tá tràng
tràng
Liên quan giữa kiến thức với thái độ
Liên quan giữa kiến thức với thực hành
Liên quan giữa thái độ với thực hành
2.4.4. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin
a.
Phương pháp thu thập thông tin
Tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi phỏng vấn được tiến hành nhiều lần, sau
đó chỉnh sửa cho phù hợp với đối tượng và đảm bảo dễ hiểu, đơn giản, BN
-
có thể hiểu và trả lời được ngay nhằm đem lại tính chính xác cho câu trả lời.
Tập huấn cho đối tượng về bộ câu hỏi điều tra để điều tra viên có thể hiểu và
nắm chắc được những câu hỏi, có thể giải thích ngay khi đối tượng trả lời có
-
sự nhầm lẫn và đảm bảo tính tương tác cao.
Điều tra viên phải giải thích rõ những nội dung mà đối tượng không rõ.
Xem xét, kiểm tra lại các phiếu, những phiếu không đầy đủ thông tin sẽ
-
được điều tra lại.
Tập huấn nhập liệu cho điều tra viên. Việc nhập liệu cũng như giám sát nhập
liệu được tiến hành ngay sau khi số liệu được thu thập nhằm đảm bảo tính
chính xác và có thể khắc phục ngay được những sự cố gặp phải trong quá
-
trình nhập liệu.
Giải thích rõ cho đối tượng tham gia nghiên cứu hiểu mục đích và tính bảo
mật khi tham gia nghiên cứu.
- Làm sạch số liệu trước khi nhập liệu.
Quy trình nghiên cứu
.
20
Bệnh nhân đến khám
Chẩn đoán xác định LDDTT
Chăm sóc điều dưỡng
Theo dõi
Kiến thức
Đặc điểm bệnh
Thời gian mắc bệnh tính
chất bệnh
Tình trạng đau bụng
Nguyên nhân gây bệnh
Nguồn cung cấp thông tin
Tuân thủ điều trị
Chế độ uống thuốc
Chế độ sinh hoạt
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ nghiên cứu
21
35
58.3
Dưới 30
11
18.3
Từ 30 đến 50
10
16.7
Trên 50
39
65.0
≤ Tiểu học
5
18.2
Trung hoc cơ sở
88,4
Đặc điểm
Giới tính
Nhóm tuổi
Học vấn
Nghề nghiệp
Hoàn
Còn đi làm
cảnh Sống một mình
Sống cùng gia đình
sống
Nhận xét: - Tuổi mắc bệnh cao nhất là trên 50 tuổi.
- Tỷ lệ bệnh nhân nghỉ hưu hoặc không đi lamg chiếm 25%, còn đi
làm chiếm 75%.
- Trình độ của bệnh loét dạ dày tá tràng có 12 bệnh nhân trình độ tiểu
học và trung học cơ sở chiến 38,4%, trình độ Phổ thông trung học và trình độ,
cao đẳng, đại học là 61.6%.
Biểu đồ 3.1. Giới tính nhóm nghiên cứu
22
Nhận xét: Kết quả biểu đồ 3.1. cho kết quả giới tính nam trong 60 bệnh
nhân mắc bệnh Loét dạ dày tá tràng điều trị Nội trú tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh là
(25 bệnh nhân) chiếm 41,7 % và nữ trong nhóm nghiên cứu là (25 bệnh nhân)
17
28.3
Thời gian mắc
≤ 5 năm
48
80.0
bệnh LDDTT
> 5 năm
12
20.0
Tiền sử gia
Có
9
15.0
Không
91,7
Thời gian điều
> 6 tháng
21
35.0
trị
≤ 6 tháng
29
48.3
Nhận xét: Thời gian mắc bệnh của nhóm nghiên cứu dười 5 năm là 48 bệnh
nhân, chiếm tỷ lệ 80%; bệnh nhân mắc bệnh trên 5 năm là 48 bệnh nhân, chiếm
tỷ lệ 20%
Bảng 3.3. Các nguồn cung cấp kiến thức vê LDDTT cho bệnh nhân
Các nguồn cung cấp thông
Đối tượng nghiên cứu
Trước điều trị
(n = 60)
p0.05
Cán bộ Y tế
10
28
p
26
12
8
6
3
3
9
18
4
14
17
2
p
p