I.Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài:
Nâng cao chất lượng dạy và học đã và đang là vấn đề bức thiết, được toàn xã
hội quan tâm. Dạy và học phải đổi mới toàn diện về: nội dung, mục tiêu, phương
pháp, phương tiện và các yêu cầu khác. Dạy học hiện nay là nhằm phát huy tính tự
giác, chủ động, sáng tạo của người học.
Trong những năm gần đây, Nghị quyết Trung ương Đảng và các văn kiện của
Nhà nước, của Bộ giáo dục và Đào tạo đều nhấn mạnh đến sự cần thiết phải đổi
mới phương pháp dạy học. Trọng tâm của đổi mới phương pháp dạy học là thay đổi
lối dạy truyền thụ một chiều, chủ yếu là bắt người học ghi nhớ kiến thức, sang lối
dạy học tích cực có sự hướng dẫn, giúp đỡ của người dạy nhằm phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần
hợp tác, tạo niềm vui và hứng thú trong học tập. Vậy làm thế nào để có một phương
pháp giảng dạy linh hoạt, hấp dẫn người học, khơi gợi mong muốn học tập và tìm
hiểu của người học. Qua thực tế giảng dạy ở trường Trung học cơ sở, tôi nhận thấy
việc dạy học gắn liền với thực tiễn, sử dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề
là một trong những phương pháp dạy học đáp ứng được những yêu cầu đó của
người học.
Ở bậc trung học cơ sở trong những năm qua, việc dạy học tích hợp, dạy học
liên môn đã được thực hiện ở nhiều môn học như: Lịch sử, Địa lí, Hóa học, Sinh
học, Giáo dục công dân….Trong đó, môn Địa lí là môn học gắn liền với các yếu tố
tự nhiên, kinh tế- xã hội toàn cầu và vùng lãnh thổ. Vì vậy, môn Địa lí có nhiều
thuận lợi để vận dụng kiến thức của những môn học khác vào giảng dạy. Việc dạy
học liên môn góp phần bổ sung và làm phong phú thêm nội dung bài học, giúp cho
học sinh học bài với niềm say mê, hứng thú, giúp các em thấy yêu môn học hơn và
không cảm thấy môn Địa lí là một môn khô khan, khó học.
Với những lí do trên, từ thực tế giảng dạy môn Địa lí ở trường THCS Hà
Tân- Huyện Hà Trung, tôi đã đúc rút được kinh nghiệm và mạnh dạn thử nghiệm đề
tài: “Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lí lớp 6 ở trường THCS Hà
Tân”
2. Mục đích nghiên cứu:
kiến thức về các môn học có liên quan đến chương trình Địa lí lớp 6. Qua đó, chọn
lọc những nội dung kiến thức có giá trị thiết thực, có thể vận dụng vào để minh
họa, bổ sung, diễn giải, khắc sâu thêm những kiến thức Địa lí.
- Phương pháp quan sát: Thường xuyên dự giờ của các đồng nghiệp nhằm
quan sát và học hỏi thêm những kiến thức của các môn học khác cũng như cách vận
dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy.
- Phương pháp thực nghiệm: Đánh giá những kĩ năng của học sinh cũng như
hiệu quả của phương pháp dạy học liên môn thông qua các bài tập, bài kiểm tra.
2
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học
nói chung và dạy học môn Địa lí nói riêng ở trường THCS. Đây được coi là một
trong những phương pháp dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực, tự giác,
sáng tạo của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà
trường.
Dạy học liên môn là phương pháp tìm tòi những nội dung giao thoa giữa các
môn học với nhau, tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số môn học có
mối liên hệ với nhau. Ngay từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX, người ta đã đưa
vào giáo dục ý tưởng tích hợp trong việc xây dựng chương trình môn học.
Dạy học liên môn đem lại nhiều hiệu quả cho cả người dạy lẫn người học.
Dạy học có vận dụng kiến thức liên môn giúp cho giờ học sẽ trở nên sinh động hơn
vì không chỉ có giáo viên trình bày mà học sinh cũng tham gia vào quá trình tiếp
nhận kiến thức, từ đó phát huy tính tích cực của học sinh. Dạy học liên môn cũng
góp phần phát triển tư duy liên hệ, liên tưởng ở học sinh, tạo cho học sinh thói quen
tư duy độc lập, lập luận, tức là khi xem xét một vấn đề phải đặt chúng trong một hệ
quy chiếu, từ đó mới có thể nhận thức vấn đề một cách thấu đáo.
lí. Các giờ học Địa lí đã diễn ra sôi nổi, sinh động. Tuy vậy, việc dạy học Địa lí vẫn
còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chất lượng dạy và học Địa lí vẫn chưa thật sự bền vững.
Nhiều giờ học vẫn còn tẻ nhạt, học sinh vẫn chưa thật sự say mê, hứng thú. Thực
trạng này theo tôi bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân.
Thứ nhất, về phía giáo viên: Nhiều giáo viên vẫn coi nặng việc truyền thụ
kiến thức, ít vận dụng kiến thức kiên môn, chủ đề tích hợp giáo dục; xem nhẹ việc
giúp học sinh phát triển những năng lực cần thiết nhằm giải quyết những vấn đề
trong thực tiễn, dẫn đến lối dạy học đọc chép, tiết dạy khô khan, không sinh động.
Thứ hai, về phía học sinh: Các em chịu áp lực nặng về việc ghi nhớ kiến
thức, học không gắn với thực tiễn, với kiến thức của các môn học khác trong cùng
cấp học. Thêm vào đó, tâm lí của đa số học sinh hiện nay là vẫn xem nhẹ môn Địa
lí, coi đây chỉ là môn phụ. Do đó, dẫn đến lối học thụ động, ghi nhớ máy móc,
nhàm chán, không yêu thích bộ môn.
Để tìm hiểu thực trạng của vấn đề đang nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đối với
học sinh các lớp 6A, 6B của trường THCS Hà Tân đầu năm học 2016 - 2017, trước khi tiến hành vận dụng
kiến thức liên môn trong dạy học Địa lí. Kết quả như sau:
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
tập của học sinh, giúp các em cố gắng đạt kết quả cao trong học tập. Trong đó, vận
dụng kiến thức của các môn học khác nhau trong dạy học Địa lí là phương pháp
dạy học đem lại nhiều hiệu quả. Vì vậy, với đề tài này, không có tham vọng gì
nhiều, tôi chỉ muốn đưa ra một số giải pháp cơ bản trong việc vận dụng kiến thức
của một số bộ môn cụ thể để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học
Địa lí
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
3.1 Cách vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lí:
Trong các bài học Địa lí, tùy vào từng bài học cụ thể, giáo viên có thể huy
động nhiều kiến thức khác nhau của các bộ môn khác nhau vào dạy học nhưng phải
đáp ứng được yêu cầu, mục đích đề ra. Các kiến thức của các môn học khác nhau
có các tác dụng khác nhau. Việc sử dụng kiến thức của các môn học tự nhiên (Toán,
Vật lí, Hóa học, Sinh học) để làm rõ tính chính xác của các quy luật, đi sâu vào bản
chất của vấn đề mà giáo viên và học sinh đang nghiên cứu. Kiến thức của các môn
học tự nhiên cũng giúp cho học sinh có được cái nhìn trực quan, khoa học về các
vấn đề Địa lí, do đó mà các kiến thức Địa lí cũng được mô tả một cách sinh động
hơn. Kiến thức về Văn học để tạo hứng thú học tập cũng như khơi gợi mong muốn
tìm tòi, khám phá tri thức Địa lí cho học sinh thông qua các áng văn, vần thơ, qua
các câu ca dao, tục ngữ. Sử dụng kiến thức môn Lịch sử nhằm tạo ra sự liên hoàn,
tái hiện các hoàn cảnh Lịch sử của một giai đoạn, một đất nước để học sinh dễ dàng
giải thích một sự vật, hiện tượng Địa lí nào đó. Vận dụng kiến thức môn Giáo dục
công dân sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn những chủ trương, chính sách của Đảng,
đồng thời để củng cố, kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh và khả năng vận
dụng vào các tình huống cụ thể. Như vậy, kiến thức liên môn vừa có chức năng
minh họa, vừa có chức năng là nguồn tri thức, nên trong dạy học Địa lí, giáo viên
cần chú ý phát huy tốt các chức năng này. Vấn đề đặt ra là khi nào cần vận dụng
kiến thức liên môn và vận dụng như thế nào để vừa tự nhiên, không miễn cưỡng,
gượng ép, đảm bảo được đặc thù của bộ môn, vừa đảm bảo tính vừa sức, lồng ghép
được các nội dung giáo dục vào trong các tiết dạy cụ thể để mang lại hiệu quả như
mong muốn. Theo tôi, để việc vận dụng kiến thức liên môn có hiệu quả, giáo viên
những định luật, những phản ứng hóa học chính xác, giúp đi sâu tìm hiểu bản chất
của sự vật và hiện tượng. Đồng thời bổ sung thêm những kiến thức Địa lí, giúp cho
học sinh tìm hiểu và nhận định vấn đề chính xác, khách quan và khoa học hơn.
Trong chương trình Địa lí lớp 6, học sinh được tìm hiểu các kiến thức về Địa lí tự
nhiên và Địa lí kinh tế xã hội, cũng như có rất nhiều kĩ năng mới mẻ mà học sinh sẽ
được hình thành. Việc vận dụng kiến thức của các môn Toán, Lí, Hóa, Sinh…sẽ
giúp cho giáo viên truyền tải kiến thức chính xác hơn, đồng thời giúp cho quá trình
tiếp nhận kiến thức của học sinh cũng chủ động, tích cực và dễ nhớ hơn. Có rất
6
nhiều bài, nhiều mục, nhiều nội dung trong chương trình Địa lí lớp 6 có thể vận
dụng được kiến thức của các môn khoa học tự nhiên. Cụ thể như sau:
- Vận dụng kiến thức môn Toán:
Kiến thức môn Toán đã được tích hợp trong nhiều môn học ở trường THCS
nhằm nâng cao tính chính xác, khoa học, giúp học sinh dễ tiếp thu, tăng khả năng
tư duy logic. Vận dụng kiến thức Toán học trong dạy học hiện nay đã trở thành xu
thế phổ biến. Đối với môn Địa lí, kiến thức Toán học được cụ thể hóa ra thành các
bài tập, bài thực hành, qua các kĩ năng tính toán, xử lí số liệu khi vẽ biểu đồ. Có
nhiều bài tập trong chương trình Địa lí lớp 6 yêu cầu vận dụng kiến thức Toán học
để giải quyết.
Ví dụ ở bài 3 “ Tỉ lệ bản đồ” sau khi được học kiến thức ở trên lớp giáo viên
yêu cầu học sinh vận dụng làm bài tập số 1 trong sách giáo khoa. Tỉ lệ bản đồ là 1:
2000 000 có nghĩa là 1cm trên bản đồ ứng với 2000 000cm hay ứng với 2km trên
thực địa. Ví dụ ở bài 4 “ Phương hướng trên bản đồ. Kinh độ, vĩ độ và tọa độ địa
lí” Dùng thước đo khoảng cách đường chim bay trên bản đồ từ trung tâm khách sạn
Hải Vân đến khách sạn Thu Bồn là 5.5cm, từ khách sạn Hòa Bình đến sông Hàn là
4.0cm. Biết rằng tỉ lệ là 1:7500 .Vậy khoảng cách trên thực địa hai địa điểm trên là
bao nhiêu mét?
sau khi dạy xong về Hệ Mặt Trời, giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh: Lực nào giữ
cho Trái Đất và các hành tinh chuyển động gần như tròn đều quanh Mặt Trời? Câu
hỏi này sẽ kích thích khả năng tìm tòi, khám phá của học sinh. Và để cùng làm rõ
câu hỏi trên, giáo viên hướng dẫn học sinh kết hợp các kiến thức Vật lí để tìm ra
câu trả lời: Lực hấp dẫn giữa Mặt Trời và các hành tinh đã giữ cho Trái Đất và các
hành tinh trong Hệ Mặt Trời chuyển động tròn đều xung quanh Mặt Trời.
Cũng liên quan đến lực hấp dẫn, khi dạy bài 24 – Biển và Đại Dương, giáo
viên vận dụng kiến thức môn Vật lí để phân tích sâu hơn nguyên nhân gây ra hiện
tượng thủy triều: Do sức hút của Mặt Trăng, Mặt Trời đối với các lớp nước trên
Trái Đất đã sinh ra thủy triều. Vị trí giữa Trái Đất, Mặt Trời và Mặt Trăng tạo nên
những thời kì triều cường hay triều kém. Tuy khối lượng của Mặt Trời lớn hơn Mặt
Trăng tới 27.106 lần, nhưng khoảng cách của Mặt Trời tới Trái Đất lại lớn hơn
khoảng cách từ Mặt Trăng tới Trái Đất tới 400 lần nên lực tạo triều của Mặt Trăng
lớn hơn Mặt Trời 2,17 lần. Như vậy, hiện tượng thủy triều sẽ phụ thuộc chặt chẽ
vào chu kì tuần trăng. Phối hợp giữa sức hút Mặt Trăng, Mặt Trời dễ dàng nhận biết
được thủy triều lên cao nhất vào các ngày trăng tròn hoặc không trăng (khi Trái
Đất, Mặt Trăng và Mặt Trời nằm thẳng hàng).
Trong bài 18-Thời tiết khí hậu và nhiệt độ không khí, giáo viên lại cần vận
dụng kiến thức về nhiệt dung của đất và nước để làm rõ nguyên nhân hình thành
gió biển và gió đất.
Hãy giải thích tại sao mùa hạ ở những vùng gần biển không khí mát hơn
trong đất liền, mùa đông những vùng gần biển không khí ấm hơn trong đất liền?
8
Do đặc tính hấp thụ của đất và nước khác nhau. Mặt đất nóng lên nhanh và
nguội nhanh hơn nước. Khi nước biển nóng lên thì bốc hơi, mà càng bốc hơi thì
nhiệt độ càng giảm đi, vì hơi nước trong không khí hấp thụ bức xạ mặt trời làm
giảm lượng bức xạ mặt trời tới mặt nước. Mặt khác có tới 60% nhiệt lượng trên các
9
học, giáo viên nên tham khảo thêm để dạy mục này được tốt hơn. Nhờ năng lượng
Mặt trời, nước ở bề mặt đất, đại dương bốc hơi. Khi lên cao, nhiệt độ tầng đối lưu
giảm, nước tạo thành mây và ngưng tụ thành mưa, thành tuyết rơi xuống bề mặt
Trái Đất, rồi lại theo các dòng chảy về đại dương. Do vậy, nước tuần hoàn trên toàn
Trái Đất.
(Bài 26- Đất, các nhân tố hình thành đất). Giáo viên cho học sinh thấy được
sinh vật có vai trò trong sự hình thành đất: Thực vật là nguồn cung cấp chất mùn và
quyết định độ phì của đất, vi sinh vật trong đất phân giải chất hữu cơ ( xác thực vật
động vật ) trong đất và tạo mùn. Xác động vật nhỏ sống trong đất như giun đất, mối
kiến… góp phần phân hủy xác thực vật và động vật.
3.2.2.Vận dụng kiến thức các môn khoa học xã hội
- Vận dụng kiến thức môn Văn học
Đối với môn Địa lí, văn học có ý nghĩa rất quan trọng, bởi Văn học là một
chất liệu rất đặc biệt, là ngôn ngữ nghệ thuật đã được chọn lọc và gọt giũa tinh tế.
Tác phẩm Văn học có khả năng tái hiện cụ thể sinh động hiện thực khách quan.
Chính vì thế, Văn học là một phương thức dễ đi vào lòng người. Sử dụng Văn học
có tác dụng gây hứng thú cho học sinh, tạo được sự hấp dẫn ở học sinh, làm cho
kiến thức môn Địa lí không còn khô khan, khó học; đồng thời tạo được những biểu
tượng, khái niệm Địa lí sinh động. Trong chương trình Địa lí lớp 6, chúng ta có thể
vận dụng Văn học để mở bài, tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ đầu tiết
học, hoặc có thể sử dụng Văn học để khai thác, làm rõ hơn các kiến thức Địa lí.
Thông qua những áng văn, câu thơ có liên quan đến Địa lí, giáo viên còn có thể
giáo dục cho học sinh tình yêu quê hương đất nước, yêu lao động, niềm tự hào về
những vẻ đẹp tự nhiên và con người của đất nước, đồng thời giáo dục cho học sinh
ý thức bảo vệ tự nhiên, bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lí và bảo vệ các nguồn tài
nguyên, hướng tới vẻ đẹp chân, thiện, mĩ.
Văn học cũng có thể được sử dụng để khơi gợi khả năng tìm tòi, khám phá
thám hiểm đã đi vòng quanh thế giới (1521- 1522) từ châu Âu, qua Nam Mỹ, sang
châu Á và trở về châu Âu, đoàn đã đi được một vòng. Khi đi trên tàu, cứ mỗi ngày
thấy Mặt Trời mọc, người thủy thủ đều xé một tờ lịch. Cứ như vậy, sau hai năm tàu
về đến cảng. Một điều khác lạ xảy ra là khi tàu về đến nơi, lịch trên tàu lại chậm
hơn lịch Tây Ban Nha lúc đó đúng một ngày. Nhưng lúc đó không ai giải thích
được vì sao? Từ đó, giáo viên gợi ý học sinh tìm tòi, khám phá để lí giải sự chênh
lệch ngày qua câu chuyện trên.
Hay khi dạy về nội dung thủy triều ở bài 24, để minh họa cho học sinh về
việc vận dụng thủy triều trong đời sống, sản xuất và quân sự, giáo viên có thể kể
câu chuyện Lịch sử về chiến thắng Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938 bằng
chiến thuật lợi dụng hiện tượng thủy triều: Nghe tin quân địch sắp đến, Ngô Quyền
cho quân sĩ đóng cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thủy triều
11
lên, bãi cọc không bị lộ. Khi quân địch tiến vào, Ngô Quyền ra lệnh cho quân bỏ
chạy lên thượng lưu. Đợi đến khi triều xuống, ông mới ra lệnh cho quân sĩ đổ ra
đánh. Thuyền chiến lớn của quân Nam Hán bị mắc cạn và lần lượt bị cọc đam
thủng gần hết. Sau này trong trận Bạch Đằng năm 1288, Trần Hưng Đạo cũng đã
vận dụng lối đánh này để chiến thắng quân Nguyên Mông.
- Vận dụng kiến thức môn Giáo dục công dân
Những bài dạy của môn Giáo dục công dân (GDCD) có nhiều nội dung quan
trọng mà giáo viên của các bộ môn nói chung và môn Địa lí nói riêng có thể vận
dụng để hỗ trợ kiến thức cho môn học của mình. Trong chương trình Địa lí lớp 6,
giáo viên nên tham khảo và kết hợp khéo léo một số vấn đề tương đồng giữa hai bộ
môn để các bài giảng về Địa lí thêm phong phú. Tất cả các bài giáo viên đều có thể
lồng ghép. Ví dụ như bài 15- Các mỏ khoáng sản giáo viên có thể đặt câu hỏi: Căn
cứ vào quá trình hình thành khoáng sản và vốn hiểu biết của mình chúng ta cần có
biện pháp gì trong vấn đề khai thác bảo vệ tài nguyên khoáng sản?
-Bản đồ tự nhiên thế giới
-Hình 34,35 SGK (phóng to)
2. Đối với học sinh
Sưu tầm tư liệu về các loại núi trên thế giới Việt Nam
III. Gợi ý tổ chức các hoạt động trên lớp
1.Khởi động( 6 phút)
- Ổn đỉnh lớp
- Kiểm tra bài cũ và chuẩn bị bài của HS:
Tại sao nói: Nội lực và ngoại lực là 2 lực đối nghịch nhau?
- Giới thiệu bài:
Hs xem tranh ảnh về các dạng địa hình nước ta, rút ra nhận xét.Tìm hiểu về các dạng địa hình
nước ta.
V
ùng đồi núi Phú Thọ
Vùng ĐB Bắc Bộ
2.Bài mới:
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung chính
13
Hoạt động 1( 10 phút) Cả lớp
1.Núi và độ cao của núi
Dựa vào H36 SGK trang 43 và vốn hiểu biết cho
biết:
+ Nêu cách tính độ cao tuyệt đối và độ cao
được đo theo chiều thẳng đứng từ
tương đối.
một địa điểm ở trên cao so với mực
14
+ Cho biết với qui ước như vậy thì độ cao nào
lớn hơn.
GV vận dụng toán học cho học sinh tính toán
ở độ cao 1, độ cao 2, độ cao 3
( Độ cao1= 700m, độ cao 2= 1000m, độ cao 3=
1500m)
nước biển.
- Độ cao tương đối là khoảng cách
được đo theo chiều thẳng đứng từ
một điểm ở trên cao so với địa điểm
khác ở dưới thấp
2. Núi già, núi trẻ
Hoạt động 2 (15 phút) Nhóm/cả lớp
Bước 1( 7 phút)
- Cá nhân làm việc 3 phút
- Núi già được hình thành cách đây
hàng trăm triệu năm thường có đỉnh
tròn sườn thoải thung lũng rộng và
nông.
- Dựa vào hình 37,38 SGK, thông tin thuật ngữ
SGK, bài đọc thêm trang 45 và hiểu biết của bản - Địa hình cacxtơ là loại địa hình
thân cho biết:
đặc biệt của địa hình núi đá vôi
thường có đỉnh lởm chởm, sắc nhọn
và có hang động.
+ Địa hình cacxtơ là dạng địa hình gì? Nêu đặc
điểm
- Nhiều hang động đẹp có giá trị du
+ Mô tả sự hình thành hang động đá vôi? ( Đá lịch lớn.
vôi là loại đá dễ hòa tan nên nước mưa thấm vào
kẽ nứt của đá khoét mòn tạo thành hang động,
thạch nhũ…)
+ Tại sao địa hình cacxtơ lại có những đặc
điểm độc đáo như vậy?( Là kết quả chuyển hóa
lâu dài của chuyển hóa lẫn nhau giữa 2 muối
canxihiđrocacbonat(Ca(HCO3)2 và
canxicacbonat
+ Địa hình cacxtơ có giá trị như thế nào?
Vịnh Hạ Long
+ Kể tên các danh lam thắng cảnh thuộc vùng
núi đá vôi mà em biết?( Động Phong Nha, Vịnh
Hạ Long…
16
Cách đây hàng chục triệu Cách đây hàng trăm triệu năm.
năm, hiện vẫn được nâng
17
lên với cường độ chậm.
Một số dãy núi điển DãyAn pơ,dãy Himalaya…
hình
Dãy U-Ran,dãy Apalat…
4.Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường
Kết quả trên cùng với sự chuyển biến trong nhận thức, học và làm bài đối với
môn Địa lí của học sinh, đã giúp tôi nhận thấy rõ tác dụng và sự cần thiết của việc
vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lí lớp 6. Chính vì vậy mà sau khi áp
dụng cách làm trên bản thân tôi thấy học sinh thích học hơn, từ đó các em chất
lượng được nâng lên rõ rệt. Kết quả khảo sát cuối năm đạt được như sau:
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
Lớp Sĩ số
SL
%
SL
%
khả năng tìm tòi, khám phá của các em, việc vận dụng kiến thức của các môn học
khác nhau vào giảng dạy Địa lí, đặc biệt trong chương trình Địa lí lớp 6, còn góp
phần quan trọng vào việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên, nhằm đem
lại hiệu quả cao trong giáo dục. Các tiết học Địa lí có vận dụng kiến thức liên môn,
có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh, có ưu thế trong việc tạo
ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh. Việc học các nội dung có sự giao thoa
giữa các môn học sẽ giúp học sinh tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào
giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy
móc. Dạy học có sự vận dụng kiến thức liên môn không những giảm tải cho giáo
viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác
dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên. Như vậy, có
thể khẳng định đây là một trong những phương pháp dạy học hiện đại, góp phần để
đạt được những mục tiêu giáo dục đã đề ra.
18
2. Một số kiến nghị, đề xuất:
Để việc vận dụng kiến thức liên môn ngày càng có hiệu quả, tôi có một số
kiến nghị như sau:
-Việc vận dụng kiến thức liên môn trong từng bộ môn phải được thực hiện
thường xuyên, liên tục, những nội dung tích hợp cần mang tính cụ thể, gắn với thực
tiễn.
-Nội dung tích hợp phải được thể hiện rõ trong giáo án của giáo viên ở từng
bài, từng đơn vị kiến thức cụ thể và phải thể hiện rõ mức độ tích hợp.
- Bản thân giáo viên phải tự trau dồi thêm kiến thức trong sách vở cũng như
kiến thức từ thực tế qua các phương tiện thông tin, để từ đó chọn lọc và cập nhật
những thông tin phù hợp trong việc vận dụng kiến thức liên môn
- Giáo viên phải thường xuyên đánh giá học sinh qua từng tiết dạy để rút
kinh nghiệm kịp thời.