BÁO CÁO
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI THỊ TRƯỜNG
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA THEO CÁC TIÊU CHUẨN PHỔ BIẾN CỦA THỊ
TRƯỜNG HIỆN ĐẠI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Tháng 12/2016
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI THỊ TRƯỜNG TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.................................4
1.1.Khung tiếp cận............................................................................................................4
1.2.Cơ chế thị trường........................................................................................................5
1.3.Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại..................................6
1.4.Nền kinh tế thị trường hiện đại- cơ chế hỗn hợp.....................................................7
1.5.Các tiêu chí đánh giá nền kinh tế thị trường hiện đại.............................................8
1.6.Phát triển các thị trường trong điều kiện Hội nhập quốc tế................................10
CHƯƠNG 2. KINH NGHIỆM CẢI CÁCH MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG QUAN TRỌNG CỦA
TRUNG QUỐC TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY.................................................................12
2.1.Khái quát về cải cách thị trường trước Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII ĐCS
Trung Quốc.....................................................................................................................12
2.2.Những động thái cải cách theo hướng thị trường của Hội nghị Trung ương 3
khóa XVIII ĐCS Trung Quốc.......................................................................................12
2.3. Cải cách thị trường đất đai.....................................................................................13
2.4.Cải cách thị trường vốn...........................................................................................18
1.1.Khung tiếp cận
Việt Nam từ một nền kinh tế theo mô hình tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), vì thế việc xây dựng và
phát triển các loại thị trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Các thị trường này có
đồng bộ hay không, có hoạt động hiệu quả hay không, có đạt được mục tiêu định
hướng XHCN hay không sẽ quyết định sự thành công của bước chuyển quan trọng
trên. Hai yếu tố cơ bản tác động đến sự hình thành và vận hành các thị trường của nền
kinh tế là cơ chế thị trường (mang tính tự động điều tiết của thị trường) và vai trò can
thiệp của nhà nước thông qua các quy định điều tiết (mang tính chủ động từ phía nhà
nước nhằm thực hiện mục tiêu của mình và sửa chữa các thất bại thị trường). Tùy theo
thị trường cụ thể mà xác định trọng số quan trọng của cơ chế thị trường hay sự can
thiệp của nhà nước.
Bên cạnh đó, giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam được đặt trong bối cảnh tái
cấu trúc nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng và mức độ hội nhập
ngày càng sâu rộng với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Bối cảnh này đặt ra các
mục tiêu khác (bên cạnh định hướng XHCN) đối với việc phát triển các thị trường là
hướng tới nâng cao chất lượng tăng trưởng, tận dụng được cơ hội (chẳng hạn thị
trường lao động có phát triển được nhân lực chất lượng cao hay không để thu hút FDI
công nghệ cao, v.v), và giảm thiểu các cú sốc từ bên ngoài (chẳng hạn thị trường vốn
được mở cửa ở mức độ nào để tránh các truyền dẫn lây lan do khủng hoảng tài chính
từ các nơi khác trên thế giới, v.v).
Dưới đây là khung tiếp cận về việc phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN và đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và tái cấu
trúc nền kinh tế:
4
1.2.Cơ chế thị trường
kinh tế dù phát triển hay không phát triển đều đối mặt với những vấn đề như thất
nghiệp, bất ổn tài chính, ô nhiễm môi trường và bất bình đẳng xã hội…
Thực tế không có một Chính phủ nào là không có sự can thiệp ít nhiều vào nền kinh tế
theo các cách khác nhau. Chính phủ chịu trách nhiệm an ninh, quốc phòng, xóa đói
giảm nghèo, các chương trình an sinh xã hội hay các chương trình thúc đẩy kinh tế…
Khác với cơ chế thị trường, Chính phủ với quyền lực và sức mạnh của mình, thực hiện
can thiệp vào nền kinh tế thông qua cơ chế ép buộc được thể chế hóa dưới dạng luật
hoặc các mệnh lệnh hành chính.
Chức năng “tự nhiên” của Chính phủ trong nền kinh tế được thể hiện ở 4 khía cạnh
chính:
Tăng cường hiệu quả thị trường như: thúc đẩy cạnh tranh, hạn chế ảnh hưởng
ngoại lai tiêu cực, cung cấp hàng hóa công.
Giảm thiểu bất bình đẳng xã hội thông qua hệ thống thu thuế và các chương
trình chi tiêu công, phân phối lại thu nhập.
Ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng: ổn định lạm phát, giảm thiểu thất
nghiệp và hỗ trợ kinh doanh.
Ngoài ra, trong một thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, Chức năng của Nhà
nước trong việc đàm phán, ký kết và đảm bảo tuân thủ các hiệp định thương
mại tự do ngày càng trở nên rõ nét.
Lịch sự phát triển kinh tế chứng kiến mức độ can thiệp khác nhau của các Chính phủ
trong vận hành của nền kinh tế. Khái niệm về cơ chế thị trường ra đời và bắt đầu hiện
diện trong thực tiễn từ thế kỷ 18. Đến thế kỷ 19 là thời kỳ hoàng kim của cơ chế thị
trường tự do, khi Chính phủ ở hầu hết các nước ở Châu Âu và Bắc Mỹ can thiệp rất ít
6
vào nền kinh tế. Sau một thời gian vận hành, đến khoảng đầu thế kỷ 20, cơ chế này nảy
sinh một số vấn đề nghiêm trọng như gia tăng độc quyền, niềm tin, các sản phẩm gây
hại cho cộng đồng, tham nhũng, đói nghèo, bất bình đẳng gia tăng. Thực tế đó, đòi hỏi
nhu cầu can thiệp của Chính phủ như thiết lập, tăng cường thực thi luật lệ kinh doanh,
Nhà nước là khắc phục và bổ sung cho những khiếm khuyết của thị trường và tạo điều
kiện thuận lợi để cơ chế thị trường phát huy sức mạnh của nó.
Mặt khác, cũng rất khó để đưa ra một công thức chung cho tất cả các loại thị trường,
do mỗi loại thị trường khác nhau thì có đặc điểm khác nhau. Một số lĩnh vực mang
năng tính hàng hóa công như Khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, giáo dục phổ thông
thì vai trò của Nhà nước là rất quan trọng. Từ lâu những lĩnh vực này vốn được coi là
chức năng tự nhiên của Nhà nước. Tuy vậy, xu hướng phát triển hiện đại cho thấy nếu
Nhà nước có cơ chế chính sách phù hợp thì sự tham gia đóng góp tư nhân kể cả ở các
lĩnh vực có tính cách hàng hóa công như vây cũng rất tích cực và hiệu quả.
1.5.Các tiêu chí đánh giá nền kinh tế thị trường hiện đại
Lý luận ở phần trên đây cho thấy rằng nền kinh tế thị trường hiện đại là nền kinh tế
được vận hành với sự kết hợp một cách “hợp lý” giữa thị trường và Nhà nước. Như
vậy, một cách logic, để đánh giá cơ chế của kinh tế thị trường hiện đại, vấn đề trung
tâm là đánh giá về mức độ tham gia, kiểm soát nền kinh tế của Nhà nước. Sự tham gia
này có thể được thể hiện dưới dạng tham gia trực tiếp, các mang tính sự vụ, hàng ngày
của nền kinh tế hay các can thiệp được thể chế hóa trong luật. Bản chất và cơ bản là
vậy, song thực tế các tiêu chí đánh giá cụ thể lại có sự đa dạng nhất định. Một số nước
phát triển như Mỹ, EU, Canada đưa ra các tiêu chí đánh giá của họ chủ yếu nhằm phục
vụ chính sách đầu tư và thương mại quốc tế như đảm bảo công bằng thương mại,
chống bán phá giá (anti-dumping). Nhìn chung các tiêu chí này liên quan tới các vấn
đề như tỷ giá, chi phí đầu vào, doanh nghiệp nhà nước, đối xử với kinh tế tư nhân và
FDI…Những bộ tiêu chí này được đặt ra và được áp dụng trong thực tiễn.
Một số các bộ tiêu chí khác thiên hơn tính lý luận như các tiêu chí được đưa ra bởi
nhóm chuyên gia thực hiện Báo cáo The Development of China’s Market Economy
2003. Nhóm chuyên gia này, dựa trên những tổng hợp và tham khảo các bộ tiêu chí
khác nhau cho rằng để đánh giá mức độ phát triển thị trường cần xem xét các vấn đề
sau:
Vai trò của chính phủ- hành vi của chính phủ dựa trên luật lệ hay không. Sự
kiểm soát của nhà nước đối với các vấn đề kinh tế như: sở hữu nhà nước; phân
hữu của các chủ thể tham gia thị trường sẽ tạo đối trọng tốt và kiểm soát các
nhóm lợi ích. Các yếu tố này giúp xây dựng một môi trường cạnh tranh bình
đẳng, đảm bảo sự tuân thủ quyền và lợi ích chính đáng của các bên tham gia thị
trường.
Nhóm chỉ số hệ thống tài chính tiền tệ (đánh giá mức độ lành mạnh tiền tệ): các
chỉ số con trong nhóm này đánh giá niềm tin của thị trường vào giá trị của đồng
tiền, vai trò trung gian tài chính của tổ chức tín dụng, cũng như quy mô can
thiệp vào thị trường và khả năng kiểm soát rủi ro của Chính phủ về tiền tệ.
Nhóm chỉ số mức độ tự do kinh doanh (đánh giá sự tự do hóa các thực thể kinh
tế): phản ánh độ mở trong quá trình tham gia kinh doanh của các thành phần
kinh tế tư nhân trong nền kinh tế dựa trên chi phí thành lập và đóng cửa doanh
nghiệp. Rõ ràng ràng, mức độ tự do tham gia quá trình kinh doanh sẽ thúc đẩy
sự phát triển kinh tế thị trường hơn.
Nhóm chỉ số mức độ tự do thương mại (đánh giá sự công bằng trong thương
mại): quá trình tự do hoá kinh tế đi liền với mở cửa cho trao đổi thương mại với
quốc tế. Tự do hoá thương mại đặc trưng bởi sự giảm dần các hàng rào thuế
9
quan và phi thuế quan, giảm chi phí giao dịch và tỉ giá thả nổi. Các chỉ số
conđánh giá mức độ tự do thương mại chủ yếu đươcc̣ xem xét qua các đánh
giácủa Viện Fraser trong báo cáo Tự do kinh tế toàn cầu.
Nhóm chỉ số phát triển thị trường các yếu tố sản xuất (đánh giá thị trường hóa
các yếu tố sản xuất): nền kinh tế thị trường tự điều tiết cung cầu các yếu tố sản
xuất, trong đó có lao động, vốn, đất đai. Tự do chuyển dịch nhân số sản xuất
giữa các khu vực kinh tế, giữa các nước, sẽ mang hiệu suất cao nhất.
1.6.Phát triển các thị trường trong điều kiện Hội nhập quốc tế
Xây dựng và phát triển các thị trường trong điều kiện Hội nhập quốc tế phải hướng tới
mục tiêu nâng cao hiệu quả quản trị hội nhập, hay nói cách khác các thị trường cần
phải đủ năng lực thích ứng với những cơ hội và thách thức do hội nhập mang lại. Bên
TRUNG QUỐC TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
2.1.Khái quát về cải cách thị trường trước Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII
ĐCS Trung Quốc
Có thể nói những cải cách kinh tế ở Trung Quốc bắt đầu từ cải cách mở cửa năm 1978
đến nay là những cải cách theo hướng thị trường hóa. Quá trình cải cách theo hướng
thị trường hóa này đã khiến kinh tế Trung Quốc từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung cao độ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường XHCN. Kể từ khi đưa ra mục tiêu
xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN (1992) 1 đến nay đã hơn 20 năm, trong 20
năm đó mặc dù cải cách đã đạt được những thành quả to lớn, trình/mức độ thị trường
hóa cũng được nâng lên rất nhiều, chuyển đổi chức năng của chính phủ cũng đạt được
những tiến triển lớn (kế hoạch mang tính mệnh lệnh hành chính cơ bản hủy bỏ, giảm
với số lượng lớn phê duyệt hành chính...), nhưng về tổng thể thì trước mắt chính phủ
vẫn can dự vào quá nhiều, quản quá nhiều, có thể nói tình trạng chính phủ tập trung
cao độ, tình trạng chính phủ quản quá nhiều về căn bản vẫn chưa có sự thay đổi, vấn
đề vị trí của chính phủ thiếu hụt, không đúng, hoặc vượt quá mức về cơ bản chưa được
giải quyết. Vì vậy, việc chuyển đổi chức năng chính phủ và tiếp tục đẩy mạnh thị
trường hóa là hết sức cần thiết.
Đứng trước tình hình đó, Đại hội XVIII đã nhấn mạnh chủ trương "đi sâu cải cách toàn
diện", và Hội nghị TW 3 khóa XVIII ĐCS Trung Quốc được coi là Hội nghị triển khai
các đường hướng cải cách đề ra tại Đại hội XVIII.
2.2.Những động thái cải cách theo hướng thị trường của Hội nghị Trung ương 3
khóa XVIII ĐCS Trung Quốc
Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc diễn ra từ ngày 9
đến 12-11-2013 đã đề ra chủ trương “đi sâu cải cách toàn diện”, coi “Cải cách kinh tế
là trọng điểm của đi sâu cải cách toàn diện”. Trong đó Hội nghị lần này khẳng định là
xử lý mối quan hệ giữa thị trường và chính phủ, cho phép thị trường đóng vai trò quyết
định (thay vì đóng vai trò cơ sở như trước đây 2) trong việc phân bổ các nguồn lực và
thay đổi chức năng, vai trò của chính phủ. Điều này gắn với việc chuyển đổi phương
thức phát triển kinh tế ở chỗ nguyên nhân chủ yếu cản trở việc chuyển đổi phương
Cho đến trước Hội nghị TW 3 khóa XVIII, thị trường đất xây dựng ở Trung Quốc
vẫn tồn tại "cơ chế nhị nguyên", không thống nhất giữa thành thị và nông thôn. Nếu
như người dân thành thị Trung Quốc có thể mua bán đất như một tài sản thì ở nông
thôn không được như thế, đất đai vẫn thuộc sở hữu tập thể và chịu sự giám sát của các
quan chức địa phương. Theo quy định hiện hành, đất nông thôn phải bị sung công
trước khi được đem bán ra thị trường, người dân sẽ được bồi thường nếu đất thu hồi
cho những dự án phát triển ở địa phương nhưng mức bồi thường thấp chính là nguyên
nhân gây ra bất ổn xã hội. Chính các vụ trưng thu đất ở nông thôn trong thời gian qua
đã gây căng thẳng trong xã hội, khiến nông thôn Trung Quốc ít khi bình yên, luôn xảy
ra biểu tình, gây rối, kiện cáo, bạo lực. Theo số liệu chính thức của Trung Quốc, năm
2004 có ít nhất 74.000 vụ "khiếu kiện tập thể" với khoảng 3,7 triệu nông dân tham gia;
con số này tăng lên 87.000 vụ năm 2005 và năm 2006 tăng lên 90.000 vụ.4
Trước tình trạng này, Hội nghị TW3 khóa XVII ĐCS Trung Quốc năm 2008 đã
đề ra nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản cải cách phát triển nông thôn từ 2008 đến 2020 là
"kiện toàn hơn thể chế kinh tế nông thôn, thiết lập cơ bản thể chế, cơ chế nhất thể hóa
phát triển kinh tế - xã hội thành thị nông thôn; đạt được tiến triển rõ rệt về xây dựng
nông nghiệp hiện đại, nâng cao rõ rệt sức sản xuất tổng hợp nông nghiệp...". Để đạt
được những mục tiêu trên, Hội nghị thông qua "Quyết định của Trung ương ĐCS
Trung Quốc về những vấn đề liên quan đến việc thúc đẩy cải cách nông thôn phát
triển". Quyết định đưa ra chính sách đột phá là nông dân được trao đổi, sang nhượng
không hạn chế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà họ đang được hưởng cho những
nông dân khác hoặc cho doanh nghiệp, miễn là không chuyển đổi mục đích sử dụng.
如如如如如如如如如如如如如如如如如如 , />Dẫn theo Phạm Bích Ngọc: "Cải cách ruộng đất của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam",
Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 400 - Tháng 9/2011, tr.75
3
4
12
gồm cải cách chế độ trưng dụng đất, chuyển nhượng đất đai xây dựng, quyền sử dụng
đất xây dựng tập thể được định giá và tham gia thị trường cổ phiếu, đăng ký quyền sở
5
/>Mục 3 khoản (11) trong Quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về những vấn đề trọng đại
toàn diện đi sâu cải cách, />7
Để những người nông dân bị trưng thu đất "cải thiện cuộc sống, đảm bảo sinh kế lâu dài" - giải thích 4điểm
sáng lớn trong phương án sửa đổi luật quản lý đất đai, />6
13
hữu đất đai, thành lập một thị trường đất đai xây dựng thống nhất giữa thành thị và
nông thôn.8
Theo đó, đã cho phép bán đất nông thôn dành cho xây dựng ở 20 huyện. Một khi
được bán, đất này có thể dùng cho một loạt mục đích như công nghiệp, thương mại,
phát triển du lịch, xây nhà cho nông dân...; Theo yêu cầu của An Huy, năm 2014, trong
20 quận huyện thí điểm cải cách tổng hợp khởi động xây dựng thị trường giao dịch về
quyền sử dụng đất thống nhất giữa thành thị và nông thôn; năm 2015, hoàn thành công
tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 完完完完完完完完完完完完 ở 20 quận huyện thí điểm;
năm 2017, hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên toàn tỉnh;
đến năm 2020, cơ bản hình thành hệ thống thị trường đất xây dựng thành thị và nông
thôn thống nhất, mở cửa, cạnh tranh và có trật tự .9
- Thâm Quyến- người phá băng của cải cách đất đai: Ngày 20/12/2013 lần đầu
tiên trong lịch sử Thâm Quyến đã niêm yết thành công đất tập thể nông thôn, đây cũng
là lần đột phá mang tính lịch sử sau phiên đấu giá đất quốc hữu đầu tiên ở Thâm
Quyến năm 1987.
Lần này công ty TNHH thiết bị chính xác Phương Cách thành phố Thâm Quyến
(如如如如如如如如如如如如如)với mức giá cạnh tranh 116 triệu NDT đã giành được, doanh thu
chia phúc lợi cho các thành viên của tổ chức kinh tế tập thể, bảo hiểm xã hội, xây dựng
nông thôn mới,...11
Điểm sáng lớn nhất trong cải cách ruộng đất ở Ôn Châu lần này chính là trong
giao dịch quyền sở hữu nhà ở nông thôn. Mặc dù chính quyền thành phố giải thích
giao dịch về nhà ở nông thôn vẫn chỉ được thực hiện giới hạn trong phạm vi cư dân
của thôn, nhưng nhà ở nông thôn có thể được thế chấp vay trong các quận, huyện. Và
liên quan đến việc xử lý "nợ xấu" trong thế chấp nhà ở nông thôn, có thể thực hiện
giao dịch thay thế trong phạm vi của quận, huyện. 如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如12
- Tháng 1/2015, Trung ương Đảng, Quốc vụ viện Trung Quốc đưa ra "Ý kiến về
công tác thí điểm cải cách chế độ trưng thu (sung công) ruộng đất nông thôn, chế độ
niêm yết đất đai xây dựng mang tính kinh doanh của tập thể, cải cách chế độ đất nông
trại", đồng thời quyết định lựa chọn khoảng 30 quận (huyện, thành phố, khu vực) hành
chính để tiến hành thí điểm. Tháng 2/2015, lựa chọn ra được 33 quận, huyện thí điểm
bao gồm khu Đại Hưng trực thuộc thủ đô Bắc Kinh, quận Ji Thiên Tân ( 如 如 如 如 如 ) và
thành phố Định Châu tỉnh Hà Bắc.13
Đầu tháng 7/2015, phương án thí điểm cải cách chế độ đất đai ở 33 quận huyện
này đã được phê duyệt, phạm vi cải cách tập trung trên 3 phương diện lớn: (1) Niêm
yết đất đai xây dựng mang tính kinh doanh của tập thể; (2) nâng cao tiêu chuẩn đền bù
cho người nông dân bị trưng thu đất; (3) cơ chế rút lui có bồi thường của đất nông
trại.14 (如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如如 ) . Đồng thời Bộ đất
đai Trung Quốc đã tổ chức lớp tập huấn công tác thí điểm cải cách chế độ đất đai nông
thôn về những nội dung nêu trên.
Theo thông cáo đăng trên website của Quốc hội Trung Quốc, chương trình thí
điểm sẽ cho phép tự do chuyển nhượng trên thị trường « những khu đất ở vùng nông
thôn, vì mục đích thương mại ». Trong đó, có một điểm mới đáng chú ý là thông cáo có
11
Tổng thuật thí điểm cải cách: thí điểm cải cách ở ba thành phố lớn Thâm Quyến, An Huy, Ôn Châu 如如如如如如如
如如如如如如如如如如如如如如如如如, />12
thành thị và nông thôn.
2.4.Cải cách thị trường vốn
Trong kinh tế thị trường, thị trường vốn được coi là một trong những thành tố không
thể thiếu của nền kinh tế. Để phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững, phải có
thị trường vốn phát triển. Phát triển thị trường vốn – nơi diễn ra cung và cầu vốn
của nền kinh tế sẽ có cơ hội thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước, tạo điều kiện
sử dụng đồng vốn hiệu quả cao.
Thực tiễn chứng minh, trong việc thúc đẩy kinh tế Trung Quốc phát triển và điều
chỉnh kết cấu, vai trò của thị trường vốn có tác dụng không thể thay thế. "Quy hoạch 5
năm lần thứ XII cải cách và phát triển ngành tài chính tiền tệ" được đưa ra tháng
9/2012 và "Quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về những vấn đề
trọng đại toàn diện đi sâu cải cách" (sau đây gọi tắt là Quyết định) được thông qua tại
Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII đều chỉ ra một trong những điểm thúc đẩy đi sâu
cải cách ngành tài chính tiền tệ chính là kiện toàn thể chế thị trường vốn đa tầng.
15
Trung Quốc thí điểm cải cách ruộng đất, />16
Ba hạng mục thí điểm cải cách đất đai nông thôn toàn diện khởi động, không gian lưu chuyển thị trường hóa
lớn 如如如如如如如如如如如如如如 如如如如如如如如
/>
16
Quyết định nêu: Hoàn thiện thể chế thị trường tài chính tiền tệ. Mở rộng mở cửa
đối nội đối ngoại của ngành tài chính tiền tệ, dưới tiền đề tăng cường quản lý, cho
phép nguồn vốn tư nhân đủ điều kiện theo quy định của pháp luật khởi xướng việc
thành lập các tổ chức tài chính như ngân hàng quy mô vừa và nhỏ,... Thúc đẩy cải cách
cơ cấu tổ chức tài chính tiền tệ mang tính chính sách. Kiện toàn thể chế thị trường vốn
đa tầng; thúc đẩy cải cách chế độ đăng ký phát hành cổ phiếu; thúc đẩy vốn, quyền cổ
phần đa kênh; phát triển và chuẩn hóa thị trường trái phiếu; nâng cao tỷ trọng vốn tiền
thông qua tại Hội nghị TW3 khóa XVIII,
/>
17
ngày trước đó, cung cầu ngoại tệ và diễn biến của các đồng tiền lớn trên thị trường tiền
tệ quốc tế. Điều này có nghĩa đồng NDT được giao dịch tự do hơn, theo hướng thị
trường hóa, chứ không phải chế độ tỷ giá cứng nhắc như trước (cố định tỷ giá đồng nội
tệ so với đồng USD).
2.5.Cải cách thị trường khoa học công nghệ
Ngay từ năm 2006, chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã chỉ ra mục tiêu chiến lược xây dựng
đất nước Trung Quốc thành đất nước loại hình sáng tạo trong khoảng thời gian 15 năm;
Quốc vụ viện đã ban hành những chính sách hỗ trợ thực hiện "Cương yếu quy hoạch
phát triển khoa học và công nghệ trung dài hạn quốc gia (2006-2020)", bao gồm 60
biện pháp chính sách trên 10 phương diện từ thuế, tiền tệ, ngành nghề, chi tiêu cuả
chính phủ, các chính sách thu hút, bản quyền sở hữu trí tuệ,... 18
Năm 2008, Quốc vụ viện công bố "Cương yếu chiến lược sở hữu trí tuệ quốc
gia", chính thức thực hiện "Luật khoa học công nghệ tiên tiến" sửa đổi.
Báo cáo công tác chính phủ năm 2012 đã chỉ ra cần "đi sâu cải cách thể chế khoa
học công nghệ, thúc đẩy doanh nghiệp trở thành chủ thể đổi mới khoa học công nghệ,
thúc đẩy sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa học công nghệ và kinh tế. Hỗ trợ doanh nghiệp
tăng cường xây dựng trung tâm R&D, thực hiện những hạng mục khoa học công nghệ
lớn của khu vực và quốc gia".
Quyết định của Hội nghị TW 3 khóa XVIII (2013) chỉ ra đi sâu cải cách thể chế
khoa học công nghệ. Cốt lõi chính là xây dựng và kiện toàn cơ chế khuyến khích sáng
tạo, phát huy vai trò của thị trường trong việc định hướng nghiên cứu và phát triển
khoa học công nghệ, lựa chọn con đường, giá cả các yếu tố, và vai trò dẫn dắt của thị
trường trong việc phân bổ các nhân tố sáng tạo các loại. Thiết lập cơ chế sáng tạo hợp
tác nghiên cứu, tăng cường địa vị chủ thể của các doanh nghiệp trong sáng tạo đổi mới
khoa học công nghệ, phát huy vai trò trụ cột sáng tạo của các công ty lớn, kích thích
chuyển thành cạnh tranh về công nghệ và khả năng sáng tạo. Vì vậy mà chi cho hoạt
động nghiên cứu và phát triển (R&D) có xu hướng ngày một tăng.
Trung Quốc hiện đã trở thành nước lớn về chi kinh phí cho R&D. Năm 2012, chi
cho R&D của toàn xã hội (GERD) vượt qua 1000 tỷ NDT, tính theo ngang bằng sức
mua (PPP) tương đương 294 tỷ USD, chỉ đứng sau Mỹ (454 tỷ USD) và EU (341 tỷ
USD), nhưng đã vượt qua Nhật Bản (152 tỷ USD). Tỷ trọng chi cho R&D trong GDP
(GERD/GDP) của Trung Quốc từ mức 1,7% trong năm 2009 đến năm 2012 đã tăng lên
1,98%, gấp hơn 3 lần so với năm 1995, và đã vượt qua mức 1,96% của 28 nước thành
viên EU,20 và cũng vượt qua một số nước phát triển như Canađa, Anh,Ý…
Do được đầu tư lớn như vậy nên Trung Quốc đạt được rất nhiều thành tựu trong
sáng tạo (hiện chỉ số sáng tạo của Trung Quốc đứng thứ 29 trên toàn cầu), đồng thời
đây cũng là điều kiện thuận lợi giúp nâng cao năng lực cạnh tranh.
Hội đồng năng lực cạnh tranh Mỹ trong báo cáo "Chỉ số năng lực cạnh tranh của
ngành sản xuất toàn cầu năm 2013" đã chỉ ra năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất
Trung Quốc đứng thứ 1 trong số 38 quốc gia tham gia. Và trong vòng 5 năm sẽ vẫn
duy trì vị trí này. Vào tháng 4-2014, Tập đoàn Tư vấn Boston công bố bảng xếp hạng
19
"Quyết định của Trung ương ĐCS Trung Quốc về những vấn đề trọng đại toàn diện đi sâu cải cách", được
thông qua tại Hội nghị TW3 khóa XVIII,
/>20
Trung Quốc chi cho R & D: cần tập trung hỗ trợ nghiên cứu khoa học,
/>
19
năng lực cạnh tranh sản xuất toàn cầu, Trung Quốc cũng được xếp hạng đầu tiên trên
thế giới.21
Sáng tạo cần có cơ chế và môi trường, cùng với việc thúc đẩy sáng tạo về công
Tỷ lệ chi cho R&D/GDP của Trung Quốc vượt một số quốc gia phát triển,
/>22
如如如如如如如如如如如如如如
/>23
如如如如如如如如如如如如如如
/>
20
- Kể từ sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII, cải cách kinh tế ở Trung Quốc đã
được thúc đẩy đi sâu toàn diện, ngày càng chú trọng hơn đến chất lượng tăng trưởng,
đến văn minh sinh thái...
- Chức năng chính phủ đã được chuyển đổi, tập trung chủ yếu vào đảm bảo ổn
định kinh tế vĩ mô, đề ra quy hoạch, chiến lược phát triển.
- Giảm tối đa sự can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh tế vi mô, giảm
với số lượng lớn phê duyệt hành chính
- Vai trò của thị trường được phát huy tác dụng, tạo sức sống sự linh hoạt cho nền
kinh tế
- Người dân ngày càng được hưởng thành quả cải cách, được hưởng những lợi
ích thiết thực: môi trường sống được chú trọng hơn, thủ tục hành chính được tinh giản
hơn, việc cải cách giá cả đã khiến giá xăng dầu, giá điện rẻ, giá thuốc rẻ, người dân đi
máy bay không phải trả tiền thuế nhiên liệu...24
b. Những hạn chế tồn tại, mâu thuẫn trong quan hệ giữa nhà nước và thị
trường
Quá trình cải cách theo hướng thị trường hóa của Trung Quốc đã đạt được những
thành quả to lớn, trình độ thị trường hóa cũng được nâng lên rất nhiều, chuyển đổi
chức năng của chính phủ cũng đạt được những tiến triển lớn (kế hoạch mang tính
mệnh lệnh hành chính cơ bản hủy bỏ, giảm với số lượng lớn phê duyệt hành chính...),
nhưng về tổng thể thì trước mắt chính phủ vẫn can dự vào quá nhiều, quản quá nhiều,
người dân, là nhà đầu tư, và điều đó mới giải thích việc cổ phiếu tăng vọt.
- Ngân hàng đổ vốn lớn vào thị trường chứng khoán
Tính đến cuối tháng 5/2015, tiền trong các tổ chức tài chính tiền tệ, công ty chứng
khoán, các công ty quỹ, công ty bảo hiểm gần 13 nghìn tỉ NDT, trong đó có đến 90%
là đến từ ngân hàng, vốn của ngân hàng đổ vào thị trường chứng khoán duy trì ở mức
4.000 tỉ NDT.28 Trong khi nền kinh tế thực đang đối diện với suy giảm, các doanh
nghiệp đang khát vốn, thì nguồn tiền của ngân hàng lại đổ vào TTCK, và mặc dù các
giới trong xã hội đều biết điều này, nhưng cũng không thể tưởng tượng được mức tổng
tiền lại cao đến 4.000 tỉ NDT như vậy. Các biện pháp nới lỏng tiền tệ thời gian gần
đây, như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã giải phóng được 2300 tỉ NDT đưa vào lưu
thông, hi vọng ngân hàng có nhiều tiền hơn hỗ trợ nền kinh tế thực, nhưng cuối cũng
ngân hàng đã đổ 4000 tỉ NDT vào thị trường chứng khoán. 29 Điều này cũng góp phần
tạo nên bong bong trên TTCK, và nó cũng lý giải vì sao vào thời điểm các doanh
nghiệp vẫn làm ăn bình thường, thậm chí lợi nhuận còn có phần giảm sút mà giá cổ
phiếu mang tên họ lại tăng lên mạnh mẽ.
Và để giải cứu thị trường chứng khoán, ngoài các biện pháp nghiệp vụ, ngoài
công tác tuyên truyền ổn định lòng dân, chính phủ Trung Quốc đã có sự can thiệp
mạnh vào thị trường.
26
Timothy B. Lee (2005), Chinese stocks see another day of turmoil,
/>27
Không thể đủ khả năng để tránh khỏi "rơi ", các công ty ngừng giao dịch đã gần 1000 (如如如如如如” 如如如如如如如
如), />28
Thị trường chứng khoán sụt giảm sâu báo động nguồn tiền ngân hàng đổ vào (thị trường chứng khoán)如如如如如
如如如如如如如如如如如 , />29
Thị trường chứng khoán sụt giảm sâu báo động nguồn tiền ngân hàng đổ vào (thị trường chứng khoán)如如如如
如如如如如如如如如如如如 , />
tục phá giá đồng NDT thêm 1,6% và 1,1%.
Ngoài ra, sau 3 ngày giảm giá liên tiếp PBoC công bố tỷ giá tham chiếu của đồng
NDT/USD lần đầu tiên tăng trở lại 0,05%, lên 6,3975 NDT đổi một USD. Trước đó, tờ
Wall Street Journal đưa tin PBoC đã yêu cầu các ngân hàng thương mại quốc doanh
30
China unleashed $ 209 billion to save the stock market, />31
Trung Quốc tiếp tục phá giá nhân dân tệ, />32
Trung Quốc bơm hơn 100 tỉ vào hệ thống ngân hàng, />33
Trung Quốc tiếp tục phá giá nhân dân tệ, />
23
bán ra USD trong 15 phút giao dịch cuối cùng của thị trường Mỹ phiên ngày 12/8
nhằm không để tỷ giá NDT rơi sâu. Biện pháp này đã giúp đồng NDT tăng giá 1% so
với đồng USD sau khi chạm mức thấp nhất trong 4 năm trong phiên giao dịch.34
Sau ba ngày liên tiếp PBoC phá giá đồng NDT 4,6 điểm phần trăm đã khiến dư
luận quốc tế hết sức quan tâm, cũng có người lo ngại rằng việc NDT phá giá có thể dẫn
đến một cuộc chiến tiền tệ mới. Trước tình hình đó, cũng trong ngày 13/8, PBoC tuyên
bố không có cơ sở nào cho đồng NDT giảm giá sâu hơn đến 10%, Trung Quốc có
những yếu tố kinh tế nền tảng mạnh, thặng dư thương mại được duy trì, tình hình tài
khóa lành mạnh, dự trữ ngoại hối lớn là sự "hỗ trợ mạnh mẽ" cho tỷ giá đồng NDT. 35
Ngày 21/8/2015, tỷ giá giao dịch giữa đồng NDT và đồng USD là 6,3864 tăng
51 điểm so với phiên giao dịch ngày hôm trước. Tổng cộng trong 6 phiên giao dịch
đồng NDT đã tăng giá 146 điểm, mức độ tăng là 0,23%. 36 Theo Ngân hàng Trung ương
Trung Quốc, tỷ giá tham chiếu sẽ được quyết định bởi các yếu tố bao gồm giá đóng
cửa ngày trước đó, cung cầu ngoại tệ và diễn biến của các đồng tiền lớn trên thị trường
tiền tệ quốc tế.
Mặc dù điều này cho thấy việc xác định tỷ giá hối đoái của đồng NDT/USD đã
ngày càng linh hoạt hơn, biến động của đồng NDT gắn với xu thế biến động trên thị
quyền rút vốn đặc biệt (SDR).
Tóm lại, bất cứ hành động nào đều có tính hai mặt, đối với Trung Quốc, các
chuyên gia cho rằng biện pháp điều chỉnh giảm tỷ giá hối đoái đồng NDT vừa qua như
một "con dao hai lưỡi" và Trung Quốc cần thận trọng để giảm các tác dụng phụ không
mong muốn. Bởi vì việc phá giá đồng NDT có thể mang lại những rủi ro như: Có thể
khiến dòng vốn nước ngoài ra khỏi Trung Quốc; có khả năng gây ra sự mất ổn định
của thị trường chứng khoán, bất động sản; Ngoài ra, nó cũng có thể gây hiệu ứng, như
việc người dân sẽ tìm công cụ khác (như chứng khoán, bất động sản, các đồng tiền
mạnh...) để đảm bảo giá trị tiền gửi, trong nước vật giá có thể leo thang, gây bất ổn
kinh tế, xã hội.40
40
Dẫn theo Hồng Vân, Thông tin "Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá đồng NDT", Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số
8(168)-2015, tr.84-85.
25