BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
------***------
BỘ Y TẾ
NGUYỄN THỊ HÀ
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ
PHƠI NHIỄM VỚI VẬT SẮC NHỌN TRONG TIÊM
TRUYỀN CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
------***------
BỘ Y TẾ
NGUYỄN THỊ HÀ
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ
PHƠI NHIỄM VỚI VẬT SẮC NHỌN TRONG TIÊM
TRUYỀN CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Điều dưỡng
TĐ
VSN
WHO
Immunodefficiency virus)
Kiểm soát nhiễm khuẩn
Kiến thức
Tổn thương do kim tiêm
Nhân viên y tế
Sinh viên
Sinh viên điều dưỡng
Thái độ
Vật sắc nhọn
Tổ chức y tế thế giới
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..........................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.....................................................................3
1.1. Một số khái niệm............................................................................................3
1.2. Biện pháp phòng ngừa và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong
tiêm truyền....................................................................................................4
1.2.1. Biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền. .4
1.2.2. Xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền.............................7
1.3. Tình hình tổn thương do vật sắc nhọn ở sinh viên điều dưỡng....................10
1.3.1. Trên thế giới..........................................................................................10
1.3.2. Tại Việt Nam.........................................................................................12
1.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm
với vật sắc nhọn trong tiêm truyền..............................................................13
Chương 4: BÀN LUẬN.........................................................................................42
4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.............................................................42
4.1.1. Giới.......................................................................................................42
4.1.2. Sự yêu nghề..........................................................................................42
4.1.3. Chương trình đào tạo............................................................................42
4.1.4. Tiêm phòng Viêm gan B.......................................................................43
4.2. Kiến thức, thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm
truyền của sinh viên điều dưỡng.................................................................44
4.2.1. Kiến thức về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm
truyền của sinh viên điều dưỡng...........................................................44
4.2.2. Thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm
truyền của sinh viên điều dưỡng...........................................................51
4.3. Một số yếu tố liên quan đến Kiến thức, thái độ về phòng và xử trí phơi
nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền...................................................53
4.3.1. Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với kiến thức
phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền...........53
4.3.2. Mối liên quan giữa thông tin về học tập với kiến thức chung...............54
4.3.3. Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với thái độ về
phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền..............55
4.3.4. Mối liên quan giữa kiến thức với thái độ phòng và xử trí phơi nhiễm với
vật sắc nhọn trong tiêm truyền.............................................................56
KẾT LUẬN............................................................................................................57
KHUYẾN NGHỊ....................................................................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổn thương do vật sắc nhọn (VSN) trong thực hành lâm sàng là vấn đề sức
khỏe thường gặp ở sinh viên điều dưỡng (SVĐD). Tỷ lệ bị tổn thương do VSN ở
SVĐD trên thế giới rất khác nhau dao động từ 9,4% - 100% , . Tổn thương do VSN
có thể dẫn đến việc lây truyền các loại vi rút qua đường máu cho SVĐD như vi rút
gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), vi rút viêm gan B (HBV) và vi rút viêm gan
C (HCV) . Nguy cơ bị lây truyền bệnh theo kim tiêm từ một người bệnh có nhiễm
khuẩn máu dao động từ mức 0,3% đối với HIV, 3% - 10% đối với HCV và 40% đối
với HBV . Khả năng bị tổn thương do VSN có thể cao hơn ở những đối tượng thiếu
kinh nghiệm, mệt mỏi mà lại phải thường xuyên làm việc trong môi trường mới,
khẩn trương như SV ngành y .
Trong khi đó kiến thức về phòng ngừa và xử lý phơi nhiễm với vật sắc nhọn
của SV chưa cao: chỉ có 36,2% SV năm cuối biết đầy đủ chi tiết của việc phòng
ngừa các tổn thương do kim đâm ; 85,9% SV không biết hoặc chỉ biết một phần
trong các bước xử trí sau phơi nhiễm, 35,1% SV không quan tâm đến tác hại sau
phơi nhiễm với nguồn bệnh , thậm chí 51,6% SV trường đại học khoa học sức khỏe
Arack còn thực hiện nặn máu từ vết thương, hành động xử lý vết thương sai trầm
trọng .
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Honda, điều dưỡng có thái độ chưa đúng về
phòng chống tổn thương do VSN có nguy cơ mắc tổn thương cao gấp 1,86 lần so
với điều dưỡng có thái độ đúng .
Ở Việt Nam, tỷ lệ SV xử lý vết thương đúng sau tổn thương còn thấp: chỉ có
36,8% SV trường cao đẳng Y tế Kiên Giang thực hành xử lý vết thương đúng sau
tổn thương . Tương tự, trường Đại học Y khoa Vinh có 63% sinh viên xử lý sai vết
thương sau khi bị tổn thương . Tỷ lệ học sinh sinh viên có kiến thức không đầy đủ
liên quan đến tai nạn nghề nghiệp do kim tiêm truyền đâm là 69,46% .
Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đào tạo SVĐD hệ cao đẳng 3 năm trong đó
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
Phơi nhiễm
Là sự tiếp xúc với nguồn chứa tác nhân gây bệnh trong đó tác nhân có thể gây
hại hoặc có lợi .
Phơi nhiễm nghề nghiệp
Là sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứa
tác nhân gây bệnh trong khi nhân viên y tế thực hiện nhiệm vụ dẫn đến nguy cơ lây
nhiễm bệnh .
Vật sắc nhọn
Bất cứ vật nào có thể gây tổn thương xâm lấn da hoặc qua da; vật sắc nhọn
bao gồm kim tiêm, đầu kim truyền dịch, dao mổ, thủy tinh vỡ, ống mao dẫn bị vỡ
và đầu dây nẹp nha khoa bị phơi nhiễm .
Tổn thương do vật sắc nhọn:
Tổn thương do vật sắc nhọn là tình trạng da bị xâm nhập bởi các vật sắc nhọn
và địa điểm xảy ra ở trong một cơ sở y tế. Các vật sắc nhọn có thể gồm: kim, lưỡi
chích, dao mổ và mảnh thủy tinh vỡ .
Tác nhân gây bệnh qua đường máu
Các vi sinh vật có độc lực (có khả năng gây bệnh) lây truyền do phơi nhiễm
với máu, sản phẩm của máu và gây bệnh trên người. Các tác nhân gây bệnh đường
máu hay gặp bao gồm viêm gan B (HBV), Viêm gan C (HCV), virus gây suy giảm
miễn dịch ở người (HIV) .
Tiêm truyền tĩnh mạch
Là kỹ thuật dùng kim đưa thuốc vào tĩnh mạch với góc tiêm 30⁰ so với mặt
da. Khi tiêm chọn tĩnh mạch nổi rõ, mềm mại, không di động, da vùng tiêm nguyên
vẹn .
Tiêm an toàn
nguy hại khỏi nơi làm việc như sử dụng thùng chứa chất thải sắc nhọn; sử dụng các
thiết bị bảo vệ tránh vật sắc nhọn cho tất cả quy trình (bơm kim tiêm có tính năng tự
thụt vào, tự đóng hoặc tự cùn đi ngay sau khi sử dụng) khi có thể.
Biện pháp hành chính: các chính sách và chương trình can thiệp nhằm hạn
chế phơi nhiễm với các yếu tố nguy hại. Ví dụ như áp dụng phòng ngừa phổ cập,
xác định các nguồn lực thể hiện cam kết an toàn cho nhân viên y tế, thành lập ủy
5
ban phòng ngừa tai nạn nghề nghiệp do VSN, xây dựng các kế hoạch kiểm soát
phơi nhiễm và tăng cường đào tạo.
Biện pháp kiểm soát thực hành: nâng cao, củng cố các thao tác, thực hành
an toàn, loại bỏ các thói quen, các thao tác đã được xác định có nguy cơ cao đối với
tai nạn nghề nghiệp do VSN. Ví dụ như không đậy lại nắp kim sau khi tiêm, đặt các
hộp chứa vật thải sắc nhọn ở nơi dễ sử dụng, kiểm tra hộp đựng VSN định kỳ và
đưa đi xử lý trước khi hộp đầy, thiết lập các biện pháp an toàn trong việc bảo quản,
chuyên chở và xử lý chất thải sắc nhọn.
Phương tiện bảo vệ cá nhân: sử dụng kính, mặt nạ, găng tay, khẩu trang, áo
choàng...
Các biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm với tổn thương da do kim và vật
sắc nhọn
- Luôn luôn đảm bảo rằng bệnh nhân của bạn giữ yên một tư thế khi tiêm (cố
định bệnh nhân)
- Tập trung vào công việc tiêm, không nói chuyện và nhìn đi chỗ khác
- Bảo đảm khu vực làm việc gọn gàng để đảm bảo rằng bạn không phải đưa
kim tiêm qua các vật cản.
- Đảm bảo an toàn cho bàn tay của nhân viên y tế:
+ Không bẻ cong kim
+ Không dùng ngón tay động vào thân kim khi chọc kim hoặc rút kim
vạch này”.
Cách sử dụng hộp an toàn:
+ Treo cạnh xe tiêm hoặc nơi phát sinh chất thải sắc nhọn
+ Đặt tại nơi thuận tiện với tầm với của tay
+ Chỉ chứa đầy ¾ hộp
+ Không bao giờ mở ra một khi hộp đã chứa đầy và đã đóng nắp.
Vận chuyển hộp an toàn:
+ Đậy kín nắp hộp an toàn trước khi vận chuyển
+ Khi vận chuyển để hộp cách xa người
+ Cầm quai hộp khi vận chuyển
+ Mang găng dày khi vận chuyển.
Tiêu hủy hộp an toàn có chứa bơm kim tiêm nhiễm khuẩn:
+ Không bỏ ra bãi rác lộ thiên
+ Vận chuyển và thiêu đốt cùng với các chất thải y tế nguy hại.
Chú ý:
+ Không bao giờ sử dụng lại bơm, kim tiêm dùng một lần
+ Tiêm và truyền chỉ thực hiện nếu thực sự cần thiết.
1.2.2. Xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền
Nguy cơ lây nhiễm sau khi phơi nhiễm phụ thuộc vào việc xử trí ngay sau
phơi nhiễm. Vết thương càng được xử trí sớm theo đúng quy trình thì nguy cơ lây
nhiễm càng thấp. Các cơ sở y tế đều cần có kế hoạch kiểm soát phơi nhiễm, kế
hoạch quản lý sau phơi nhiễm và theo dõi NVYT có nguy cơ phơi nhiễm. Việc xử
trí phơi nhiễm vật sắc nhọn trong tiêm truyền cần tuân theo các bước sau:
1.2.2.1 Xử trí vết thương tại chỗ
Rửa ngay vùng da bị tổn thương bằng xà phòng và nước, dưới vòi nước chảy
7
Để máu ở vết thương tự chảy, không nặn không bóp
8
+ Tư vấn trước và sau khi xét nghiệm HIV theo quy định.
+ Nếu ngay sau khi phơi nhiễm, người bị phơi nhiễm có HIV (+) : Đã bị
nhiễm HIV từ trước không phải do phơi nhiễm.
+ Nếu HIV (-) : Kiểm tra lại sau 3 và 6 tháng.
+ Xét nghiệm công thức máu và chức năng gan (ALT) khi bắt đầu điều trị và
sau 2- 4 tuần.
+ Xét nghiệm HIV sau 3 và 6 tháng
+ Hỗ trợ tâm lý nếu cần thiết.
1.2.2.7 Tư vấn và điều trị sau phơi nhiễm
* Tư vấn sau phơi nhiễm
Người được xác định là phơi nhiễm với máu, dịch cơ thể và vật sắc nhọn từ
nguồn có chứa HIV, HBV, HCV cần tới gặp bác sĩ kiểm soát nhiễm khuẩn hoặc
chuyên khoa truyền nhiễm để được tư vấn về nguy cơ nhiễm HIV, HBV và HCV,
những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với cuộc sống của họ, cũng như ưu, nhược điểm
của điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (khả năng thành công, tác dụng phụ của
thuốc, tuân thủ điều trị thuốc kháng vi rút,...). Người bị phơi nhiễm phải đi khám
ngay khi có bất cứ triệu chứng cấp tính nào trong quá trình theo dõi. Kết quả xét
nghiệm của họ cần được giữ bí mật hoàn toàn.
* Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với HBV
Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với HBV cần được thực hiện ngay sau phơi
nhiễm (trong vòng 24 giờ), tùy từng trường hợp cụ thể mà có cách dự phòng khác nhau:
Nếu NVYT đã có kháng thể với VGB thì tiêm nhắc lại một mũi vắc xin,
Nếu NVYT đã tiêm phòng VGB nhưng kháng thể (-): Tiêm 1 - 2 liều huyết
có tác dụng phụ nhẹ và thoáng qua. Nếu có các tác dụng phụ nặng, chuyển đến các
cơ sở y tế ngay.
Hỗ trợ tâm lý nếu cần thiết.
Xét nghiệm lại HIV sau 3 tháng.
Tư vấn về việc không được cho máu, nên quan hệ tình dục an toàn, thực
hành tiêm chích an toàn, và không cho con bú cho đến khi loại trừ được tình trạng
nhiễm HIV.
1.3. Tình hình tổn thương do vật sắc nhọn ở sinh viên điều dưỡng
1.3.1. Trên thế giới
10
Trên thế giới nhiều nghiên cứu về tổn thương do vật sắc nhọn đã được triển
khai chỉ ra rằng tổn thương do VSN trong thực tập lâm sàng là vấn đề phổ biến ở
sinh viên điều dưỡng. Đồng thời kiến thức về phòng ngừa và xử lý sau phơi nhiễm
với kim tiêm và vật sắc nhọn của sinh viên được nhiều tác giả đề cập tới chưa cao.
Về kiến thức phòng ngừa phơi nhiễm với kim tiêm và vật sắc nhọn, theo
nghiên cứu của tác giả Hani A năm 2017 cho thấy hơn 80% SV cho rằng có thể lây
truyền HIV, HBV qua kim tiêm và SV dễ bị tổn thương do kim tiêm, 76% SV
không ý thức nhận thức được rằng kim không nên uốn cong sau khi sử dụng, 72%
SV tháo kim ra khỏi bơm biêm trước khi thải bỏ, 88% SV đồng ý rằng xử lý kém
vật sắc nhọn dẫn đến phơi nhiễm, 98% đồng ý rằng cách xử lý kim an toàn sẽ giúp
giảm tỷ lệ tổn thương . Tương tự kết quả nghiên cứu của Hani A, nghiên cứu của tác
giả Taimur Saleem cho thấy hơn 85% HS/SV có kiến thức về khả năng nhiễm viêm
gan B, viêm gan C và HIV từ vết thương do kim đâm. Chỉ 16,4% HS/SV năm thứ 3;
29,5% HS/SV năm thứ 4 và 36,2% HS/SV năm cuối biết đầy đủ chi tiết của việc
phòng ngừa các tổn thương do kim . Để phòng ngừa tổn thương do kim tiêm, 31,3%
SV cho rằng cần đậy nắp kim bằng cách sử dụng kỹ thuật một tay hoặc đậy nắp bằng
cách giữ nắp trên bàn làm việc 40,6%; 85,5% SV cho rằng nên loại bỏ kim luôn . Chỉ
đến tác hại sau phơi nhiễm của nguồn bệnh . Khác với kết quả của Souza-Borges,
kết quả nghiên cứu của Kin Cheang cho thấy tỷ lệ không báo cáo tổn thương là
60,7% vì lý do họ coi thiết bị là sạch không bị nhiễm khuẩn (76,5%), nguy cơ lây
nhiễm mầm bệnh thấp (50%), quy trình báo cáo phức tạp (14,7%), sợ bị phạt
(11,8%), không biết báo cáo như thế nào và không có thời gian báo cáo (2,9%) .
Một nghiên cứu khác tại trường đại học Mahatma Gandhi cho thấy tỷ lệ SV không
báo cáo sau tổn thương là 77,4% trong đó 47,9% SV không biết phải báo cáo như
thế nào . Vì vậy, nguyên tắc của việc huấn luyện kiểm soát nhiễm khuẩn và tất cả
các tổn thương cần được báo cáo tiếp tục được nhấn mạnh trong quá trình giảng dạy
sinh viên điều dưỡng .
Sau phơi nhiễm có hơn 1/2 sinh viên không xác định tình trạng người bệnh mà
mình bị phơi nhiễm qua tổn thương, có 11,4% đã dự phòng phơi nhiễm và 19,54%
đã đi xét nghiệm huyết thanh .
1.3.2. Tại Việt Nam
Hiện tại, Việt Nam có rất ít đề tài nghiên cứu liên quan kiến thức thái độ về
12
phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm trên sinh viên điều dưỡng.
Xử lý đúng vết thương và báo cáo sự việc bị tổn thương đến người có trách nhiệm
là hành động sinh viên cần thực hiện nghiêm túc để bảo vệ chính bản thân, đồng
thời cung cấp số liệu cho hệ thống giám sát tai nạn nghề nghiệp.
Kiến thức của SV về phòng ngừa và xử trí sau phơi nhiễm với kim tiêm và vật
sắc nhọn chưa cao. Chỉ có 36,91% HSSV trả lời đúng trên 70% nội dung về kiến thức
về phòng ngừa phơi nhiễm nghề nghiệp do kiêm tiêm truyền, đa số HSSV chỉ biết một
số chi tiết về quy trình xử trí phơi nhiễm với máu và dịch tiết do kim tiêm truyền . Theo
kết quả nghiên cứu của Hồ Văn Luyến, 80% SV đã được giảng về phòng và xử trí phơi
nhiễm với vật sắc nhọn nhưng chỉ có 57,8% SV có kiến thức đúng về phòng ngừa và
xử lý tổn thương do vật sắc nhọn .
1.4.2. Năm học
Thời gian học là yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thái độ về phòng và xử trí
phơi nhiễm với VSN. Các sinh viên năm cuối thường có nhận thức tốt hơn kiến
thức và thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN, bên cạnh đó do có thời gian
học lâm sàng nhiều hơn, các sinh viên lớp lớn có thể đã từng trải qua hoặc được chứng
kiến các trường hợp bị phơi nhiễm với VSN nhiều hơn do đó có sự cảnh giác cao hơn.
Nghiên cứu của Taimur Saleem chỉ ra rằng có sự liên quan giữa số năm được đào tạo
và kiến thức về phòng ngừa các tổn thương do kim tiêm, các sinh viên năm cuối có
kiến thức tốt hơn về phòng ngừa các tổn thương do kim tiêm . Tương tự, theo tác giả
Mohammat Suliman sinh viên năm thứ 4 có kiến thức về tổn thương do kim tiêm cao
hơn (điểm trung bình 7,4; SD= 1,6) so với sinh viên năm thứ 2 (điểm trung bình 6,5;
SD= 1,8) với p< 0,001 . Ngược lại, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Thơ
SVĐD năm thứ 3 có kiến thức về phòng ngừa tổn thương do VSN trong thực hành lâm
sàng cao hơn gấp 2,8 lần SVĐD năm 4 .
1.4.3. Chương trình đào tạo/hình thức đào tạo
Việc đào tạo về phòng ngừa và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm
truyền của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Hà Nội nằm trong nội dung môn học điều
dưỡng và kiểm soát nhiễm khuẩn được thực hiện bởi bộ môn Kiểm soát nhiễm khuẩn
vào năm thứ nhất với hình thức tự học lý thuyết và đi thực hành lâm sàng bệnh viện có
4 tiết giảng lâm sàng . Đã có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng, chương trình đào tạo ảnh
hưởng đến kết quả thực hành dự phòng phơi nhiễm với VSN.
14
Thiếu tập huấn, đào tạo về phòng ngừa phơi nhiễm nghề nghiệp với các tác
nhân gây bệnh qua đường máu có thể khiến các SVĐD gặp rủi ro khi họ đi thực
hành lâm sàng tại bệnh viện. Những SV không được đào tạo về phòng ngừa tổn
thương do kim tiêm và vật sắc nhọn có nguy cơ bị tổn thương cao gấp 3 lần so với
SV được đào tạo .
nghĩ rằng mình không cần thiết phải tiêm ngừa và đặc biệt có 1% SV không biết nơi
nào tiêm ngừa VGB . Tiêm phòng VGB cho SV trước khi đi thực hành lâm sàng tại
các cơ sở y tế là điều cần thiết , .
Sau tổn thương do kim tiêm 15% SV phải chịu đựng đau khổ tinh thần, không
ai trong số SV này báo cáo về bệnh mãn tính sau tổn thương do vật sắc nhọn . Mức
độ nghiêm trọng của các triệu chứng trầm cảm giảm theo thời gian sau NSI, nhưng
bệnh tâm thần kéo dài thêm 1,78 tháng mỗi tháng ở một bệnh nhân NSI chờ đợi kết
quả xét nghiệm âm tính . Các chương trình quản lý sau phơi nhiễm cần phải chú
trọng hơn vào các sáng kiến giáo dục và tâm lý học để cải thiện việc xác định và
điều trị các đối tượng có triệu chứng trầm cảm .
16
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Sinh viên cao đẳng điều dưỡng năm thứ 2 đã học xong môn học: Điều
dưỡng cơ sở; Điều dưỡng và kiểm soát nhiễm khuẩn. Sinh viên cao đẳng điều
dưỡng năm thứ 3 trường Cao đẳng Y tế Hà Nội.
- Sinh viên tự nguyện tham gia.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Sinh viên không có mặt tại trường trong thời gian nghiên cứu.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nội.
2.2.2. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 03/2018 đến tháng 04 /2019.
Trong đó:
Số sinh viên cần lấy mỗi lớp là: 237/12= 19,75, làm tròn là 20 SV.
Tổng số sinh viên cần lấy năm thứ 3 là 20x12=240 SV
Sinh viên năm thứ 2: 478x420/1097=183 sinh viên/ 18 lớp
Số sinh viên cần lấy mỗi lớp là 183/18=10,17, làm tròn là 11 SV.
Tổng số sinh viên cần lấy năm thứ 2 là 11x18=198 SV
18
- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu phân tầng hệ thống theo sơ đồ sau:
Sinh viên điều dưỡng trường Cao
đẳng Y tế Hà Nội
Năm thứ 2 (CĐĐD12)
Tổng số 478 SV
Năm thứ 3 (CĐĐD11)
Tổng số 619 SV
11SV/ lớp
20SV/ lớp
198SV
240 SV