Đạo đức sinh thái phật giáo và việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên đại học sư phạm đà nẵng hiện nay - Pdf 56

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
ĐẠO ĐỨC SINH THÁI PHẬT GIÁO VÀ VIỆC NÂNG CAO Ý
THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG SINH VIÊN ĐẠI
HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện : Lưu Thị Trang
Lớp

: 14SGC

GV hướng dẫn

: ThS. Lê Đức Tâm

Đà Nẵng tháng 04 năm 2018


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
ĐẠO ĐỨC SINH THÁI PHẬT GIÁO VÀ VIỆC NÂNG CAO Ý

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến quý thầy cô khoa Giáo dục Chính trị, các thầy cô khoa Kinh tế Chính trị
Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, các thầy cô trong trường ĐHSP Đà Nẵng đã tận
tình dạy dỗ tôi trong 4 năm học vừa qua.
Đặc biệt, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Lê Đức Tâm, người
đã trực tiếp chỉ dạy, hướng dẫn và luôn hết lòng động viên tôi để hoàn thành đề tài
này.
Xin chân thành cảm ơn những lời động viên, những tình cảm thân thiết nhất
cùng với sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian học tập và thời gian
hoàn thành đề tài này.
Mặc dù đã có sự cố gắng nhưng do hạn chế của bản thân về điều kiện thời
gian, trình độ nên đề tài còn nhiều thiếu sót. Kính mong các thầy cô và các bạn nhận
xét và đóng góp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Đà Nẵng, ngày 24 tháng 4 năm 2018
Sinh viên thực hiện

Lưu Thị Trang


MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU ...............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ...........................................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................4
5. Bố cục của đề tài .....................................................................................................4
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu .................................................................................4
B. NỘI DUNG ............................................................................................................8
CHƯƠNG 1. ĐẠO ĐỨC SINH THÁI PHẬT GIÁO .............................................8

Đà Nẵng hiện nay ......................................................................................................54
2.2.4. Một số đề xuất để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học
Sư phạm Đà Nẵng hiện nay ......................................................................................55
Tiểu kết chương 2................................................................................................... 62
C. KẾT LUẬN .........................................................................................................64
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................68


A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức Phật giáo, đặc biệt là đạo đức sinh thái Phật giáo, là một trong những
đóng góp tích cực của Phật giáo vào nhận thức đạo đức nói chung và nhận thức đạo
đức sinh thái của loài người nói riêng. Dựa trên các học thuyết triết học căn bản
như: Thuyết Duyên khởi, Thuyết Vạn vật bình đẳng, Thuyết Nhân quả báo ứng,
v.v... Phật giáo đã xây dựng nên các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức sinh thái căn
bản và có một ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với bản thân Phật giáo mà còn đối với
sự nghiệp giáo dục đạo đức sinh thái của nhân loại. Đạo đức sinh thái tưởng chừng
như đó là vấn đề của đời sống xã hội hiện đại nhưng thực ra nó lại có nguồn gốc sâu
xa trong lịch sử phát triển trong các học thuyết tư tưởng, các tôn giáo. Cũng
giống như nhiều tôn giáo lớn trên thế giới, Phật giáo quan tâm đến đạo đức sinh thái
không phải là một nhận thức tiên tri đi trước thời đại, nó thực chất là một phần giáo
lý của tôn giáo này trong quan niệm về thế giới, về nhân sinh, ở đó việc đặt ra và
tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức sinh thái như là một trong những
giải pháp nhằm giúp mỗi chúng sinh tự tìm thấy con đường đi đến giải thoát.
Vấn đề môi trường sinh thái đang là một trong các vấn nạn của thế giới ngày
nay, đang được quan tâm hàng đầu hiện nay. Ngày nay môi trường đang bị đe dọa
trầm trọng vì tình hình thế giới phát triển càng lúc càng cao, các nhà máy, công
trình, xưởng sản xuất mỗi ngày thải ra ngoài môi trường rất nhiều khí thải, chất thải
nguy hại, dẫn đến môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Môi trường toàn cầu hiện
nay đầy những yếu tố, nào là hạn hán, đói kém, thiên tai, lũ lụt…

thế giới nên những di sản tư tưởng mà Phật giáo để lại cho nhân loại có ý nghĩa vô
cùng lớn lao, trong đó có các tư tưởng về đạo đức học sinh thái. Không chỉ phản
ánh trung thực mục tiêu, tôn chỉ cũng như những triết lý căn bản về thế giới quan và
nhân sinh quan của tôn giáo này trong suốt tiến trình hình thành và phát triển mà nó
còn có ý nghĩa hết sức thiết thực đối với việc nghiên cứu và giáo dục đạo đức
sinh thái trong giai đoạn hiện nay.
Việc nghiên cứu khoa học về đạo đức sinh thái Phật giáo nhằm tiếp thu các
tinh hoa Phật giáo để bổ sung vào nhận thức của con người hiện nay về môi trường
sinh thái để qua đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường hiện nay…
Ở Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng hiện nay, không chỉ có sinh
viên Khoa Sinh - Môi trường mà cả sinh viên các khoa khác, cả tự nhiên và xã hội
trong toàn trường đều có ý thức quan tâm đến những vấn đề về môi sinh. Các hoạt
động tình nguyện như: Truyền thông về môi trường sinh thái, mùa hè xanh, bảo vệ
2


Vooc Chàvá chân nâu núi Sơn Trà, dọn vệ sinh môi trường, Khóa tập huấn thường
niên “Bảo tồn linh trưởng của Việt Nam” đã được khởi động trở lại... Đây là những
hoạt động ý nghĩa nhằm chung tay góp sức cùng cộng đồng địa phương thực hiện
tốt các hoạt động bảo vệ môi trường và xây dựng Đà Nẵng thành một thành phố
sinh thái đáng sống.
Để nâng cao hơn nữa ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học Sư
phạm Đà Nẵng, với tư cách là một sinh viên năm tư chuyên ngành giáo dục chính
trị, giáo dục công dân sắp tốt nghiệp ra trường, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Đạo đức
sinh thái Phật giáo và việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên
Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho Khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu đạo đức sinh thái Phật giáo để có cái nhìn sâu sắc hơn

khóa luận gồm 2 chương (4 tiết).
Chương 1: Đạo đức sinh thái Phật giáo
Chương 2: Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học sư
phạm Đà Nẵng hiện nay
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Vấn đề về đạo đức nói chung và đạo đức sinh thái nói riêng đã được các phái
triết học, các nhà triết học trong lịch sử ở phương Đông và phương Tây đề cập đến
từ rất sớm. Quản Trọng một triết gia Trung Hoa cổ đại có viết: “Nhất niên thụ cốc.
Thập niên thụ mộc. Bách niên thụ nhân. Thiên niên thụ đức”. Cũng giống như Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Vì lợi ích mười năm phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm
phải trồng người. Nhấn mạnh vai trò của việc chăm lo cho giáo dục và với kế ngàn
năm quan tâm đến đạo đức, trong đó có đạo đức sinh thái. Vấn đề đạo đức luôn
được đặt lên hàng đầu trong việc thành bại của con người. Đạo đức thể hiện chuẩn
mực dẫn dắt cách ứng xử của con người như một thói quen. Đạo đức không chỉ thể
hiện thông qua các mối quan hệ giữa con người với con người, mà còn thể hiện mối
quan hệ với tự nhiên.
Từ xa xưa, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên đã được quan tâm. Ở
phương Đông thể hiện nó như một triết lý sống hài hòa với thiên nhiên “Thiên
nhiên hợp nhất”. Tư tưởng về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên được C.Mác
đề cập từ khá sớm. Ngay trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1884, C.Mác đã
4


viết: “Giới tự nhiên - cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không
phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người. Con người sống
bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân
thể mà với nó, con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn
tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên,
nói như thể chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự
nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên” [28; tr.135]

việc bảo vệ môi trường qua các công trình biển khảo và bài báo khoa học của mình.
GS.Trần Nhâm đề cập đến Môi trường - sinh thái và mối hiểm hoạ của thế kỷ XXI...
TS.Phạm Văn Boong đề cập về Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền...
TS.Vũ Minh Tâm đặt vấn đề về Giáo dục văn hoá sinh thái - nhân văn trong nhà
trường nhằm nâng cao chất lượng dân số... Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương, Viện
Triết học, có bàn đến Viễn cảnh mới cho thế kỉ XXI nhìn từ góc độ một nền đạo đức
mới - đạo đức học sinh thái...
Cuốn Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam
hiện nay do GS.Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 có
đề cập đến ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo ở Việt Nam. Vài năm gần đây, ngày có
nhiều công trình nghiên cứu, luận giải chuyên sâu vấn đề bảo vệ môi trường và
phương thức xử lý theo quan niệm Phật giáo. Trong đó phải kể đến công trình
nghiên cứu, bài viết bàn về đạo đức sinh thái Phật giáo như: Giáo dục đạo đức sinh
thái vì sự phát triển bền vững cho con người và giới tự nhiên của Phan Thị Hồng
Duyên. Đạo đức sinh thái theo quan điểm của Phật giáo của PGS.TS.Phạm Công
Nhất, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã
khái quát được một số nguyên tắc Đạo đức sinh thái theo quan điểm Phật giáo;
v.v…
PGS.TS.Phạm Thị Ngọc Trầm, thuộc Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam đã đề cập đến các vấn đề: Về giá trị văn hoá sinh thái truyền thống
Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá; về xây dựng đạo đức sinh thái trong điều kiện
kinh tế thị trường; xây dựng đạo đức sinh thái một trách nhiệm xã hội của con
người đối với tự nhiên; những giá trị văn hoá sinh thái nhân văn Hồ Chí Minh, v.v...
Các công trình nghiên cứu khoa học về Phật giáo trên đây có cách khai thác
riêng về nhiều khía cạnh khác nhau trong đạo đức sinh thái Phật giáo. Đề tài “Đạo
đức sinh thái Phật giáo và việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh
viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay” là sự kế thừa một số thành tựu, kết quả
nghiên cứu về Phật giáo nói chung và đạo đức sinh thái Phật giáo nói riêng, kết hợp
6


thời đại Đức Phật ra đời thì cuộc vận động văn hóa đã làm cho vũ đài chính trị, kinh
tế, thứ tự giai cấp gần như đảo lộn. Bằng chứng là trong tư tưởng thời kỳ trước nặng
về hình thức, tĩnh tại và nhuốm nặng chất thi ca, hình nhi thượng (siêu hình học
hiểu theo nghĩa triết học Phương Tây); đến thời kỳ Đức Phật thì tư tưởng thực tế,
năng động, gần gũi với con người hơn. Sự phát triển của Phật giáo gắn liền với sự
thúc đẩy, sự liên hệ vô cùng mật thiết với tình hình xã hội. Việc tu hành của tăng
nhân là nỗ lực tìm sự thanh đạm giản dị, không xâm phạm nguồn tài nguyên thiên
nhiên, thể hiện một mối quan hệ cộng sinh với vạn vật, một triết lý nhân sinh mang
tính chất đạo đức sinh thái nhân văn đã định hình từ khá sớm trong lịch sử.
Nhận thức được chân lý và quy luật của vũ trụ, đồng thời xuất hiện từ nền văn
hóa đang tồn tại, Phật giáo đã xây dựng nên một hệ thống nhân sinh quan và thế
giới quan riêng biệt, mang đậm dấu ấn Phật giáo. Ra đời và phát triển trong điều
kiện không gian nước Ấn đang trong thời kì nông nghiệp biến đổi mạnh. Và về sau
sự phát triển của đạo Phật diễn ra mạnh mẽ, truyền đạo, du nhập vào nhiều quốc gia
trên thế giới.

8


Cùng với sự phát triển của xã hội, từ thế kỉ XVIII bước vào nền văn minh
công nghiệp về sau, con người đã vô tình hay hữu ý phá hủy môi trường sinh thái
ngày càng nghiêm trọng hơn. Nhân loại và tự nhiên ở trong nguy cơ đang đâm vào
nhau, hoạt động của con người đã mang đến tổn thương cho môi trường tự nhiên.
Vào thập niên 70 của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhà sinh vật học người Đức là
Emst Haeckel (1834 - 1919) đã đưa ra thuật ngữ Sinh thái học (Ecology). Từ thập
niên 60 của thế kỷ XX trở về sau, vấn đề môi trường sinh thái đã có được sự quan
tâm thực sự của nhân loại có lương tri và tiến bộ.
Phật giáo ngay từ khi mới ra đời là tôn giáo rất chú trọng đến hệ sinh thái tự
nhiên. Là một tôn giáo lớn, đạo Phật ý thức được vai trò, tầm quan trọng của môi
sinh ngay từ mới sơ khai hình thành, Đức Phật luôn ca ngợi thiên nhiên, hòa mình

sống của con người, trong đó có người Việt Nam ta, qua các thời đại lịch sử và cho
đến ngày nay.
Dựa trên hệ thống giáo lý của mình, đưa ra phương pháp giải thoát cho tất cả
chúng sinh. Nổ lực nắm bắt sự cân bằng trong mối quan hệ giữa con người và thiên
nhiên, tìm kiếm sự phát triển hài hòa giữa con người là nền tảng đảm bảo để có thể
tiếp tục tồn tại và phát triển. Phật giáo xây dựng đạo đức sinh thái trên cái nhìn của
lịch sử, thực tiễn của nhân loại, nhằm tìm kiếm sự giải thoát.
1.1.2. Nguồn gốc, cơ sở về nhận thức, tư tưởng
Đạo Phật là một tôn giáo mang dấu ấn đặc sắc riêng. Những tư tưởng đạo đức
sinh thái Phật giáo được hình thành trong suốt lịch sử phát triển của tôn giáo này.
Là một học thuyết triết học nhân sinh, Phật giáo đặc biệt quan tâm đến các vấn đề
về môi trường sinh thái. Biểu hiện thông qua lối sống và ý thức chi phối các hoạt
động thực tiễn như: Ăn chay, niệm Phật, không sát sinh, hài hòa hòa quyện với
thiên nhiên, được quy định trong các giới khi quy y tam bảo- quay về chổ sáng, giác
ngộ, giải thoát, hành động theo con đường Phật dạy, tuân theo giáo pháp của Phật
trở thành con Phật, … Những tư tưởng đạo đức sinh thái Phật giáo được hình thành,
hoàn thiện và phát triển cùng với thực tiễn xã hội. Và dựa trên hệ thống các luận
thuyết chủ yếu của Phật giáo có từ thời Phật giáo nguyên thủy, như: Thuyết Duyên
khởi, thuyết Vạn vật bình đẳng và thuyết Nhân quả.
1.1.2.1. Thuyết Duyên khởi
Trong kinh Phật Tự Thuyết, Đức Phật có nói: “Vì cái này có, cái kia có. Vì cái
này sinh, cái kia sinh. Vì cái này không, cái kia không. Vì cái này diệt, cái kia diệt.”
[51, tr.291]. Bốn câu trên cho thấy sự liên hệ, nối kết với nhau trong sự hiện hữu
liên tục của mọi sự vật. Cái này, cái kia tạo thành một chỉnh thể không thể chia cắt
10


được, sự tồn tại hay không tồn tại của một sự vật được quyết định bởi điều kiện.
Căn cứ vào những nguyên tắc này mà thuyết Duyên khởi được thành lập. Quan
niệm về Duyên khởi của Đức phật cho rằng toàn thế giới là một chỉnh thể thống


Duyên khởi quan hệ mật thiết giữa con người với xã hội, con người với văn
hóa truyền thống. Không được xem con người đứng độc lập với xã hội, văn hóa và
truyền thống. Nhưng ngược lại, cũng không được đặt nặng xã hội, văn hóa, truyền
thống trước con người và hạnh phúc con người. Như vậy, xuất phát từ tư tưởng
Duyên khởi cho rằng con người và giới tự nhiên có sự tương nhập lẫn nhau. Con
người nương giới tự nhiên để sinh tồn, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con
người. Bởi vì, đúng như C.Mác đã viết: “Bản chất con người của tự nhiên chỉ tồn tại
đối với xã hội; vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với con người mới là một cái
khâu liên hệ con người với con người; ... chỉ có trong xã hội, tự nhiên mới biểu hiện
ra là cơ sở của sự tồn tại có tính chất người của bản thân con người. Chỉ có trong xã
hội, tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có tính chất người của con người
đối với con người và tự nhiên mới trở thành con người đối với con người”. [25;
tr.170]
Xét trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên là mối quan hệ cộng
sinh, cùng sinh tồn và phát triển. Điều quan trọng bậc nhất trong Duyên khởi là nói
lên sự tồn tại trong mối liên hệ phụ thuộc giữa con người với xã hội và tự nhiên.
Sinh thái là một điều kiện nhất định, là nguyên nhân cùng nương tựa vào con người,
con người và sinh thái tác động lẫn nhau. Cá nhân, nhân loại, xã hội đều không thể
tồn tại độc lập mà tồn tại trong mối quan hệ tương quan chặt chẽ với thiên nhiên.
Thiên nhiên như là dung môi xúc tác cho mọi phản ứng, hay là môi trường cho hoạt
động sống của con người được duy trì và phát triển. Làm tổn hại môi trường sinh
thái là tự làm tổn hại chính cuộc sống của bản thân nhân loại. Phá hoại môi trường
thiên nhiên là phá hoại sự tồn tại của bản thân nhân loại. Trong thuyết Duyên khởi
có ý nói rằng: “Một hiện hữu trong tất cả và tất cả hiện hữu trong một”, điều này có
nghĩa là sự ô nhiễm hay mất cân bằng, xáo trộn nơi này chính là sự ô nhiễm hay mất
cân bằng, xáo trộn ở các nơi khác trên thế giới. Từ những luận điểm này đã đặt ra
những câu hỏi cho chính cuộc sống con người: Làm sao ngăn ngừa sự phá hoại môi
trường sinh thái do con người gây ra, làm sao duy trì, bảo vệ sự cân bằng sinh thái
bình thường, làm sao tạo ra những điều kiện tương sinh, tương quan, nhân tố có lợi

nhìn dưới ánh sáng của Duyên khởi. Theo Phật giáo, con người hiện tại là kết quả
của nguyên nhân quá khứ. Trong thế giới tương quan của hiện tượng, mỗi hiện hữu
đều có nguyên nhân của nó. Nguyên nhân của sự có mặt của các hiện hữu gọi là
nhân, hiện hữu gọi là quả. Ví dụ như là mưa là quả, mây là nguyên nhân, hay hạt
thóc là quả cây lúa là nguyên nhân. Tương quan nhân quả của các hiện hữu là một
13


vòng tròn tương quan xoắn ốc. Mỗi hiện tượng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả
của cái kia. Trong một vòng tròn nhân quả còn có yếu tố duyên ảnh hưởng. Duyên
trong quá trình này tác động đến sự hình thành chất lượng và tiến độ của quả, quả
có thể hình thành sớm hay muộn, và cũng có thể không hình thành. Thời gian từ
nhân đến quả khác nhau ở các loại nhân khác nhau và ở những người tạo nghiệp
khác nhau.
Đây là một trong những lý thuyết căn bản của triết học Phật giáo về nhân sinh
quan. Nhân duyên đó không phải là sự ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của
những tác động từ luật nhân quả (còn gọi là Nghiệp). Nghiệp của mỗi người gặp
phải trong đời có thể là “nghiệp xấu” (cuộc đời gặp nhiều bất trắc, kém an toàn)
hoặc “nghiệp tốt” (cuộc sống gặp nhiều thuận lợi, hanh thông). Con người tạo
ra “nghiệp” của chính mình trong quá trình sống và tích đức của chính bản thân.
Nhưng những tác động của nghiệp (báo hoặc quả báo) đến cuộc đời thực của mỗi
người lại khá phức tạp, có khi trực tiếp có khi lại gián tiếp. Chẳng hạn như đời này
tạo ra nghiệp nhưng rất có thể nghiệp đó lại thể hiện ra kết quả và tác động đến con
cháu đời sau. Nói một cách đơn giản, “nhân quả báo ứng” chính là làm thiện được
quả báo thiện, còn làm các điều ác bị quả báo ác. Luật nhân quả chính là
phương thức, qui tắc cùng định luật cố định của nhân quả báo ứng, nó ứng nghiệm
cho bất kỳ ai không kể thân sơ, sang giàu hay hèn kém. Nhân quả là một quá trình
tạo tác và thọ lãnh.
Nhân quả là chiều thời gian chuyển biến liên tục trong tự thân của vật thể và
trong hoạt động tâm lí. Vũ trụ nhân sinh luôn chuyển biến vận hành trong mọi thời

nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng hàng
thập kỷ, hay hàng trăm năm. Trong những năm gần đây, sự thay đổi khí hậu đã và
đang diễn ra hết sức gay gắt với hiện tượng nóng lên của trái đất và trở thành một
vấn đề của toàn cầu. Chưa bao giờ loài người lại đứng trước rất nhiều khó khăn, thử
thách đặc biệt là những khó khăn và thử thách từ sự thay đổi dẫn đến khủng hoảng
môi trường và những tác động tiêu cực của nó đến cuộc sống của chính con người.
Tất cả đang đe dọa nghiêm trọng tới sức khỏe và sự an toàn của cả nhân loại. Nhân
loại phải sớm thay đổi tư duy, thay đổi lối sống của mình nếu không sẽ khó tránh
khỏi khổ nạn. Bắt đầu thay đổi từ trong nhận thức đến những hành động đơn giản
nhất. Phải có ý thức bảo vệ sinh thái, tôn trọng không gian sinh tồn của các giống
loài khác, trái đất của chúng ta mới hy vọng có thể tồn tại dài lâu.
Đạo Phật với sự hình thành và phát triển hàng nghìn năm. Là một tôn giáo lớn,
gần gũi, gắn bó mặt thiết với đời sống văn hóa Việt Nam, Phật giáo dễ dàng đi sâu
15


và thay đổi tâm đức của con người bằng các đạo lý chân thực nhất. Đạo đức là một
vấn đề được quan tâm và gắn bó mật thiết với đạo Phật, trong từng giáo lý, bộ kinh.
Và từ các cơ sở lý luận triết học như đã phân tích trên, Phật giáo là một trong số ít
các tôn giáo trên thế giới ngay từ khi mới xuất hiện đã đặc biệt quan tâm đến các
vấn đề về đạo đức sinh thái. Đạo đức sinh thái Phật giáo là hệ thống các quan
niệm và nhận thức được hình thành trên cơ sở giác ngộ về những chân lý của Phật
giáo về các thuyết duyên khởi, nhân quả và sự tồn tại bình đẳng để từ đó định ra các
nguyên tắc ứng xử, các chuẩn mực về hành vi trong lối sống hài hòa, cân bằng giữa
con người với con người và giữa con người với tự nhiên. Như một triết lý nhân
sinh, đạo Phật phổ độ chúng sinh, xây dựng lối sống tinh khiết, hài hòa. Đề cập tới
đạo đức sinh thái Phật giáo làm rõ một số vấn đề cơ bản sau đây để tìm kiếm câu trả
lời và cách thức khắc phục cho những vấn nạn con người đương đại phải đương đầu
hiện nay.
1.2.1. Thực hiện lối sống thân thiện với môi trường và đề cao chuẩn mực

vật là vô cùng to lớn và cực kỳ quan trọng đối với cuộc sống của nhân loại. Nhưng
ít người thấu hiểu được điều ấy. Không mấy ai ý thức được việc phá hoại sinh thái
có thể mang lại hậu quả nghiêm trọng như thế nào đối với nhân loại. Thực vật thể
hiện một sự cống hiến vĩ đại cho nhân loại. Khai sáng dưới góc nhìn của Phật giáo
thì thực vật đã thể hiện một loại Phật tính vô cùng quý báu mà nhân loại phải hết
sức trân trọng. Ngoài ra, đạo Phật đã phát hiện ra Phật tính linh động của thực vật,
từ sâu trong nhiều tư thái của chúng. Từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về sự bình đẳng
và bằng những thuyết giải của mình hướng con người đến lối sống thiện, tôn trọng
tự nhiên, hài hòa với thiên nhiên. Vạn vật đều bình đẳng dưới góc nhìn của Phật
giáo. Cho đến nay, điều này dần bộc lộ rõ tính khoa học, không siêu việt.
Để chứng minh điều đó thì đã có rất nhiều nhà khoa học đã làm rõ được sự
chuyển động, sự ý thức của thực vật như nhà sinh vật học người Áo trong đầu thế kỉ
20 là Raoul France cũng nói: Thực vật có thể di động thân thể một cách tự do, nhẹ
nhàng, thanh nhã, sự tinh tế thành thục của chúng không thua động vật và con
người. Bằng sự hiển bày của Phật tính: từ bi, thanh bình, tự tại, bình đẳng sẽ phát
khởi tâm con người. Thực hiện một lối sống thân thiện và gần gũi hơn với thiên
nhiên.
Hãy tưởng tượng rằng một ngày thế giới của chúng ta không có sự tồn tại
của động vật như trùng cá, chim muông… Cuộc sống sẽ trở nên đơn sắc, nhân loại
sẽ không thể đơn độc kéo dài cuộc sống của họ. Bởi chính sự tồn tại của những sinh
thể trên thế giới này theo Phật giáo là một mắc xích gắn kết với nhau, có vị trí và
17


giá trị ngang nhau để góp phần cân bằng một cuộc sống tươi đẹp. Không thể khẳng
định tuyệt đối rằng, con người là bậc vĩ đại nhất có thể vượt qua tất cả các loại động
vật khác bởi chính trí tuệ của họ. Đó là một sự khập khiển trong sự so sánh, thực thế
chứng minh rằng: thính giác của con người không bằng con dơi, khứu giác không
bằng con chó, thính giác chẳng hơn được loài cá heo… Sẽ là một thách thức gay go
nếu chúng ta phân cao thấp với các giống loài khác trên trái đất.

ý thức, có biểu hiện của “vật hoạt luận” trong triết học. Nhưng các lý giải của Phật
giáo trong vấn đề này là sâu sắc, có hợp lý và rất đáng trân trọng.
Nâng cao đạo đức hiếu sinh, không sát sinh. Đức Phật đã nhìn thấu được ở
động vật gẫn gũi với con người bằng sự kết nạp, bầu bạn và tình yêu vô điều kiện
để thấm nhuần tâm con người. Vạn vật đều bình đẳng, cùng bản thể, cùng sinh,
cùng bao dung nhau là thái độ sinh tồn và tôn trọng đối với sự sống mà nhân loại
cần có. Phật giáo đề xuất mọi hoạt động và cách sống của nhân loại nên bắt đầu từ
“tâm từ bi”, với quan điểm yêu thương chúng sinh, bảo vệ chúng sinh. Cấm sát
sinh, bảo vệ sự sống chính là tôn trọng tất cả sinh mệnh hiện hữu trên thế giới này.
Giới luật Phật giáo cũng đã được đề ra để bảo vệ động vật. Với quan điểm của Phật
giáo tất cả chúng sinh đều bình đẳng. Thay đổi sự “tùy tiện” bắt giết các loài động
vật một cách tàn nhẫn bằng việc quan tâm chăm sóc và hành xử có nguyên tắc nhân
đạo của con người đối với các loài động vật, để động vật có một cuộc sống mà
chúng đáng có.
Con người hãy thoát khỏi khỏi sự đắm chìm trong ngũ dục, nhận thức đời
sống chỉ là vô thường, là sự bất bách trong cuộc sống sinh tử. Thay đổi cách nhìn,
cách đối xử với động vật như một cách chịu trận, mà thay vào đó là một sự trân quý
cho sự tồn tại của nó trong cuộc sống này. Trong quy luật sinh tồn đơn thuần của
các loài động vật, chúng dùng hết năng lực, tình cảm, đạo nghĩa, trí tuệ… của mình
để mở ra một sức sống mới, mở ra Phật tâm tự tại sáng trong, là hạt giống ấm áp,
sinh động, thơm nồng trong nhân gian. Đó cũng là một sự lương sư giáo dục (hướng
giáo dục con người đạt được phẩm chất đạo đức và có tài trí) đối với con người.
Đức Phật thuyết minh sự hình thành của vũ trụ là do nghiệp lực duyên khởi,
tâm thức biến hiện, sông núi đất đai đều là sinh mệnh tự nhiên do Pháp thân hiện ra.
Vạn vật của giới tự nhiên đều do một hoặc nhiều loại vật chất tạo thành. Là một sự
phối hợp điều kiện quan hệ hỗ tương, vừa mang lại sự hỗ trợ cho nhau vừa ảnh
hưởng xấu đến sự tồn tại và phát triển của sự vật khác. Nhận thức được vạn vật tồn
tại là một vòng tròn mắc xích. Vạn vật cùng làm duyên khởi cho nhau để tạo thành

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status