Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn lịch sử lớp 4 - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD & ĐT NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ Ở LỚP 4B
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA THIỆN

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nga Thiện
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Lịch sử và Địa lí

THANH HÓA, NĂM 2019


MỤC LỤC

1. Mở đầu

Trang 1

1.1.

Lí do chọn đề tài

1


Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN

4

2.3.

Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

5

2.4.

Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

16

3. Kết luận, kiến nghị

18

3.1.

Kết luận

18

3.2.

Kiến nghị

đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đòi hỏi những điều kiện thích hợp về
phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý.
Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giáo viên với kinh
nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến
phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân. [1]
Thế nhưng, một thực trạng dau lòng trong nhiều năm vừa qua là chất lượng
dạy học luôn thành vấn đề nóng của dư luận, được nhiều báo đài phản ánh trung
thực. Đó là tình trạng hầu hết lớp trẻ không nắm được lịch sử dân tộc, nhiều bài
thi ở các cấp học, đặc biệt bài thi tốt nghiệp lớp 12 chỉ được điểm 0, điểm 1..
Tình trạng này thật đáng báo động khi 9 năm học lịch sử ( từ lớp 4 đến lớp 12)
mà các em không nắm được gì, hỏi đến nhân vật lịch sử hay sự kiện nào cũng
không biết…
Bởi vậy, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học luôn là một trong những
vấn đề quan trọng của tất cả các giáo viên đứng lớp trong đó có giáo viên dạy
môn lịch sử. Dạy như thế nào, học như thế nào để đạt được hiệu quả học tập tốt
nhất là điều mong muốn của tất cả thầy cô giáo chúng ta. Muốn thế phải đổi mới
phương pháp, biện pháp dạy và học. Người giáo viên phải tổ chức một cách linh
hoạt các hoạt động của học sinh từ khâu đầu tiên đến khâu kết thúc giờ học, từ
cách ổn định lớp, ôn bài cũ đến cách học bài mới, củng cố, dặn dò. Những hoạt
động đó giúp học sinh tái hiện các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử nhằm
lĩnh hội kiến thức, bản chất lịch sử một cách tự giác, chủ động, tích cực, sáng tạo
và ngày càng yêu thích, say mê môn học.
1


Vậy làm thế nào để phát huy năng lực tái hiện các sự kiện, hiện tượng, nhân
vật, lịch sử của học sinh trong dạy- học lịch sử? Để quá trình hoạt động chung,
thống nhất giữa thầy và trò nhịp nhàng sẽ làm cho học sinh nắm vững hơn những
tri thức lịch sử, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức,
hình thành nhân cách cho các em là vấn đề được nhiều giáo viên dạy môn Lịch


2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận
Dạy học theo tiếp cận trang bị kiến thức là chú trọng vào việc truyền thụ tri
thức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình dạy học,
chú trọng trang bị cho học sinh hệ thống tri thức khoa học khách quan. Cách dạy
này chưa chú trọng vai trò chủ thể của người học và khả năng ứng dụng tri thức
đã học vào tình huống thực tiễn. Mục tiêu dạy học theo tiếp cận trang bị kiến
thức đôi khi không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá một cách
cụ thể. Việc quản lí chất lượng giáo dục theo cách này chủ yếu tập trung vào nội
dung dạy học. Ưu điểm của dạy học tiếp cận trang bị kiến thức là cho học sinh
một hệ thống tri thức khoa học.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển toàn
diện phẩm chất người học, chú trọng năng lực vận dụng tri thức vào những tình
huống thực tiễn. Trong chương trình dạy học phát triển năng lực, mục tiêu học
tập thường được mô tả qua các thuộc tính nhân cách chung và các kết quả yêu
cầu cụ thể, hay qua hệ thống các năng lực. Kết quả học tập mong muốn được mô
tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được. Dựa vào kết quả mong muốn ấy,
chương trình đưa ra những hướng dẫn về việc lựa chọn nội dung, phương pháp,
tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy
học. Cách tiếp cận này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách là chủ thể
của quá trình nhận thức. Việc quản lí chất lượng giáo dục theo định hướng phát
triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, là những năng lực mà
người học cần có sau quá trình học tập. Ưu điểm của dạy học phát triển năng lực
là tạo điều kiện quản lí chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh
năng lực vận dụng của học sinh [1]
Nghiên cứu dạy học theo định hướng phát triển năng lực tôi thấy cần chú ý
hơn một số nguyên tắc sau:
- Chương trình lấy việc học làm gốc, lấy người học làm chủ thể của quá
trình dạy học. Để thực hiện được việc rèn luyện năng lực, chương trình được đặt

hàm ý trong thời gian học tập tại trường, học sinh phải được rèn luyện, kiến tạo
những năng lực cho phép họ từ kiến tạo những kiến thức, kĩ năng mới để thích
nghi với môi trường sống luôn thay đổi sau này. Đây chính là lý do để xác định là
các năng lực xuyên suốt chương trình đào tạo với tư cách là công cụ để học tập
suốt đời.
- Dạy học tích hợp: Thế giới hiện đại có đặc trưng là sự phụ thuộc lẫn
nhau ngày càng tăng trong tất cả các lĩnh vực khoa học và đời sống. Do vậy, mức
độ năng lực cần thiết để thích ứng với thực tế đó cũng ngày càng tăng.Và dĩ
nhiên là những kiến thức đơn giản đơn lẻ được truyền đạt từ giáo viên không còn
phù hợp nữa. Phải học tích hợp, học phương pháp luận, học cách kiến tạo kiến
thức để rèn luyện khả năng kết hợp các nguồn kiến thức khác nhau, học sinh mới
có khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp trong cuộc sống lao động sau này.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng chung hiện nay ta thấy một bộ phận không nhỏ lớp trẻ Việt
Nam rất mơ hồ về lịch sử nước nhà trong khi lịch sử Trung Quốc lại khá rõ. Điều
đó đã làm đau đầu bao nhà nghiên cứu, làm trăn trở bao nhà giáo dục và làm cả
xã hội phải lo lắng cho lớp chủ nhân tương lai của đất nước lớn lên mà không
biết đến truyền thống, nguồn gốc dân tộc mình.
Việc dạy Lịch sử của giáo viên còn chưa đầu tư, thời lượng lại quá ít mà
đôi khi còn bị bớt xén để học các môn Toán, Tiếng Việt vì các kiến thức, kĩ năng
các môn đó các em còn yếu. Trong tiết dạy giáo viên không có đủ bản đồ, lược
đồ, tranh ảnh, không có máy chiếu và các phương tiên hỗ trợ … nên đa số chỉ
“dạy chay”. Mặc dù đa số giáo viên hiện nay đều tâm huyết và có trách nhiệm
cao đối với nghề dạy học nhưng khả năng của mỗi người là có hạn và không
giống nhau. Một số giáo viên chưa có điều kiện để nắm vững tiến trình lịch sử
nước nhà cũng như chương trình Lịch sử 4, 5; chưa có đủ sách vở, đồ dùng, tài
liệu và thời gian nghiên cứu, năng lực giảng dạy còn hạn chế, dạy học chưa tập
trung phát triển năng lực học sinh nên chưa khơi dậy được hứng thú và nhu cầu
học tập cho các em…
Việc học Lịch sử của học sinh cũng từ đó mà ảnh hưởng rất nhiều. Chương


(Sĩ số 27) Lớp 4B
TL (%)
SL
55,6
14
45,4
13

(Sĩ số 27)
TL (%)
51,9
48,1

14

51,9

13

48,1

12

45,4

11

40,8


Để dạy đúng, đủ kiến thức Lịch sử 4, trước hết người giáo viên cần nắm
được mục tiêu của chương trình, nội dung chương trình sách giáo khoa và phải
nắm được tiến trình lịch sử Việt Nam.
Nội dung chương trình sách giáo khoa Lịch sử 4 bao gồm những sự kiện,
nhân vật lịch sử tiêu biểu phản ánh những cột mốc đánh dấu sự phát triển của các
giai đoạn lịch sử, những thành tựu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước (kinh
tế, văn hoá, chính trị…) của ông cha ta từ buổi đầu dựng nước và giữ nước đến
buổi đầu thời Nguyễn [2]. Vì vậy, người giáo viên muốn dạy hay, dạy giỏi thì còn
cần nắm vững chi tiết tiến trình lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước và giữ
nước cho tới ngày nay cũng như nắm vững lịch sử nhân loại. Có nắm vững các
kiến thức lịch sử thì người giáo viên mới có cái nhìn tổng thể, toàn diện về lịch
sử, hiểu được các chặng đường thăng trầm, biến động của đất nước, của thế giới
qua các thời kì… và có thể lí giải chính xác nhất những băn khoăn, thắc mắc của
học sinh.
Một điểm quan trọng nữa là người giáo viên phải không ngừng bồi dưỡng
chuyên môn nhiệp vụ, tiếp cận, học hỏi, đổi mới các phương pháp dạy học nhằm
mục đích tập trung phát triển năng lực người học, đó là cái đích mà mỗi giáo viên
cần xác định hướng tới.
Để thực hiện tốt các nội dung trên, người giáo viên phải có quá trình học
hỏi, tích luỹ lâu dài qua các cấp học, ngành học đã được tham gia, qua các buổi
học chuyên đề, luôn luôn tự học tự nghiên cứu, ôn tập bằng nhiều hình thức (tự
học, qua sách vở, đài, báo, ti vi, phim ảnh, qua mạng Internet, qua học hỏi cấp
trên, đồng nghiệp…)
2.3.2.Lựa chọn những phương pháp dạy học đặc trưng riêng cho mỗi dạng bài
của chương trình Lịch sử 4phải theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Trong chương trình Lịch sử 4, qua nghiên cứu tôi thấy để dạy học phát
triển năng lực học sinh có thể phân chia các dạng bài học theo một số dạng cơ
bản sau:
a. Các bài có nội dung về nhân vật lịch sử.
* Mục tiêu: Giúp học sinh

tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh về lòng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng
đối với nhân vật lịch sử một cách tự nhiên, có hiệu quả nhất. Thông thường, đối
với dạng bài này phương pháp chủ đạo là kể chuyện, miêu tả, tường thuật kết hợp
với hỏi đáp để khắc sâu hình ảnh nhân vật trong tâm trí học sinh [3].
 Ví dụ: Khi dạy bài “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo (938)”:
Hoạt động 1: Vài nét về tiểu sử của Ngô Quyền.
- Sau khi kết thúc bài học trước, tôi yêu cầu học sinh về nhà tìm hiểu trước
bài mới, tìm hiểu trước vài nét tiểu sử Ngô Quyền. Khi vào bài, học sinh sẽ thi
nhau nêu hiểu biết của mình về Ngô Quyền và tình hình nước ta lúc bấy giờ. Nếu
trường hợp học sinh không kể được, tôi sẽ dẫn dắt, gợi mở cho các em bằng các
câu hỏi gợi ý cụ thể hơn....
Hoạt động 2: Diễn biến trận Bạch Đằng
- Học sinh dựa vào sách giáo khoa và những hiểu biết của bản thân để trình
bày trong nhóm 4 về diễn biến trận đánh.
- Trình bày trước lớp: GV trình chiếu lược đồ trận đánh, học sinh các nhóm
thi nhau trình bày, các nhóm khác theo dõi, nhận xét
- Giáo viên nhận xét, tổng kết và nhấn mạnh kết quả trận đánh.
Hoạt động 3: Công lao của vua Ngô Quyền và ý nghĩa trận Bạch Đằng.
Tôi thường tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm đôi để thấy được những
đóng góp của Ngô Quyền đối với lịch sử dân tộc, đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa tạo
nên bước ngoặt lịch sử của chiến thắng Bạch Đằng.
b. Các bài có nội dung về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, tình hình kinh tế chính trị, văn hóa - xã hội.
*. Mục tiêu: Học xong loại bài này, học sinh biết và hiểu:
- Hoàn cảnh ra đời, địa phận; thời gian ra đời và tồn tại của nhà nước; tên
vua, tên nước, nơi đóng đô,…
- Hiểu một cách đơn giản về tổ chức bộ máy nhà nước.
- Biết được những nét chính về đời sống kinh tế, vật chất; văn hóa tinh thần
của con người trong xã hội.
7


dịch, phản công,…
* Mục tiêu:
Giúphọc sinh biết và hiểu:
- Thời gian, địa diểm diễn ra các cuộc khởi nghĩa, chiến thắng, …
- Những nét chính về diễn biến và ý nghĩa của các thắng lợi đó.
Học sinh có khả năng: Tường thuật, miêu tả những nét chính của cuộc khởi
nghĩa hay chiến dịch đã học.
Học sinh có thái độ: biết ơn những người đã làm nên những sự kiện vĩ đại
của lịch sử dân tộc và có ý thức bảo vệ những thành quả của cách mạng.
*. Nội dung:
Bao gồm các bài sau: Khởi nghĩa Hai Bà Trưng; Chiến thắng Bạch Đằng
do Ngô Quyền lãnh đạo (938); Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược.
(lần 1, lần 2); Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên; Chiến
thắng Chi Lăng; Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long; …[2]
*. Lựa chọn phương pháp dạy học:
8


Tôi thấy dạng bài này chiếm một tỉ lệ khá cao trong chương trình, do đó
cần cho học sinh biết, hiểu và nắm vững những nội dung sau:
- Nguyên nhân, hoàn cảnh dẫn đến cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, …
- Khái quát diễn biến cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch,…
- Ý nghĩa cuộc khởi nghĩa
Để học sinh hiểu sâu hơn những nội dung trên, giáo viên nhất thiết nên sử
dụng bản đồ, lược đồ, tranh ảnh,… dẫn dắt học sinh xác định và mô tả được vị
trí, khu vực, địa bàn diễn ra cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch,…, từ đó
học sinh sẽ trình bày diễn biến của các sự kiện trên hệ thống kênh hình.
Ví dụ: Bài: Chiến thắng Bạch Đằng: Khi dạy bài này, giáo viên cần dẫn dắt cho
học sinh tường thuật hay mô tả dựa vào kênh hình để học sinh thấy được vị trí
chiến lược của cửa sông Bạch Đằng, diễn biến, kết quả trận đánh có tính bước

đổi những câu hỏi mà giáo viên đặt ra, thực hiện các công việc như: vẽ sơ đồ, lập
bảng niên biểu, thống kê, tìm các dẫn chứng… Đây là yếu tố quan trọng để phát
triển tư duy, rèn luyện kĩ năng thực hành. [3]
Thông thường, với dạng bài ôn tập, tổng kết phải vận dụng tổng hợp nhiều
phương pháp. Tuy nhiên cũng tùy từng phần, từng nội dung cụ thể trong từng bài
mà giáo viên lựa chọn phương pháp hay hình thức dạy học phù hợp. Riêng tôi lại
thấy trò chơi là một phương pháp rất thích hợp với dạng bài này vì nó có thể tổng
hợp kiến thức từ nhiều bài học khác nhau, đồng thời cũng tạo ra không khí sôi
nổi, hấp dẫn cho học sinh trong quá trình học tập. Qua những hoạt động “học mà
chơi, chơi mà học”, các em sẽ ghi nhớ một cách tự giác những kiến thức lịch sử
đã học.
e.Các bài có nội dung về thành tựu văn hóa - khoa học.
*. Mục tiêu:
- Học sinh biết và hiểu một số thành tựu trong lĩnh vực văn hóa, khoa học
điển hình của dân tộc qua các thời kì lịch sử.
- Học sinh có khả năng kể, mô tả những nét khái quát nhất về các thành tựu
đó; Có ý thức trân trọng, giữ gìn, bảo vệ những thành tựu văn hóa, khoa học dân
tộc.
*. Nội dung:
Bao gồm các bài sau: Chùa thời Lý; Nhà Trần và việc đắp đê; Trường học
thời Hậu Lê; Văn hóa, khoa học thời Hậu Lê; Kinh thành Huế[2].
*. Lựa chọn phương pháp dạy học đặc trưng.
- Phải mô tả được những đặc điểm nổi bật của công trình kiến trúc (Quá
trình xây dựng, quy mô, cấu trúc, kiểu dáng, nét điêu khắc, chạm trổ,…)
- Mô tả cách giáo dục, thi cử hay nội dung thi cử của mỗi thời kì.
- Nêu được các thành tựu cơ bản về văn hóa, khoa học trong thời kì ấy.
Trên cơ sở đó, giáo dục ý thức, trách nhiệm bảo vệ các công trình nghệ thuật
kiến trúc, văn hóa, khoa học cho học sinh[3].
Ở loại bài này, thường có nhiều tranh ảnh về các công trình kiến trúc, các
thành tựu về văn hóa… Vì vậy, tôi thường hướng dẫn học sinh đi từ quan sát đến

nói, chỉ có miêu tả, tường thuật, kể chuyện mới tái hiện được những biến cố lịch
sử quan trọng, đem đến cho học sinh những hứng thú mạnh mẽ. Do sách giáo
khoa viết rất cô đọng, trừu tượng nên tôi đã sử dụng nhiều tư liệu, kết hợp với đồ
dùng trực quan (tranh ảnh, bản đồ) để miêu tả, tường thuật. Các phương tiện trực
quan sẽ tạo ra hình ảnh lịch sử cụ thể, sinh động, chính xác hơn, giúp học sinh
thuận lợi hơn trong việc tạo biểu tượng lịch sử.
Tuy nhiên, các phương tiện trực quan phục vụ việc dạy học lịch sử còn rất
hạn chế. Các bản đồ, lược đồ, tranh ảnh ở sách giáo khoa còn ít, màu sắc còn đơn
điệu, thiếu đồng bộ. Trước những khó khăn đó, việc dạy học theo hướng ứng
dụng công nghệ thông tin là một giải pháp tích cực kịp thời để giải quyết những
khó khăn nêu trên. Nhận thấy điều đó, tôi thường soạn bài giảng Lịch sử trên
phần mềm PowerPoint. Qua các năm, trao đổi giáo án giữa giáo viên trong khối,
tham khảo các tư liệu trên Internet nên các bài giảng soạn bằng phần mềm
PowerPoint tăng cả về số lượng và chất lượng. Khi giảng dạy, hiệu quả tiết dạy
thấy rõ ràng. Học sinh hăng hái, sôi nổi, tích cực hoạt động. Được tiếp xúc với
tranh ảnh lịch sử sinh động, các em chủ động tiếp thu và nắm vững kiến thức
hơn.
Ví dụ:
Khi dạy bài “Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất”,
tôi thiết kế bài giảng và trình chiếu trên màn hình đã thu hút sự chú ý và nâng cao
11


hiệu quả tiết học rất rõ rệt. học sinh học tập rất hứng thú, sôi nổi và tích cực.
Dưới đây là một số hình ảnh minh họa:

Di tích lịch sử quốc gia: Ải Chi Lăng ( Lạng Sơn)

Mô hình trận chiến trên sông Bạch Đằng do Lê Hoàn lãnh đạo
2.3.4. Liên hệ lịch sử dân tộc với lịch sử địa phương

người giáo viên phải luôn luôn nắm vững và tuân theo quy luật này thì mới có
hiệu quả cao cho nhận thức của học sinh. Trước các sự kiện, hiện tượng lịch sử
mới, giáo viên nên vào đề bằng những câu chuyện lịch sử, dẫn chứng lịch sử,
bằng tranh, ảnh hay sơ đồ, lược đồ…có liên quan để gây hứng thú và khơi dậy
nhu cầu tìm hiểu, khám phá ở trẻ. Khi trẻ đã nắm rõ vấn đề đặt ra, giáo viên cần
cho các em kiểm chứng vấn đề đó bằng thực tiễn (hoặc bằng các câu chuyện,
tranh ảnh, mô hình, hiện vật…có liên quan ). Để có được những tài liệu phục vụ
cho “ trực quan sinh động” ấy, giáo viên có thể sưu tầm từ nhiều nguồn như sách,
báo, đài, vô tuyến đặc biệt là trên mạng Internet. Khi sử dụng những tài liệu trên
làm trực quan tôi thấy trình bày dưới dạng trình chiếu trên màn hình mang lại
hiệu quả nhất, gây hứng thú học tập cho các em nhất.
Ví dụ khi dạy bài “Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên”, trước khi vào bài tôi cho các em quan sát bức tranh vẽ cảnh các bô lão
trong Hội nghị Diên Hồng kết hợp kể câu chuyện “Hội nghị Diên Hồng”. Sau khi
quan sát tranh, lại được nghe kể chuyện các em rất thích, đua nhau tìm hiểu về
nguyên nhân, diễn biễn, kết quả, ý nghĩa của cuộc kháng chiến và nhanh chóng
rút ra nội dung bài học. Cuối tiết học, tôi tổ chức cho các em thi kể các câu
chuyện về các tấm gương yêu nước trong cuộc kháng chiến đó như Trần Thủ Độ,
Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản,… để củng cố và kiểm chứng nội dung bài,
khuyến khích phát triển tinh thần ham học hỏi, tìm tòi, khám phá và tự học, giúp
học sinh quen dần với cách học mới.
2.3.6.Thường xuyên thiết kế trò chơi học tập góp phần đổi mới phương pháp
dạy học và gây hứng thú cho học sinh
Vì học sinh Tiểu học có nhu cầu được vui chơi rất lớn nên nếu ta tổ chức
hoạt động học gắn với hoạt động vui chơi sẽ tránh gây áp lực và tạo ra được
không khí vui tươi, thoải mái và gây nhiều hứng thú cho các em. Bởi vậy giáo
viên cần tích cực thiết kế các trò chơi lồng vào các hoạt động học. Khi thiết kế trò
chơi học tập trong dạy học lịch sử, giáo viên cần chú ý xác định rõ mục đích của
trò chơi là nhằm giúp gì cho hoạt động học, cần chuẩn bị những gì, cách tiến
hành ra sao và sau trò chơi rút ra được nội dung, kết luận gì?
Khi dạy Lịch sử 4, tôi thường xuyên thiết kế một số trò chơi như “Chọn

tìm ra từ hàng dọc thì xin trả lời (nếu đúng được 30 điểm, nếu sai thì mất lượt
chơi). Trò chơi kết thúc khi có đội tìm ra từ hàng dọc (giáo viên hỏi học sinh về ý
nghĩa từ hàng dọc), đội nào nhiều điểm hơn là đội thắng cuộc. Cuối cùng giáo
viên tuyên dương đội thắng cuộc, chốt kiến thức bài học.
Dưới đây là đáp án ô chữ

Còn đây là trò chơi “Mặt xanh, mặt đỏ”:
15


* Mục đích: Giúp học sinh ôn tập, củng cố kiến thức đã học, phát huy sự
nhanh nhẹn, rèn luyện trí thông minh, tạo không khí vui tươi thoải mái, kích thích
khả năng tư duy, tổng hợp; giúp giáo viên củng cố bài nhanh, hiệu quả.
* Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị cho mỗi học sinh một tấm thẻ (có cán, một
mặt màu xanh, một mặt màu đỏ), hệ thống các ý kiến cả đúng cả sai.
Ví dụ: Với bài “Chùa thời Lý”, để củng cố về vai trò, tác dụng của chùa
thời Lý, giáo viên chuẩn bị các ý kiến như sau:
1. Chùa là nơi tu hành của các nhà sư.
2. Chùa chỉ được xây dựng ở kinh thành, do và nhân dân cùng xây dựng.
3. Chùa là nơi tế lễ của đạo Phật.
4. Chùa là trung tâm văn hoá của làng xã.
5. Chùa là nơi tổ chức các hoạt động văn nghệ, vui chơi.
6. Một số chùa nổi tiếng thời Lý là: chùa Một Cột, chùa Keo, chùa Đồng.
* Cách thực hiện trò chơi:
- Cuối tiết học, giáo viên chia lớp thành 3 đội chơi (mỗi dãy bàn là một
đội), nêu tên trò chơi, cách chơi, luật chơi, phát thẻ cho từng em, yêu cầu học
sinh vận dụng kiến thức bài học và vốn hiểu biết của bản thân để xác định ý kiến
giáo viên đưa ra là đúng hay sai. Nếu ý kiến đúng thì giơ thẻ mặt đỏ hướng lên
bảng và ngược lại.
- Giáo viên lần lượt nêu các ý kiến. Sau mỗi ý kiến giáo viên tổng kết số


Nội dung

SL

TL (%)

SL

TL (%)

Không có hứng thú với môn học

3

11,1

0

0

Có hứng thú, yêu thích môn học
Chưa nắm được các mốc lịch sử,
nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử
Nắm được các mốc lịch sử, nhân
vật lịch sử và sự kiện lịch sử
Nắm vững các mốc lịch sử, nhân
vật lịch sử và sự kiện lịch sử

24


Qua một thời gian tìm tòi nghiên cứu và áp dụng các biện pháp dạy học
thích hợp, bản thân tôi đã học hỏi được rất nhiều điều bổ ích, nắm vững hơn và
sâu hơn về Lịch sử Việt Nam, các cơ sở lí luận, áp dụng tốt hơn các giải pháp phù
hợp vào thực tiễn để góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Bên cạnh đó, tôi đã
học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý giá từ cấp trên, đồng nghiệp để nghiên cứu
khoa học, viết Sáng kiến kinh nghiệm ngày càng chất lượng hơn, hiệu quả hơn và
thiết thực hơn…
Đối với các đồng nghiệp trong trường, đặc biệt là trong Tổ chuyên môn
khối 4, 5 chúng tôi thường xuyên trao đổi, học hỏi và chia sẻ học hỏi kinh
nghiệm lẫn nhau. Qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, các tiết thao giảng, dự giờ,
những giải pháp mà tôi áp dụng đã mang lại hiệu quả cao cũng đã giúp các giáo
viên trong tổ học tập, vận dụng vào điều kiện cụ thể của lớp mình và cũng đã
mang lại hiệu quả rõ rệt.
Kết quả trên đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học,
bước đầu khẳng định những giải pháp mà tôi áp dụng vào dạy học Lịch sử tại lớp
4B trường Tiểu học nga Thiện, Nga Sơn, Thanh Hóa là có cơ sở, có tính khả thi.
Có được kết quả trên là nhờ sự nỗ lực phấn đấu, học tập không ngừng của bản
thân kết hợp với sự ủng hộ và giúp đỡ tận tình của đồng nghiệp đặc biệt là của
Ban giám hiệu nhà trường, và sự cố gắng, tích cực của học sinh.

17


3. Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
Qua quá trình học tập, nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất
lượng dạy học và làm Sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã rút ra được một số bài
học kinh nghiệm cho bản thân như sau:
- Để việc dạy, học được tiến hành thuận lợi và mang lại hiệu quả cao,

nghiên cứu và giảng dạy của bản thân trong những năm qua, đã và đang được vận
dụng vào dạy học phân môn Lịch sử lớp 4B trường Tiểu học Nga Thiện và đã có
hiệu quả rất rõ rệt. Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng do thời gian nghiên
18


cứu, áp dụng chưa nhiều nên tôi mới trình bày được một số vấn đề nhỏ về việc
dạy học phân môn Lịch sử 4, chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế.
Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của Tổ chuyên môn, Hội đồng khoa
học các cấp để tôi có thể đúc rút thêm nhiều kinh nghiệm quý giá phục vụ cho
công tác giảng dạy được hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Nga Sơn, ngày 08/03/2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN do tôi tự
viết, không sao chép của người khác.
Người viết

Nguyễn Thị Hương

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp Giáo viên Tiểu
học hạng III, Đặng Văn Bình, Hoàng Văn Chức, Nguyễn Đại Dương, Trần
Ngọc Giao, Hoàng Thị Hạnh…,NXB Giáo dục Việt Nam, 2016
2. SáchLịch sử và Địa lí 4, Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Tuyết Nga, Nguyễn

học sinh lớp 2
ĐT
Rèn kĩ năng dạy toán
điển hình cho học sinh
Phòng GD &
lớp 4
ĐT
Một số giải pháp góp
phần nâng cao chất lượng Sở GD & ĐT
dạy học phân môn Địa lí
lớp 4

Kết quả đánh
giá xếp loại
B

Năm học
đánh giá xếp
loại
2004 - 2005

C

2005- 2006

C

2008 - 2009

C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status