Một số biện pháp chỉ đạo chất lượng dạy học môn tiếng việt 1 cho học sinh dân tộc hmông - Pdf 57

MỤC LỤC
MỤC LỤC: ............................................................................................. 1
I: MỞ ĐẦU ............................................................................................. 2
1. Lí do chọn đề tài. ................................................................................. 2
2. Mục đích nghiên cứu ........................................................................... 4
3. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................... 4
4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 4
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ...................................... 4
1. Cơ sở lý luận. ........................................................................................
4
2. Thực trạng lớp, giáo viên và học sinh lớp 1 dân tộc H ’mông của trường
tiểu học Trung Lý 2 năm học 2015 - 2016......................................................... 4
3. Các biện pháp đã thực hiện. ................................................................ 6
3.1. Một số biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt cho
học sinh lớp 1 của trường tiểu học trung Lý 2................................................... 6
3.2. Những biện pháp cụ thể cho từng phân môn: .................................. 7
3.3. Một số giải pháp bổ trợ: ................................................................... 9
4. Hiệu quả. ............................................................................................. 10
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................... 11
1. Kết luận. ............................................................................................. 11
2. Kiến nghị. ........................................................................................... 12

1


I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Trung Lý là một trong những xã miền núi cao thuộc huyện Mường Lát,
biên giới của tỉnh Thanh Hóa, giao thông đi lại khó khăn, đời sống của nhân dân
còn nghèo; phong tục, tập quán của một số bản trên địa bàn còn nặng nề, lạc
hậu. Tình hình di dân còn diễn biến phức tạp làm cho sĩ số học sinh của nhà

triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt của các em hết sức khó khăn. Vì vậy, vốn kiến
thức về tiếng Việt ở các em hạn chế, ít ỏi là điều hiển nhiên. Chính vì thế, các
em rất ngại phải giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợ phải phát biểu xây dựng bài
trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với giáo viên ngoài giờ học, đặc biệt là các
em rất khó tiếp thu bài ở những môn học khác. Điều này đồng nghĩa với việc
kìm hãm sự phát triển tư duy ở các em, khó tạo ra một môi trường giáo dục thân
thiện! Học sinh đã bắt đầu lo lắng cho mỗi giờ đến lớp, "sợ" phải đến trường,
2


học tập lúc này là công việc quá khó khăn đối với các em.
Các em học sinh ở đây đã biết ý thức về nguồn gốc, hoàn cảnh của mình.
Cái nghèo luôn nhắc nhở con người sống trong cảnh khó khăn cần hiểu sâu sắc
về nguồn gốc, về điều kiện, hoàn cảnh sống của bản thân. Nghèo đã giúp con
người ta vươn lên, nhưng nghèo cũng làm cho con người luôn mặc cảm, tự ti,
bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Mặc cảm số phận đã khiến con người không
thể thoát khỏi những thiếu thốn vật chất, không thể vươn xa hơn không gian
sống hiện tại. Nhiều học sinh còn phải giúp bố mẹ lên nương rẫy trỉa lúa, trồng
ngô, ở nhà trông em cho bố mẹ đi làm... khi vào mùa, lo cho cuộc sống vật chất
của gia đình đang chật vật, thiếu thốn. Giáo viên của nhà trường còn phải vào
tận bản lùng sục các em, đưa các em đến trường; cũng có khi giáo viên còn phải
dùng tiền lương của mình để mua đồ dùng học tập cho các em, rồi mới đưa các
em trở lại trường. Thế nhưng có lúc cũng không thành công,... Trong suy nghĩ
của các em và gia đình của các em thì ăn từng bữa còn chưa đủ, chưa đủ thì học
chữ để làm gì ? Họ không hiểu rằng, chính cái chữ sẽ giúp con người thoát khỏi
cuộc sống nghèo khó hiện tại, giúp con người hoạch định tương lai. Cho nên vào
thời điểm mùa màng, số lượng học sinh trên lớp học giảm với tỉ lệ tương đối
cao. Ban Giám hiệu nhà trường cùng các giáo viên dạy ở bản đã họp Ban quản
lý bản và phụ huynh, xuống bản tới từng gia đình học sinh, giảng giải cho các
em, thuyết phục gia đình các em về ý nghĩa của việc học, động viên gia đình cần

học sinh dân tộc H’mông ở trường Tiểu học Trung Lý 2 - huyện Mường Lát năm
học 2015-2016.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lý luận: Qua việc nghiên cứu các tài liệu để hiểu cơ sở lý
luận của việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 cho học sinh
dân tộc H’mông.
Phương pháp điều tra, khảo sát.
Phương pháp thống kê.
Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm...
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lý luận.
Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc Tiểu học, là
phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học khác. Môn
Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh
thể hiện ở bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Do đó, môn Tiếng Việt có một vị trí
rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học, nhất là học sinh lớp 1.
Môn Tiếng Việt là một công cụ hữu hiệu trong hoạt động và giao tiếp của
học sinh, giúp học sinh tự tin và chủ động hoà nhập các hoạt động học tập trong
trường học, giúp học sinh hình thành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản ở Tiểu
học, đồng thời nó chi phối kết quả học tập của các môn học khác.
2. Thực trạng lớp, giáo viên và học sinh lớp 1 dân tộc H ’mông của
trường tiểu học Trung Lý 2 năm học 2015 - 2016.
- Tổng số học sinh lớp 1: 67 em. Số học sinh dân tộc H’mông: 60 em.
- Tổng số lớp 1 có học sinh dân tộc H’mông: 4 lớp ở 4 khu: Pa Búa = 21
em; khu Cá Giáng 16 em. Khu Cánh Cộng: 6 em; khu Tà Cóm: 17 em.
* Thuận lợi.
Một số điểm trường tỷ lệ học sinh trên lớp thấp vì thế việc giáo viên quan
tâm tới từng học sinh có rất nhiều thuận lợi.
100% giáo viên được đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn về bằng cấp; đa số
các giáo viên đều chịu khó, bám trường, bám lớp, có tinh thần trách nhiệm cao.

Tổng
số
HS
của
lớp

1
2
3
4

Pa Búa
Cá Giáng
Cánh Cộng
Tà Cóm
Tổng

21
16
6
17
60

Nói
đạt
chuẩn
(SL)

Nói
chưa

2
1
0
1
4

19
15
6
16
56

Số
lượng
học
sinh
còn
rụt rè
18
14
5
14
51

Số
lượng
học
sinh
mạnh
dạn

3.1. Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng
Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc H’mông của trường Tiểu học Trung Lý 2.
+ Chỉ đạo Hội đồng tuyển sinh phối kết hợp với Trường Mầm non tuyển
hết số trẻ trong độ tuổi ra lớp.
+ Chỉ đạo Ban chuyên môn tham mưu bố trí những giáo viên nhiệt tình,
có năng lực, có trình độ chuyên môn và trách nhiệm cao, là người địa phương
hoặc thông thạo tiếng địa phương làm công tác chủ nhiệm lớp 1. Tăng cường
công tác dự giờ đồng nghiệp trong trường, góp ý lẫn nhau để tích luỹ thêm kinh
nghiệm dạy học cho bản thân mình. Tăng cường tổ chức giao lưu về chuyên
môn giữa các khu, các Tổ trong nhà trường để cho các giáo viên học hỏi kinh
nghiệm lẫn nhau.
+ Chỉ đạo giáo viên dạy học theo hướng phân hoá các đối tượng học sinh,
bám sát đối tượng, phù hợp và phát huy được tính tích cực của nhiều đối tượng
học sinh trong cùng một lớp học.
+ Chỉ đạo tốt việc dạy học theo Chuẩn kiến thức và kỹ năng, lựa chọn nội
dung, phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, phù hợp với
địa phương, dạy học tới từng học sinh; tăng cường việc nhận xét, góp ý hướng
dẫn của giáo viên và học sinh, chỉ ra những lỗi sai của học sinh để giúp các em
tự sửa những lỗi của mình; kịp thời động viên, khích lệ những cố gắng của học
sinh.
+ Chỉ đạo Ban chuyên môn khuyến khích giáo viên tăng cường làm đồ
dùng dạy học và sử dụng đồ dùng tự làm, các loại đồ dùng có sẵn ở địa phương,
đồ dùng dạy học được cấp phát một cách hợp lý, phù hợp với học sinh để tạo
hứng thú trong học tập của học sinh, làm cho học sinh nhận thấy học tiếng Việt
là có ích và thực sự cần thiết, tạo niềm đam mê trong học tập của các em, tạo
môi trường thân thiện để các em tham gia, tạo động cơ “Mỗi ngày đến trường là
một ngày vui” đối với học sinh để từng bước nâng cao hơn nữa chất lượng dạy
học.
+ Xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán trong trường, đặc biệt là các tổ
trưởng, tổ phó chuyên môn làm công tác hỗ trợ về chuyên môn cho nhà trường.

Tăng thời lượng dạy học phân môn Học vần từ 2 tiết lên 3 tiết. Sử dụng
nhiều hình thức dạy học sinh động để tạo hứng thú cho học sinh trước khi bước
vào bài học mới: Hội thoại tự nhiên giữa giáo viên và học sinh; vào bài bằng
một bài hát, một câu chuyện nhỏ, một câu đố vui, tổ chức nhiều trò chơi học tập
cho học sinh tham gia,…
Sử dụng triệt để các đồ dùng được cấp phát trong dạy học, giáo viên tăng
cường làm và sưu tầm các đồ dùng dạy học đơn giản, có sẵn ở địa phương.
+ Rèn cho học sinh đọc đúng, viết đúng các âm, vần, tiếng dễ lẫn do ảnh
hưởng của cách phát âm địa phương:
Ví dụ: các vần ăn và ăng; ăn cơm thì học sinh đọc là ăng cơm.
Vần ăt thì đọc thành ắc: Bắt - Bắc ...
+ Tăng cường sử dụng các đồ dùng trực quan sinh động, các hình thức dạy
học phát huy tính tích cực của học sinh. Ví dụ: Khi dạy vần ai, ay giáo viên có
thể tổ chức trò chơi “Em là họa sĩ”:
- Hướng dẫn cho học sinh tô màu xanh vào những đám mây có chứa vần ai.
- Hướng dẫn cho học sinh tô màu hồng vào những đám mây có chứa vần ay.
Chắc chắn với vai trò của “một họa sĩ tí hon” các em sẽ vô cùng say sưa
với các tác phẩm nghệ thuật của mình mà không hề cảm thấy mệt mỏi và căng
thẳng. Tuy nhiên giáo viên cần phải thay đổi thường xuyên những hình ảnh
minh họa để giúp học sinh khỏi bị nhàm chán.
+ Không giải nghĩa từ bằng định nghĩa, từ điển mà nên giải nghĩa từ bằng
các hình ảnh trực quan, các vật thật hoặc đưa các từ vào trong văn cảnh cụ thể
để học sinh hiểu được nghĩa của từ.
+ Sử dụng ngữ liệu chứa nội dung hấp dẫn, sưu tầm các câu đồng giao,
thơ để giúp học sinh dễ thuộc, viết đúng các chữ cái. Ví dụ:
- i, t hai chữ giống nhau
i ngắn có dấu, t dài có ngang.
7



tiết cho văn bản truyện.
+ Sử dụng linh hoạt các biện pháp dạy học thích hợp: Làm mẫu, dẫn dắt,
gợi mở bằng câu hỏi hoặc tranh ảnh nhằm khích lệ học sinh mạnh dạn, tự tin,
tích cực tham gia vào các hoạt động rèn kỹ năng nói của mình.
+ Hướng dẫn học sinh kể bằng lời của mình, không đọc thuộc lòng câu
chuyện.
+ Tổ chức tốt các hình thức luyện tập, gây hứng thú đối với học sinh
(phân vai, hoạt cảnh, đóng kịch...); chú ý tạo mọi cơ hội cho học sinh được thực
hiện luyện tập kể chuyện trên lớp, trong nhóm, tổ hoặc theo cặp.
+ Một số yêu cầu khó có thể được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với
trình độ học sinh.
+ Giáo viên cần tế nhị hướng dẫn học sinh kể chuyện.
d) Phân môn Tập viết
+ Giáo viên viết chữ mẫu đúng và đẹp từng kiểu chữ, mẫu chữ.
8


+ Dạy cho học sinh cách cầm bút và viết đúng các nét chữ cơ bản như nét
gạch ngang, nét xiên phải, cong tròn,... Dạy viết theo nhóm các chữ có nét cơ
bản giống nhau.
+ Hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập với số chữ, số dòng theo trình
độ học sinh: Giáo viên hướng dẫn học sinh cụ thể về các yêu cầu kỹ thuật viết
từng nét chữ, điểm đặt bút, điểm dừng bút trên dòng kẻ ly để hình thành nên một
chữ cái, rồi đến tiếng, từ, cụm từ và cả câu. Giáo viên cần viết lại chữ mẫu nhiều
lần để học sinh bắt chước viết theo.
+ Sử dụng có hiệu quả các phương tiện, thiết bị hỗ trợ dạy học Tập viết:
Bảng cài, bảng lớp, bảng con...; Rèn tư thế ngồi viết đúng cho học sinh.
e) Phân môn Chính tả.
+ Giáo viên chuẩn bị và hướng dẫn học sinh chuẩn bị tốt các phương tiện
viết bài chính tả (vở, bút, bảng lớp, bảng phụ).

9


động “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT đã
phát động.
4. Hiệu quả.
Sau khi chỉ đạo áp dụng các biện pháp trên vào việc dạy - học của nhà
trường, qua kiểm tra và khảo sát chất lượng của Ban giám hiệu nhà trường vào
giữa học kỳ II, kết quả đạt được như sau:
Học sinh đã bớt rụt rè và đã mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Học sinh
đọc đã phát âm chuẩn hơn, khả năng đọc liền mạch và ngắt nghỉ câu đã được
nâng lên rõ rệt. Khả năng nói từng câu, từng ý của học sinh đã tốt hơn. Đã giảm
được tình trạng nói cộc lốc, không đủ ý, đủ câu ở học sinh.
Chữ viết của các em cũng đã tiến bộ, chữ của các em viết đã đẹp hơn và ít
bị sai lỗi chính tả. Cách trình bày khi viết của các em cũng đã hợp lý hơn. Các
em cũng đã chủ động hơn trong cách nghĩ, các em đã biết tự suy nghĩ để làm bài
tập.
Chất lượng giáo dục đã có những bước tiến bộ đáng kể. Qua đó cho thấy
tăng cường tiếng Việt cho học sinh đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng giáo dục và cũng là điều kiện quan trọng để thực hiện cuộc vận động
“Trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Kết quả sau khi khảo sát đạt được như sau:

TT

Khu

Tổng
số
HS

học
sinh
còn
rụt rè

Số
lượng
học
sinh
mạnh
dạn

Ghi
chú

1
2
3
4

Pa Búa
21
14
7
19
2
5
16
Cá Giáng
16

Qua một thời gian chỉ đạo và thực hiện những giải pháp nâng cao chất
lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 của trường tiểu học Trung Lý
2 tôi thấy: Chất lượng học tập môn Tiếng Việt của học sinh lớp 1 được nâng cao
rõ rệt so với những năm học trước.
Mặt khác, giờ dạy Tiếng Việt của giáo viên lớp 1 cũng gần gũi, sinh động
và hấp dẫn hơn với học sinh, một số giáo viên chủ nhiệm là người địa phương
vừa đóng vai trò là một giáo viên chủ nhiệm lớp lại vừa là một trợ giảng đắc lực
giúp các em tiếp nhận kiến thức mới nhẹ nhàng.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Để nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 cho
10


học sinh dân tộc H’mông không phải là việc làm một sớm, một chiều mà là cả
một quá trình rèn luyện gian nan, bền bỉ, một mình Ban giám hiệu nhà trường
không thể làm được mà cần phải có sự tham gia tích cực của cộng đồng phối
hợp với các thầy, cô giáo trong việc vận động học sinh ra lớp và giáo dục học
sinh; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo của các
cấp chính quyền địa phương trong việc chỉ đạo, quan tâm xây dựng cơ sở vật
chất, hỗ trợ sách, vở, đồ dùng học tập... cho học sinh.
Việc chọn lựa giáo viên dạy lớp 1 cho học sinh dân tộc, chú trọng đổi mới
phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và đặc thù của từng vùng,
miền cũng góp phần lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt
lớp 1.
Chỉ đạo tốt việc dạy học theo Chuẩn kiến thức và kỹ năng môn học.
Thường xuyên tổ chức giao lưu cho học sinh như giao lưu Tiếng Việt của
chúng em, câu lạc bộ Tiếng Việt, các trò chơi dân gian... để nâng cao vốn Tiếng
Việt cho học sinh.
Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo về các hình thức tiếp

Nguyễn Tiến Hiệp

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status