I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học địa lý là một trong những kỹ thuật
dạy và học tích cực mang lại hiệu quả cao, phát triển tư duy lôgic khả năng phát
triển tổng hợp, học sinh hiểu bài, nhớ lâu, thay cho ghi nhớ dưới dạng thuộc
lòng, học “vẹt” sử dụng sơ đồ tư duy có tác dụng rất lớn đối với học sinh phù
hợp với tâm lý học sinh, đơn giản dễ hiểu thay cho việc ghi nhớ lý thuyết bằng
ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hóa kiến thức.
Khi học sinh biết cách vẽ sơ đồ tư duy các em sẽ phát huy khả năng tư
duy của cả hai bán cầu não. Nhờ đó các em sẽ nhớ nhanh được kiến thức trọng
tâm những kỹ năng đã được học trong bài, tạo cho các em hứng thú học tập và
sáng tạo không ngừng.
Sử dụng sơ đồ tư duy giúp các em dễ dàng hệ thống hóa kiến thức của một
bài, một chương hay toàn bộ chương trình học. Sử dụng sơ đồ tư duy để tổng kết
nội dung đã học học sinh có thể vẽ thêm các nhánh mới phát triển ý tưởng mới
theo cách hiểu của mình.
Sơ đồ tư duy giúp học sinh, giáo viên dễ dàng trình bày ý tưởng trước lớp
và tiết kiệm được thời gian ghi chép, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, giúp học
sinh nắm bắt được kiến thức qua sơ đồ thực hiện các liên kết chặt chẽ của tri
thức. Nhưng từ xưa đến nay, môn địa lý vốn luôn bị học sinh coi là “môn phụ”,
“Môn đất đá khô khan”. Một số phận phụ huynh thì cho rằng: Học địa lý là môn
học thuộc khối C, mà mục đích của người học để kiếm sống, kiếm công ăn việc
làm. Mà thực tế đã cho thấy học khối C sau này ra xin việc rất khó nên không
bằng lòng cho con em mình học môn địa lý. Bởi vậy, trong quá trình học tập học
sinh rất “xem nhẹ”. Nhưng trên thực tế môn địa lý lại rất gần gũi gắn bó với con
người, bởi nó là những hiện tượng tự nhiên diễn ra xung quanh cuộc sống. Vậy
làm thế nào để xóa được những quan niệm trên? Làm thế nào để mỗi bài học địa
lý trở thành sự đam mê thích thú, sự mong ước tìm hiểu khám phá của mỗi học
sinh? điều này kiến tôi trăn trở suy nghĩ rất nhiều để viết đề tài này trong quá
trình dạy học ở trường trung học cơ sở Minh Lộc, nhằm giúp HS yêu thích học
tập môn địa lý hơn. Bởi vậy, tôi chọn đề tài: “ Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy
Trong sơ đồ tư duy, học sinh được tự do phát triển các ý tưởng, xây dựng
mô hình và thiết kế mô hình vật chất hoặc tinh thần để giải quyết những vấn đề
thực tiễn. Từ đó cùng với việc hình thành, kiến thức, các kỹ năng tư duy (Đặc
biệt là các kỹ năng tư duy bậc cao) của học sinh cũng được phát triển.Với việc
lập sơ đồ tư duy, HS không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn cần phâỉ suy
nghĩ về các thông tin đó, giải thích nó và kết nối nó với cách hiểu biết của mình.
Và điều quan trọng hơn là học sinh được một quá trình tổ chức thông tin tổ chức
các ý tưởng.
2
Sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy và học địa lí giúp học sinh, giáo
viên dễ dàng trình bày ý tưởng trước lớp và tiết kiệm được thời gian ghi chép,
tăng sự linh hoạt trong bài giảng, giúp học sinh nắm bắt được kiến thức qua sơ
đồ thực hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức ,bởi phương tiện dạy học hiện phù
hợp với nội dung sách giáo khoa mới,phù hợp với mọi điều kiện cơ sở vật chất
của nhà trường, lớp học,điều đặc biệt rất phù hợp tâm lý học sinh. Giáo viên và
học sinh có thể thực hiện sơ đồ tư duy trên bảng phấn, trên vở, trên giấy, bìa,
bảng phụ,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm. Khai thác tính năng và sử
dụng đồ tư duy có hiệu quả là góp phần đổi mới phương pháp dạy học và ứng
dụng công nghệ thông tin một cách dễ dàng và thiết thực.
Sử dụng thành thạo và linh hoạt sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ mang lại
nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ. Học sinh học được phương pháp học tập,
tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Với học sinh, việc tự vẽ sơ đồ
tư duy có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo, lôi cuốn học sinh tham gia
vào bài giảng, tạo điều kiện phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học
sinh…qua đó, các em tự chiếm lĩnh kiến thức mới một cách nhẹ nhàng, tự nhiên
với hứng thú học tập lớn. Với các bài tập nhóm, sử dụng sơ đồ tư duy còn giúp
các em biết cách lập kế hoạch, phân công công việc, hợp tác để hoàn thành yêu
sách vở không có trải nghiệm thực tiễn.Cho nên các em đã “quay lưng”lại với
môn địa lí. Đây cũng chính là lí do làm cho một bộ phận giáo viên đang trực tiếp
giảng dạy môn địa lí có phần chán nản, cố gắng để “tối ngày, đầy công”.
3. Các giải pháp đã được sử dụng giải quyết vấn đề.
Trước thực trạng trên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, rèn luyện
cho HS phương pháp tự học, tôi xin trao đổi một số kinh nghiệm sử dụng sơ đồ
tư duy trong dạy học địa lý ở trường THCS như sau:
- Chuẩn bị kỹ nội dung kiến thức tiết học thông qua bài soạn.
- Lựa chọn đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung từng bài.
- Chuẩn bị hệ thống câu hỏi sao cho phát huy được tính tích cực của học sinh.
- Lựa chọn nội dung để giao cho nhóm cá nhân.
- Xây dựng sơ đồ tư duy tùy theo nội dung của từng bài mà lựa chọn cho phù
hợp (Sử dụng sơ đồ tư duy để khai thác kiến thức mới, củng cố bài học hay để
ôn tập).
Các bước tiến hành:
- Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng
hay khái niệm, chủ đề, nội dung chính.
- Từ trung tâm sẽ được phát triển nối với các hình hay từ khóa/ tiểu chủ đề cấp
1. liên quan bằng các nhánh chính ( thường tô đậm nét).
4
- Từ các nhánh chính phát triển phân nhánh đến các hình ảnh hay từ khóa/ tiểu
chủ đề cấp 2 có liên quan đến nhánh chính( trên các nhánh có thể thêm các hình
ảnh hay cá ký hiệu cần thiết )
- Cứ thế sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm/ nội dung/ vấn đề liên quan
luôn được nối kết với nhau. Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng
thể” mô tả khái niệm/ nội dung/chủ đề chung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng.
Như vậy, một khái niệm, một nội dung/ chủ đề chính được gắn kết với các
một số bài cụ thể sau:
*Kỹ năng sử dụng sơ đồ tư duy trong việc khai thác nội dung kiến thức
mới.
+Khi dạy bài 2.Tiết 2: Khí hậu Châu á (Địa lí 8). Để giúp HS : Trình bày và
giải thích được đặc điểm khí hậu Châu Á. Nêu và giải thích được sự khác nhau
giữa các kiểu khí hậu gió mùa và các kiểu khí hậu lục địa ở Châu á.
- GV có thể nêu một câu hỏi khái quát: “Quan sát bản đồ kết hợp với lược đồ
khí hậu Châu Á: Hãy sử dụng sơ đồ tư duy để tìm hiểu đặc điểm khí hậu
Châu Á?”. HS suy nghĩ về câu hỏi trên và đưa ra câu trả lời (đầu tiên) cho câu
hỏichính(vẽ sơ đồ tư duy ứng với từ khóa trung tâm là: khí hậu Châu Á. Lần
lượt
- HS đưa ra các vấn đề liên quan đến đặc điểm khí hậu Châu á như: Phân hóa
đa dạng; phổ biến là các kiểu khí hậu gió mùa và lục địa, HS đọc ý kiến của
các thành viên trong nhóm và thống nhất. Đó chính là từ khóa cấp 1.
-Từ từ khóa cấp 1, GV có thể sử dụng câu hỏi: “Khí hậu Châu Á đa dạng biểu
hiện như thế nào?” HS sẽ phát triển sơ đồ và điền các từ khóa: Phân hóa
thành nhiều đới và nhiều kiểu khí hậu khác nhau.
-Hay với câu hỏi : “Vì sao Khí hậu Châu Á có đặc điểm như vậy?”. HS có thể
điền tiếp vào các từ khóa như: Do vị trí địa lí, do kích thước lãnh thổ, do địa
hình. Đó chính là từ khóa cấp 2. Cứ như vậy, sơ đồ tư duy sẽ được bổ sung hoàn
chỉnh dần dần như hình sau:
Phân thành nhiều đới
Phân hóa rất đa dạng
Phân thành nhiều kiểu
Đặc điểm
Khí hậu Châu á
Gió mùa
Phổ biến là các khí hậu
- Với câu hỏi nêu giá trị kinh tế sông ngòi Việt Nam HS có thể điền tiếp vào các
từ khóa: Giá trị kinh tế : Cung cấp nước cho đời sống sản xuất; bồi đắp phù
sa cho các đồng bằng; du lịch; giao thông vận tải đó chính là từ khóa cấp 2.
7
- GV sử dụng câu hỏi: Nêu nguyên nhân làm cho sông ngòi Việt Nam bị ô
nhiễm. HS có thể điền tiếp từ khóa: Nguyên nhân : do nước thải, rác thải của
các nhà máy công nghiệp của các khu dân cư chưa sử lý; do mất rừng; khai
thác hải sản bằng các phương tiện có tính hủy diệt; do lượng phân bón hóa
học và thuốc trừ sâu quá dư thừa trên đồng ruộng.
-GV sử dụng câu hỏi: Nêu biện pháp hạn chế sự ô nhiễm của sông ngòi? HS
điền tiếp từ khóa: Biện pháp và HS lần lượt trình bày các biện pháp: xử lý nước
thải bảo vệ rừng; nghiêm cấp các phương tiện đánh bắt có tính hủy diệt;
hạn chế sử dụng phận bón và thuốc trừ sâu.
Mạng lưới: Dày đặc.
Đặc điểm Hướng chảy: TB- ĐN và vòng cung.
Chế độ nước: Theo mùa.
Hàm lượng phù sa: Lớn.
Do khí hậu
Do địa hình có hai hướng chính.
Sông ngòi V.Nam
Nguyên nhân Do có chế độ mưa theo mùa
Các h.thống sông có d. tích lưu vực lớn.
Cung cấp nước cho đ.sống và sản xuất.
Giá trị
+ Hướng dẫn HS sử dụng sơ đồ tư duy củng cố bài 24 tiết 25: Vùng biển Việt
Nam (Địa lí lớp 8).
Diện tích giới hạn
Chế độ gió
9
Khí hậu Chế độ nhiêt
Đặc điểm
Chế độ mưa
Biển Việt Nam
Dòng biển
Hải văn Chế độ triều
Độ muối
Tài nguyên biển
Môi trường biển
Hoạt động dạy và học sẽ được thực hiện như sau :
- GV giao nhiệm vụ cho HS (có thể chia nhóm hoặc cá nhân): Dùng các cụm từ
ngắn gọn để điền các thông tin còn thiếu và vẽ thêm hình ảnh liên tưởng cho sơ
đồ tư duy, sau đó trình bày trước cả lớp nội dung của sơ đồ tư duy .
- Trong quá trình HS trình bày, GV có thể yêu cầu HS giải thích ý nghĩa của các
hình vẽ liên tưởng để các HS khác có thể học tập cách sử dụng hình ảnh của bạn
trong một không khí học tập vui vẻ, củng cố sự tự tin và nâng cao hiệu quả vẽ sơ
đề sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy đã được áp dụng rộng rãi trong tổ .
Cụ thể: Học kì I năm học 2017-2018 khối 8 trường THCS Minh Lộc gồm
có 5 lớp, lớp 8, 8B, 8C tôi áp dụng đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng
tích cực - Đó là sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy môn địa lí .Còn lớp 8D,
8E tôi giảng dạy theo phương pháp truyền thống. Kết quả sau khi dạy tiết 2.Bài
2: Khí hậu Châu Á như sau:
Lớp
8A
8B
8C
8D
8E
Chất lượng
TB
Sĩ
số
SL
%
SL
%
SL
19
10
8
47,4
47,2
47,5
27
21,6
2
3
7
15
13
5,3
8,3
17,5
40,5
35,1
0
0
0
5
10
0
0
III. KÊT LUẬN.
1.Kết luận:
Sơ đồ tư duy có thể sử dụng trong các bài học, môn học và các cấp học,
với các mức độ và nội dung khác nhau. Để đảm bảo sơ đồ tư duy phát huy được
tác dụng giúp cho học sinh phát triển tư duy, ghi nhớ kiến thức một cách cụ thể,
chính xác theo cấu trúc trật tự logic của vấn đề/ nội dung/chủ đề, giáo viên phải
chuẩn bị nội dung câu hỏi khơi gợi để học sinh động não phát triển bổ sung ý
kiến. Trong quá trình phát triển ý tưởng, các ý kiến của học sinh đều được tôn
trọng và ghi nhận, sau đó giáo viên gợi ý để học sinh tự sắp xếp, điều chỉnh hoàn
thiện sơ đồ. Như vậy giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, học sinh là chủ
thể của hoạt động , tìm kiếm và phát hiện kiến thức mới trên cơ sở kiến thức và
kinh nghiệm đã có của mỗi học sinh. Giáo viên không nên xây dựng sơ đồ rồi
giảng giải để học sinh công nhận, điều này mang tính hình thức, áp đặt không
hiệu quả. Vấn đề cốt lõi ở kỹ thuật này là giáo viên chỉ nêu chủ đề / nội dung
chính rồi tổ chức để học sinh tìm kiếm. Phát hiện các kiến thức, nội dung vấn đề
liên quan, người học thực sự là chủ thể hoạt động.
Qua việc vận dụng phương pháp ở trường THCS Minh Lộc tôi nhận thấy
chất lượng học sinh được nâng cao mặc dù lớp học số lượng học sinh đông. Học
sinh chủ động tìm tòi kiến thức, có nhiều sáng tạo trong học tập. Các em tiếp thu
kiến thức bằng chính năng lực học tập của bản thân, rèn cho học sinh kỹ năng tư
duy lôgic, khắc sâu kiến thức học sinh lĩnh hội được.Qua đó bồi dưỡng cho học
sinh lòng say mê và yêu thích môn học đị lí.
Có sự chuẩn bị kỹ của giáo viên, học sinh giờ học nhẹ nhàng thoải mái,
tránh những thao tác đơn giản.
Giáo viên có điều kiện kiểm tra, sửa chữa kịp thời những sai sót đối tượng
học sinh.
Hoàn thành nội dung kiến thức nhiều không thiếu thời gian, chỉ trong
12