PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình ĐMPPDH nói chung và ĐMPPDH môn Lịch sử nói riêng, và
trên cơ sở áp dụng ĐMPPDH vào thực tiễn, mỗi giáo viên (GV) dạy phụ trách bộ
môn có những thế mạnh và đúc rút cho bản thân những kinh nghiệm riêng có.
Là giáo viên dạy môn lịch sử từ năm 2003 đến nay, trong quá trình giảng dạy,
tôi nhận thấy việc tổ chức trò chơi trong dạy học có sức hấp dẫn kì lạ, không đơn
thuần là phương tiện giải trí bổ ích mà qua đó giúp học sinh (HS) dễ hiểu, dễ khắc
sâu kiến thức, nắm được một số kĩ năng (KN) quan trọng như KN giao tiếp, KN vận
độnh nhanh nhẹn, khéo léo, KN hợp tác, KN làm việc nhóm, KN ra quyết định, điều
đặc biệt hơn cả là qua tổ chức trò chơi sẽ kích thích HS học tập, các em sẽ lĩnh hội
tri thức lịch sử một cách dễ dàng, củng cố kiến thức một cách vững vàng, tạo niềm
say mê, hứng thú hơn trong giờ học lịch sử.
Từ những kết quả ban đầu, bản thân tôi đã nghiên cứu, chiêm nghiệm về cách
thiết kế và tổ chức trò chơi trong quá trình giảng dạy bộ môn. Qua các lần ứng dụng
tôi thấy học sinh rất hứng khởi, tham gia nhiệt tình, giờ học trở nên nhẹ nhàng, sinh
động, học sinh được làm việc, các đồng nghiệp, BGH nhà trường đánh giá cao, chất
lượng học tập bộ môn không ngừng được nâng lên.
Chính vì thế mà tôi chọn đề tài “Thiết kế và tổ chức trò chơi tạo hứng thú
cho học sinh lớp 8 – 9 trong giờ học lịch sử”
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU, TIẾN HÀNH
1. Đối tượng
Học sinh cấp THCS khối 8-9 trong trường THCS Văn Nho và các trường
trong huyện;
Cách thiết kế và tổ chức trò chơi trong dạy học bộ môn lịch sử nói riêng và
các bộ môn khác nói chung trong chương trình THCS.
2.Thời gian: Từ năm 2006 đến nay.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1
thể xác định được là:
Một là: Đa phần các GV trong địa bàn huyện được đào tạo nhiều môn, do vậy
mà các GV chưa thực sự chuyên môn hoá (chỉ có 7 GV có trình độ đại học) điều này
ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giảng dạy của GV.
Hai là: GV chưa giám mạnh dạn ĐMPPDH trong quá trình giảng dạy.
Ba là: Trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy bộ môn ở các nhà trường thiếu
trầm trọng, không đủ lược đồ, bản đồ, đồ phục chế, chưa có các phương tiện dạy học
hiện đại như máy chiếu, băng hình, sa bàn…
Bốn là: Điều kiện kinh tế của địa phương còn gặp nhiều khó khăn (1/62 huyện
nghèo của cả nước) chính quyền địa phương chưa thực sự quan tâm, do vậy mà ảnh
hưởng rất nhiều tới điều kiện học tập của HS.
Năm là: GV chưa bám vào sách “chuẩn kiến thức kĩ năng” bộ môn do Bộ đã
ban hành,
2. Học sinh
HS trường THCS Văn Nho nói riêng và các trường trên địa bàn huyện nói
chung đều có xuất phát điểm là thấp (vùng 135), ý thức học tập chưa cao, đa phần
các em chưa xác định được rõ ràng mục tiêu học tập, chưa thực sự cố gắng trong các
tiết học, làm bài tập ở nhà, đang còn khép kín, chưa dám mạnh dạn khi GV yêu cầu
trả lời câu hỏi, chỉ bản đồ, lược đồ…Qua tìm hiều HS, cũng như các đồng nghiệp
trên địa bàn huyện tôi nhận thấy một số nguyên nhân sau:
Một là: Môn sử có nhiều sự kiện, nên khó học, khó nhớ.
Hai là: HS thì luôn có tâm niệm đây là môn phụ, không có sự hướng nghiệp
rõ ràng khi lựa chọn ôn thi, chọn trường, chọn nghề….
Ba là: Phụ huynh thờ ơ với bộ môn sử, thường hướng con em học vào các
môn khoa học tự nhiên.
Bốn là: Xuất phát từ GV, đó là chưa có phương pháp giảng dạy một cách hiệu
quả nhất, cho nên không thu hút được các em trong giờ học.
Để khắc phục vấn đề trên tôi đã áp mạnh dạn áp dụng việc “Thiết kế và tổ chức
Bốn là: Tổ chức, biên soạn câu hỏi cho trò chơi phải bám vào “Chuẩn kiến
thức - kĩ năng” của bộ môn;
Năm là: Tổ chức trò chơi phải xác định được thời gian: Trừ các trò chơi tổ
4
chức ở các tiết ngoại khoá (1 tiết hoặc nhiều hơn), các tiết làm bài tập lịch sử (1 tiết),
thì các trò chơi tổ chức trong tiết dạy chỉ dừng ở thời gian là 4 – 6 phút;
Sáu là: Trò chơi phải có sức hấp dẫn, thu hút được sự tham gia của HS, tạo
không khí thoải mái, hấp dẫn trong học tập;
Bảy là: Luôn thay đổi trò chơi để thu hút HS, tuy nhiên phải dựa vào dạng bài,
kiểu bài;
Tám là: Khi tổ chức trò chơi GV luôn phải động viên HS là tham gia trò chơi,
cho điểm hoặc ngợi khen các em trước lớp.
2. Vai trò, ý nghĩa của trò chơi học tập khi dạy môn Lịch sử
Trong giảng dạy bộ môn lịch sử nói riêng cũng như các bộ môn xã hội và tự
nhiên nói chung, tổ chức trò chơi trong dạy học có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan
trọng.
Một là: Giúp các em thay đổi hình thức, phương pháp dạy và học truyền thống
trước đây, làm cho giờ học bớt căng thẳng, nặng nề, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu,
để HS tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, hứng khởi.
Hai là: Rèn luyện thêm kĩ năng lịch sử cho HS. (chỉ bản đồ, vẽ sơ đồ, tường
thuật, hình thành kĩ năng làm việc theo nhóm của HS...)
Bốn là: Tạo cho HS sự tìm tòi, sáng tạo, rèn luyện cho học sinh có cơ hội để
hoàn thiện bản thân.
Năm là: Qua trò chơi đã kích thích HS vận dụng kiến thức năng động, rèn
luyện trí nhớ, phát triển khả năng phán đoán, suy luận . Từ đó phát triển tư duy mềm
dẻo, học tập cách xử lý thông minh các tình huống phức tạp, tăng cường khả năng
vận dụng trong cuộc sống để thích nghi với điều kiện mới của xã hội.
Sáu là: Ngoài ra, thông qua trò chơi còn giúp các em phát triển được nhiều
Đây là dạng trò chơi mà tôi thường hay sử dụng nhất trong quá trình dạy học,
vì hiệu quả của trò chơi này mang lại là rất cao.
Ở trò chơi này có 2 dạng chủ yếu:
- Dạng thứ nhất: Ô chữ có một hàng ngang.
VD: Bài 26 – lớp 8: Sau khi dạy xong bài, GV hỏi HS ? Ô chữ gồm có 8 chữ
cái. Đây là thái độ chủ yếu của triều đình phong kiến nhà Nguyễn đối với quá trình
Pháp xâm lược Việt Nam.
6
T
H
Ỏ
A
H
I
Ệ
P
- Dạng thứ hai: Ô chữ có nhiều hàng dọc và có từ chìa khoá bí mật (mô phỏng
trò chơi Đường lên đỉnh Ôlimpia)
4 - Trò chơi “Theo dòng lịch sử”
Trò chơi này dùng vào các tiết ngoại khóa, các tiết làm bài tập lịch sử để HS
Áp dụng đối với các tiết ngoại khóa, làm bài tập lịch sử. GV chuẩn bị một cây
hoa (trong thiên nhiên, hoi hoặc hoa giả), trên nhánh hoa có ghi các chủ đề câu hỏi
để học sinh lựa chọn (chủ đề nhân vật; chủ đề sự kiện; chủ đề chiến tranh; chủ đề
văn hoá…) trong mỗi chủ đề có hệ thống câu hỏi đê HS trả lời…
b) Các bước tổ chức trò chơi
Để tổ chức thành công trò chơi, GV phải xác định được các yêu cầu sau đây:
1. Xác định được phạm vi áp dụng của trò chơi.
2. Xác định mục đích áp dụng của trò chơi.
3. Sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh về trò chơi.
4. Tiến hành trò chơi trên lớp. Gồm 05 bước chủ yếu
Bước 1: GV giới thiệu tên trò chơi.
Bước 2: GV lựa chọn đội chơi.
Bước 3: GV quy định thời gian, phổ biến luật chơi.
Bước 4: Tổ chức trò chơi.
Bước 5: Tổng kết (Đánh giá) trò chơi
c) Quá trình áp dụng
Hơn 6 năm qua, tôi đã thiết kế và mạnh dạn áp dụng các trò chơi nêu trên
trong giảng dạy vào quá trình giảng dạy lịch sử, ngoài ra các trò chơi này tôi mời
đồng nghiệp tổ chức dạy thử nghiệm ở lớp 6 - 7 và hiệu quả thu được là rất khả
quan.
Do giới hạn của một sáng kiến kinh nghiệm, và chỉ đứng lớp ở khối 8 - 9 nên
tôi chỉ đưa ra một số trò chơi tiêu biểu và có hiệu quả cao trong qúa trình giảng dạy
lịch sử ở chương trình THCS.
4. Các trò chơi cụ thể được áp dụng vào quá trình giảng dạy ở trường
THCS Văn Nho – Bá Thước
4.1- Trò chơi “Điền sơ đồ trống”
8
Bài áp dụng: Bài 29 – Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và
(thống đốc)
(Khâm sứ)
(Khâm sứ)
- Học sinh: Đọc trước bài ở nhà.
d) Tiến hành trò chơi
* Bước 1: GV giới thiệu trò chơi.
* Bước 2: GV lựa chọn đội chơi.
- GV chia lớp thành 2 đội (mỗi dãy 1 đội), mỗi đội cử lấy 05 học sinh và đặt
9
tên cho từng đội : Đội 1- Hà Văn Nho; Đội 2- Hà Văn Mao.
- Mỗi đội GV cử 1 đội trưởng, đồng thời GV cử 2 HS (không nằm trong 2 đội
chơi) làm trọng tài cùng với GV.
* Bước 3: GV quy định luật chơi.
Thời gian: 3 – 4 phút
Mỗi đội xếp hàng trên bảng (kiểu cánh gà) sau đó mỗi đội sẽ cử lần lượt các
bạn lên chọn ô chữ để dán cho đúng mà GV đã chuẩn bị sẳn để trên bàn để dán lên
sơ đồ hình minh hoạ trên. Sao cho đạt được kết quả như sơ đồ dưới đây. Đội nào
hoàn thành chính xác trước đội đó thắng cuộc. Thời gian tối đa là 4 phút. Điểm tối
đa của mỗi đội là 10 điểm.
* Bước 4: Tổ chức trò chơi
- GV hỏi HS.
? Sau khi hoàn thành xong quá trình xâm lược Đông Dương, thực dân
Pháp đã tiến hành tổ chức bộ máy nhà nước ở Đông Dương như thế nào?
- HS trả lời theo SGK.
- GV chuẩn hoá và tiến hành hướng dẫn HS gia trò chơi luôn.
Bộ máy chính quyền cấp tỉnh, huyện (Pháp – bản sứ)
Bộ máy chính quyền cấp xã thôn (bản sứ)
* Bước 5: Tổng kết trò chơi, GV nhận xét, hoàn thiện bảng và chuẩn hoá kiến
thức.
4.2 – Trò chơi thứ hai. “Điền lược đồ trống”
Bài áp dụng: Bài 26 - Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân Pháp 1953 – 1954 (SGK Lịch sử 9)
a) Phạm vi áp dụng: Củng cố bài ở tiết 1 (bài gồm 2 tiết)
b) Mục đích trò chơi: Giúp các em rèn kĩ năng sử dụng lược đồ Chiến dịch
Biên giới thu - đông (1950) một cách tốt hơn.
c) Sự chuẩn bị
- Giáo viên
+ GV chuẩn bị 1 lược đồ không mầu: Lược đồ chiến dịch Biên giới thu - đông
1950 (mỗi Lược đồ lớp 9 môn lịch sử trường THCS Văn Nho được phát 2 cái: Một
cái có mầu và một không mầu)
+ GV chuẩn bị những kí hiệu mũi tên mầu có dán keo 2 mặt (lưu ý tới kích
thước trùng khớp với mũi tên có sẵn trong SGK).
- Học sinh: Tìm hiễu kĩ lược đồ chiến dịch Biên giới thu đông (1950) ở nhà.
4. Tiến hành trò chơi
* Bước 1: GV giới thiệu trò chơi.
* Bước 2: GV lựa chọn đội chơi.
- GV chia lớp thành 2 đội, từ 5 – 7 em học sinh (mỗi dãy 1 đội) và đặt tên cho
mỗi đội. Đội 1 - Rơ ve (tên tướng của Pháp); Đội 2 - Võ Nguyên Giáp
* Bước 3: GV quy định:
Thời gian: 3 – 4 phút
+ Kí hiệu HS phải dán (Địch: màu xanh, Ta: màu đỏ; Đường tiến quân là mũi
11
+ GV sử dụng giấy dán từng hàng chữ lại.
- Học sinh: Tìm hiểu trước bài ở nhà.
d) Tiến hành trò chơi
* Bước 1: GV giới thiệu trò chơi.
* Bước 2: GV lựa chọn đội chơi.
- GV chia lớp làm hai đội (mỗi dãy một đội, mỗi đội từ 7 – 10 em HS) và đặt
tên cho mỗi đội: Đội thứ nhất-Phương Đông; Đội thứ hai-Phương Tây
* Bước 3: GV giới thiệu, phổ biến luật chơi:
Thời gian: 3 – 6 phút
+ Sau khi GV gợi ý cho từng hàng chữ, hai đội sẽ đưa tay dành quyền trả lời.
Đội nào đưa tay trước khi GV nói 10 giây bắt đầu sẽ mất quyền ưu tiên. Đội còn lại
được quyền trả lời.
+ Mỗi hàng chữ chỉ một đội trả lời và trả lời một lần, nếu đúng sẽ được 10
điểm và GV mở hàng chữ đó ra.
+ Sau khi GV đọc câu hỏi mật mã hai đội đưa tay dành quyền trả lời. Nếu trả
lời sai đội còn lại sẽ được quyền trả lời, mỗi đội trả lời tối đa một lần, thời gian suy
nghĩ là 10 giây.
+ Trả lời đúng mật mã được 40 điểm.
+ Nếu HS không giải được mật mã thì GV giải.
+ Em nào hoàn thành trò chơi xuất sắc nhất sẽ được thưởng điểm.
* Bước 4: Tiến hành trò chơi
- GV treo bảng sơ đồ ô chữ có dán keo như sơ đồ trên lên bảng rồi cho tiến
hành trò chơi bằng cách đưa ra các gợi ý sau:
- Mật mã lịch sử: Gồm 07 chữ cái: Đây chính lực lượng tham gia cuộc khởi
nghĩa Yên Thế đông nhất (Nông dân)
- Nếu hai đội không trả lời được thì GV cho hai đội trả lời các câu hỏi hàng
ngang. GV tung câu hỏi gợi ý.
* Ô hàng ngang số 1; gồm 12 chữ cái: Tên vị thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Yên
4
5
T
R
Ư
6
7
P
H
N
G
H
O
M
Ô
N
G
Ơ
N
G
V
Ă
N
N
G
H
A
N
H
D
Ũ
M
Ô
N
G
D
Â
8
* Từ chìa khoá
N
N
GV nhấn mạnh. Khởi nghĩa Yên Thế là phong trào lớn nhất của nông dân
trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Sự tồn tại bền bỉ, dẻo dai của
phong trào đã nói lên tiềm năng, ý chí và sức mạnh to lớn của nông dân Việt Nam
14
* Lưu ý:
- Quy trình ở trên là thiết kế đối với dạy dùng bảng phụ (cách dạy phổ biến
nhất trên địa bàn các huyện miền núi, còn nếu dạy Powwr Point thì cách thiết kế
càng đơn dãn và hiệu quả còn cao hơn,)
* Bước 5: GV tổng kết trò chơi.
10 và 5 điểm, mỗi đội được trả lời 1 lần).
Phần 3: Về đích: 50 điểm, HS trả lời quan điểm của mình về một chủ đề mà
GV đưa ra, thời gian trả lời mỗi câu hỏi là 3 phút (HS trả lời 1 lần và có quyền nhận
xét lẫn nhau).
*Bước 4. GV tiến hành tổ chức trò chơi.
Phần 1: Khởi động: 5 câu hỏi.
Câu 1: Sự kiện nào mở đầu phong trào Cần vương?
Đáp án: 5.7.1885.
Câu 2: Tôn Thất Thuyết đã thay vua Hàm Nghi mấy lần ra chiếu Cần vương?
Đáp án: 2 lần
Câu 3: Phong trào Cần vương trải qua mấy giai đoạn?
Đáp án: 2 giai đoạn.
Câu 4: Thanh Hoá có mấy cuộc khởi nghĩa lớn trong phong trào Cần vương?
Đáp án: 2 cuộc (Khởi nghĩa Ba Đình và Khởi nghĩa Hùng Lĩnh).
Câu 5: Cuộc khởi nghĩa nào lớn nhất trong phong trào Cần vương?
Đáp án: Khởi nghĩa Hương Khê.
Phần 2: Tăng tốc: Gồm 5 sự kiện lịch sử.
- Sự kiện 1:
+ Gợi ý thứ nhất: Tôn Thất Thuyết (5 giây đầu tiên).
+ Gợi ý thứ hai: 5/7/1885 (giây thứ 10).
+ Gợi ý thứ ba: Tân Sở (giây thứ 15).
Sự kiện lịch sử: Cuộc phản công của Phái chủ chiến ở kinh thành Huế.
- Sự kiện 2:
+ Gợi ý thứ nhất: Ba làng (5 giây đầu tiên).
+ Gợi ý thứ hai: Công sự (giây thứ 10).
16
+ Gợi ý thứ ba: 1886 - 1887 (giây thứ 15).
Sự kiện lịch sử: Khởi nghĩa Ba Đình.
Nếu tổ chức cả khối thì xin Ban giám hiệu nhà trường bố trí thời gian phù
hợp.
GV chuẩn bị các câu hỏi.
- Học sinh
+ Mỗi em HS chuẩn bị 1 cái ghế ngồi (loại ghế nhỏ ngồi chào cờ)
+ Mỗi em HS chuẩn 1 cái bảng (bảng của học sinh tiểu học), phấn để ghi, rẽ
lau bảng.
+ Chuẩn bị bàn, ghế cho giáo viên ngồi.
+ Một cái trống đoàn đội (dành để đánh và tính thời gian),
+ GV sắp xếp chỗ ngồi cho hợp lí, tuỳ theo diện tích cho phép, nhưng đủ điều
kiện để HS không thể nhìn thấy kết quả của nhau.
d) Tiến hành chò chơi
* Bước 1: GV giới thiệu trò chơi.
* Bước 2: GV lựa chọn đội chơi (chọn cả lớp, hoặc cả khối)
GV giới thiệu trò chơi và thông báo thể lệ.
* Bước 3: GV quy định, phổ biến luật chơi.
+ Thời gian: 1 tiết
+ Trò chơi gồm có 10 câu hỏi (hoặc có thể nhiều hơn, miễn là bó gọn trong 45
phút), theo độ khó từ thấp đến cao.
+ HS ngồi theo hình vuông, mỗi em ngồi cách nhau một sãi tay.
+ GV cử một em HS đánh trống tính thời gian (sau khi GV đọc xong câu hỏi,
thì đánh chậm 5 tiếng trống, tương ứng với 5 giây để tính thời gian)
+ GV cử 2 HS làm trọng tài, nhiệm vụ của các em là giám sát trò chơi (tính
thời gian, xem các bạn trả lời đúng hay sai, có gian lận trong việc ngồi lại hay bị loại
khỏi cuộc chơi hay không...)
+ Em nào trả lời đúng thì có quyền ngồi lại và tiếp tục trò chơi, em nào sai thì
bị loại khỏi cuộc chơi, cứ như vậy đến khi học sinh trả lời câu hỏi thứ 10 sẽ là học
sinh chiến thắng.
* Bước 4: Tiến hành trò chơi
18
Đáp án: 5 đời. (Ken-nơ-đi; Ai-sen-hao; Giôn-xơn; Ních-xơn, Pho)
19
* Bước 5: Tổng kết trò chơi.
Lưu ý: - Tuỳ theo trình độ của HS mà GV biên soạn câu hỏi cho phù hợp với
trò chơi.
- Nếu HS bị loại hết quá sớm thì GV cho câu hỏi “cứu trợ” để HS trở
lại thi đấu
4.6 – Trò chơi thứ sáu “Tìm hiểu nhân vật lịch sử ”
a) Phạm vi áp dụng: Chương trình ngoại khoá lớp 8 HK II
b) Mục đích áp dụng:
- Giúp HS khắc sâu được những nhât vật lịch sử tiểu biểu của Việt Nam ở
thời kì cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, từ đó tiếp tục bồi dưỡng thêm lòng biết ơn đối
với những người anh hùng đã có công với nước, với dân.
- Giúp các em vừa học vừa chơi, tạo không khí thoải mái, thân thiện trong giờ
học ngoại khoá.
c) Sự chuẩn bị
- Giáo viên: Máy chiếu PowerPoint, Giáo án điện tử của trò chơi
- Học sinh: Ôn tập chương trình (GV cho hệ thống đề cương ôn tập), mỗi đội
chuẩn bị 1 chiếc bảng nhỏ dùng để ghi đáp án, bút lông và phấn.
+ GV cử 1 thư kí ghi chép điểm và 1 trọng tài
+ GV xếp 5 đội ngồi theo hình chữ U, mỗi đội cử 1 đội trưởng.
d) Tiến hành trò chơi
* Bước 1: GV giới thiệu trò chơi
* Bước 2: GV lựa chọn đội chơi.
Chia lớp thành 5 đội, mỗi đội khoảng 5 HS và đặt tên cho 5 đội
Đội thứ nhất - Lê Lợi; Đội thứ hai-Trần Quốc Tuấn; Đội thứ ba- Quang Trung; Đội
thứ tư – Nguyễn Tri Phương; Đội thứ năm – Hoàng Diệu.
* Bước 3: GV quy định và phổ biến luật chơi. gồm có 3 phần:
Câu 1: Ông sinh và mất năm nào?
A. 1839 – 1913.
C. 1841 – 1913.
B. 1840 – 1913.
D. 1842 – 1913.
Câu 2: Quê của ông ở đâu.
A. Thanh Hoá.
C. Thuận Hoá.
21
B. Nghệ An.
D. Hà Tĩnh.
Câu 3: Tên tuổi của ông gắn liền với sự kiện lịch sử nào sau đây.
A. Chiến thắng Cầu Giấy lần 1.
C.Tấn công kinh thành Huế.
B. Khởi nghĩa Hương Khê.
D. Khởi nghĩa Ba Đình.
Câu 4: Vài trò tiêu biểu của ông đối với lịch sử dân tộc là gì?
với sự chuẩn bị chu đáo về cách thiết kế, tổ chức trò chơi của GV nên giờ học không
còn cứng nhắc, đơn điệu, truyền thu kiến thức một triều, mà giờ học trở nên sinh
động, HS rất tích cực tham gia xây dựng bài.
Qua quá trình áp dụng, tôi đã chủ động mời đồng nghiệp đánh giá, đặc biệt là
trong các tiết thao giảng ở trường, huyện, tỉnh đều được xếp giờ dạy giỏi.
2. Đối với học sinh
Qua việc tổ chức trò chơi trong giờ học lịch sử như đã nêu trên, tôi nhận thấy
trong HS có sự chuyển biến rõ nét, các em rất tích cực xây dựng bài, không còn e dè,
ngại ngùng như trước vì thế mà giờ học trở nên sôi nổi, bớt cứng nhắc, khô khan,
đặc biệt là đối với các tiết làm bài tập lịch sử các em rất thích thú tham gia học. Qua
khảo sát chất lượng học tập bộ môn từ năm học 2006 đến nay tôi đã thu được kết
quả như sau:
Bảng 1: Bảng so sánh chất lượng bài kiểm tra 1 tiết giữa các lớp ứng
dụng kinh nghiệm “Thiết kế và tổ chức trò chơi vào giảng dạy" đối với lớp 8B,
9A, 9B vào giờ học và lớp 8A không ứng dụng trong năm học 2010 – 2011
Lớp
8A
Số
Giỏi
Khá
Yếu
Trung bình
lượng
10
28,0
So sánh
8B
36
6
16,7
18
50,0
12
33,3
0
9A
38
8
21,4
Năm học
HS giỏi huyện
HS giỏi tỉnh
Nhất
Nhì
Ba
KK
Nhất
Nhì
Ba
KK
2005-2006
1
0
0
2007-2008
1
2
2
0
0
0
1
1
2008-2009
1
1
3
0
0
2
1
0
0
0
0
Tổng
6
11
8
1
1
0
1
4
các tiết ngoại khoá, vì đây là sân chơi rất bổ ích cho hoạt động tập thể.
- BGH các trường nên mạnh dạn mua sắm máy chiếu Powwr Point để giáo
viên giảng dạy và thiết kế, áp dụng các trò chơi lịch sử nói riêng và trò chơi các bộ
môn khác nói chung vào thực tiễn dạy học ở nhà trường nhằm góp phần đổi mới
phương pháp daỵ học.
Tuy đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu, nhưng chắc chắn rằng đang
còn rất nhiều điều thiếu sót. Mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các
bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện
25