Mục lục
1. MỞ ĐẦU2
1.1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................2
1.2. Mục đích nghiên cứu........................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
4
2.1. Cơ sở lí luận của của sáng kiến........................................................................4
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm..........................5
2.3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện..................................................................6
2.3.1. Các giải pháp.............................................................................................6
2.3.2. Biện pháp tổ chức thực hiện:.....................................................................9
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường...........................................................................16
3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 19
3. 1. Kết luận.........................................................................................................19
3.2. Kiến nghị và đề xuất......................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
DANH MỤC.........................................................................................................22
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Nhìn vào đề thi THPT Quốc gia năm 2017, các bạn học sinh lớp 12 có thể
nhận thấy đề thi ôm trọn kiến thức lớp 12, vì vậy, việc học tủ, học lệch hay vô tình
bỏ qua một phần kiến thức nào cũng có thể phải tiếc nuối khi ra khỏi phòng thi. Để
tránh tình trạng học tủ, học lệch, bắt đầu từ năm 2018, đề thi THPT Quốc gia sẽ bao
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này tôi nghiên cứu ở một số bài học địa lí 11 chương trình sách giáo
khoa ban cơ bản và giới hạn trong việc tạo kĩ năng xây dựng và sử dụng sơ đồ cho
học sinh lớp 12 để ôn tập kiến thức chuẩn bị cho kì thi THPT QG
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu nội dung này, tôi sử dụng một số phương pháp sau đây:
- Phương pháp thử nghiệm
- Phương pháp quan sát: qua các tiết dự giờ thao giảng
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp khảo sát, thống kê.
3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của của sáng kiến
Năm học 2017-2018 là năm tiếp tục đổi mới về phương pháp giảng dạy và
học tập của giáo viên và học sinh. Năm nay, nội dung kiến thức rộng hơn, sâu hơn,
mang tính chất bao quát, do đó đòi hỏi giáo viên và học sinh cần có phương pháp
phù hợp để đạt kết quả cao trong kỳ thi năm 2018 sắp tới. Theo cấu trúc đề tham
khảo mà Bộ giáo dục vừa công bố vào hồi cuối tháng 1/2018 thì chương trình Địa lí
11 chiếm tới 15 – 20% cấu trúc đề thi, bao gồm cả phần lý thuyết, kỹ năng biểu đồ,
bảng số liệu.
Trong khi đó nội dung kiến thức của chương trình Địa lí lớp 11 tương đối
rộng và được chia thành hai phần cơ bản:
- Phần A. Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới.
- Phần B. Địa lí khu vực và quốc gia
nhớ, hiển thị sự liên tưởng giữa các ý tưởng một cách rất rõ ràng; SĐTD còn cho
phép học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng những màu sắc,
kích cỡ, hình ảnh đa dạng. SĐTD giúp học sinh tạo ra được một bức tranh mang
tính lí luận, liên kết chặt chẽ về những gì các em đã học được.
Việc vận dụng SĐTD trong dạy học nhất là trong các tiết ôn tập, giáo viên sẽ
giúp học sinh tự tay ghi chép hay tổng kết một vấn đề, một chủ đề đã học theo cách
hiểu của học sinh với dạng sơ đồ tư duy.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
* Về phía giáo viên:
Hiện nay, nhiều giáo viên (Gv) đã và đang tích cực thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học, sử dụng các phương pháp dạy học mới như hoạt động nhóm,
kỹ thuật bể cá, kỹ thuật khăn trải bàn, KWL…. nhằm tạo hứng thú học tập cho hs.
Nhiều Gv cũng đã ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học bằng cách
sử dụng các video, các hình ảnh trực quan sinh động làm cho hs thấy thích thú với
tiết học hơn. Tuy nhiên nhiều gv chưa khéo léo khi sử dụng giải pháp này dẫn đến
tình trạng lạm dụng các thiết bị dạy học, biến tiết học trở thành những giờ “xem
phim” không mang lại hiệu quả giáo dục.
Vẫn còn nhiều gv chưa có sự chuẩn bị tốt nhất cho bài giảng khi lên lớp.
Giáo án còn thiên về cung cấp kiến thức giáo khoa một cách thuần túy, chưa coi
trọng việc soạn và sử dụng bài giảng theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức
của hs; chưa phân loại các đối tượng học sinh trong từng lớp rõ ràng. Việc truyền
thụ kiến thức của giáo viên nhiều khi còn thiên về một chiều, thậm chí vẫn còn tình
trạng đọc – chép, nhìn – chép. Nhất là ở nhiều tiết ôn tập vẫn còn mang tính chất
như là tiết bài tập hoặc giáo viên đưa các câu hỏi trắc nghiệm trong phần đó,
chương đó để học sinh làm và tự nhớ lại kiến thức. Vì vậy, không kích thích được
năng lực tự lực, tự sáng tạo của hs, làm cho hs thụ động trong việc lĩnh hội kiến
thức.
Vậy, vấn đề đặt ra là giáo viên cần phải cung cấp cho học sinh một phương
pháp phù hợp để học sinh tự học, tự hệ thống kiến thức, đặc biệt là phần kiến thức
một cách phản khoa học gây căng thẳng dẫn đến chán ghét môn học. Kể cả các em
lập đề cương ôn tập thì cũng không rút gọn được bao nhiêu, việc ghi nhớ máy móc
sẽ khiến học sinh học vẹt, không hiểu bản chất vấn đề và kết quả thường không
cao.
Môn Địa Lí là môn học có khối lượng kiến thức cần HS ghi nhớ rất nhiều,
cần có kĩ năng khai thác cả kênh hình và kênh chữ do vậy để hình thành cho các em
tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách
tổng thể, khoa học chứ không phải là học vẹt, học thuộc lòng, HS hiểu bài, nhớ lâu,
vận dụng tốt thì cần phải vận dụng BĐTD trong dạy hoc.
Vì vậy việc sử dụng SĐTD để học sinh lớp 12 ôn tập lại phần kiến thức Địa
Lí 11 sẽ giúp các em sáng tạo hơn, tiết kiệm thời gian, ghi nhớ tốt hơn. Khi lập
một bản đồ kiến thức, ngoài việc nhớ và hiểu kiến thức còn giúp học sinh nắm kiến
thức sâu, kĩ hơn, giúp các em ôn tập tốt hơn phần kiến thức Địa Lí lớp 11 để trong
quá trình làm bài thi không để bị mất điểm phần nào cả.
2.3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1. Các giải pháp
Chương trình Địa lí lớp 11 đã được các em học cách đây 1 năm nên việc các
em nhớ kĩ, nhớ lâu nội dung bài học là rất khó, nhất là đối với những học sinh có
học yếu hoặc chỉ lựa chọn tổ hợp khoa học xã hội là môn thi tốt nghiệp. Thông
thường, khi ôn thi tốt nghiệp các giáo viên thường tự nhắc lại kiến thức cũ và cho
các em các câu hỏi trắc nghiệm để ôn tập. Làm như vậy không giúp học sinh khắc
sâu kiến thức mà còn làm cho lớp học trở nên nhàm chán.
Với thế mạnh của sơ đồ tư duy là kiến thức được hệ thống hóa dưới dạng sơ
đồ, các đường nối, là sự diễn tả mạch lôgic kiến thức hoặc các mối quan hệ nhân
quả hay quan hệ tương đương, cộng thêm màu sắc của các đường nối, màu sắc của
6
các đơn vị kiến thức. Sơ đồ tư duy sẽ giúp học sinh nhìn thấy “bức tranh tổng thể”
cả phần kiến thức đã học.
thức của chủ đề, cách trình bày, cấu trúc của sơ đồ tư duy….
7
Ví dụ: khi ôn tập về một số vấn đề của châu lục và khu vực, tôi chia lớp thành 3
nhóm và yêu cầu về chuẩn bị chủ đề đã được chia:
Nhóm 1: chủ đề Châu Phi
Nhóm 2: chủ đề Mĩ La tinh
Nhóm 3: chủ đề Tây Nam Á và Trung Á
Hoặc có thể cùng một chủ đề nhưng các nhóm hoàn thành các nhánh khác nhau để
hoàn chỉnh bức tranh kiến thức.
Ví dụ: Khi ôn tập về kinh tế của Nhật Bản, tôi đưa ra từ khóa và yêu cầu mỗi
nhóm sẽ thảo luận về mỗi nhánh và hoàn thành chủ đề chính:
Với cách lập sơ đồ tư duy như trên, chắc chắn giờ ôn tập, củng cố kiến thức sẽ
mang lại hiệu quả cao.
Sơ đồ tư duy đặc biệt chú trọng về màu sắc, hình ảnh với từ ngữ ngắn gọn
thể hiện qua các nhánh của bài ôn tập. Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng cả bài
đọc chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được nội dung trọng
tâm của từng bài học. Ngoài ra, giáo viên có thể hướng dẫn các em tự lập sơ đồ tư
duy ở nhà để ôn tập, tự khắc sâu kiến thức cho bản thân.
Để các em không bị bỡ ngỡ khi tiến hành lập SĐTD cho hoạt động nhóm,
ngay từ khi các em vào học lớp 10 tôi đã sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học.
Sơ đồ tư duy có thể được sử dụng để kiểm tra bài cũ hoặc khi xây dựng bài học
mới hoặc trong việc củng cố kiến thức bài học. Ngoài ra, SĐTD là công cụ hữu
hiệu để hổ trợ cho tiết tổng kết, ôn tập kiến thức.
2.3.2. Biện pháp tổ chức thực hiện:
a. Vẽ sơ đồ tư duy theo đề cương
8
Ở phần thứ 2 bao gồm 7 bài về 7 quốc gia và khu vực khác nhau trên thế
giới, ở mỗi bài lại chia thành các tiết về tự nhiên, dân cư, kinh tế. Vì vậy, có thể
thành lập ở mỗi quốc gia hay khu vực thành một sơ đồ tư duy.
Để học sinh nắm chắc được kiến thức thì sơ đồ tư duy phải lưu lại được những ý
chính, đồng thời phải thể hiện đầy đủ tất cả các chi tiết hỗ trợ quan trọng khác.
Trong phần B của chương trình Địa Lí 11 về địa lí khu vực và quốc gia, mỗi
quốc gia được học trong một bài và phân thành nhiều tiết với các nội dung khác
nhau. Vì vậy khi ôn tập, ngoài việc giáo viên cho học sinh ôn các chủ đề tương
đương với các bài của chương trình thì có thể lập các SĐTD tương ứng với mỗi tiết
Ví dụ 3: Để ôn tập phần tự nhiên, dân cư và xã hội của Liên bang Nga, giáo viên
có thể hướng dẫn học sinh lập SĐTD như sau:
13
Hình 3. Sơ đồ tư duy chủ đề Tự nhiên, dân cư và xã hội Liên Bang Nga
14
c. Sơ đồ tư duy theo từng mục
Sơ đồ tư duy không chỉ giúp học sinh có thể khái quát toàn bộ chương trình
mà còn giúp các em nhớ lâu, nắm vững kiến thức bằng cách xây dựng theo từng
mục của bài.
Ví dụ 4. giáo viên hướng dẫn học sinh lập SĐTD về phần kiến thức Toàn cầu hóa
để nắm được từng đặc điểm của xu hướng toàn cầu hóa
Hình 4. SĐTD chủ đề Toàn cầu hóa
Ví dụ 5. giáo viên hướng dẫn học sinh lập SĐTD về Dân cư và xã hội của khu vực
học sinh dễ dàng tiếp thu bài học và ghi nhớ kiến thức được lâu hơn, tiết kiệm được
nhiều thời gian ôn tập góp phần nâng cao chất lượng môn học.
Từ việc trình bày kiến thức đến hệ thống kiến thức hoặc trong các giờ ôn tập,
học sinh đều háo hức chờ đón những lời nhận xét về Bản đồ tư duy mà mình đã lập.
Từ một bộ môn nhiều kiến thức, nhiều nội dung, học sinh đã bớt áp lực vì phải học
16
thuộc bài. Qua những ngôn ngữ và hình ảnh trên bản đồ đã sử dụng sẽ giúp học
sinh hiểu bài hơn, nhớ lâu hơn, rèn luyện khả năng khái quát và tổng hợp vấn đề.
Kết quả thu được cho thấy có sự chuyển biến rất rõ khi áp dụng phương pháp
này qua hai bài thi thử do trường tôi tổ chức trong năm học này:
Lớp
Sĩ số
Bài thi số 1
Bài thi số 2
(1/2018)
(5/2018)
5
5
12A1
40
18
22
11
29
Tuy có nhiều ưu điểm nhưng không phải bài học nào cũng có thể sử dụng sơ
đồ tư duy, cũng không phải sử dụng cho mọi giờ học. Giáo viên cần lựa chọn sử
dụng cho đúng cách, đúng lúc, phù hợp với trình độ của học sinh và quan trọng
nhất là truyền tải được nội dung bài học. Đối với mức độ nhận thức của học sinh
đưa ra các yêu cầu vừa phải, với học sinh yếu kém trước tiên cho học sinh làm quen
với những sơ đồ có sẵn, sau đó hướng dẫn vẽ các kiến thức trọng tâm của bài trên
một trang giấy rời, sau đó mới kẹp tạo thành một tập, việc học kiến thức của bài
17
nào thì học sinh chỉ cần rút tờ kiến thức đó ra, cách làm này giúp cho học sinh suy
nghĩ mạch lạc logic, học hiểu chứ không phải học vẹt. Còn đối với học sinh khá
giỏi giáo viên hướng học sinh tới việc hệ thống hóa kiến thức. Đồng thời ở mỗi sơ
đồ được lập cần xây dựng hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm để học sinh ôn tập,
củng cố kiến thức.
Hiệu quả phương pháp nghiên cứu này này còn có thể chia sẻ với giáo viên cùng
chuyên môn, giáo viên cùng phân môn khoa học xã hội để áp dụng cho môn học
của mình nhằm giúp học sinh đạt kết quả học tập cao hơn.
18
3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
3. 1. Kết luận
Thông qua việc đánh giá rút kinh nghiệm dự giờ của các đồng chí trong tổ bộ
môn chúng tôi đều cảm nhận thấy rõ rằng tiết học có sử dụng SĐTD mang lại hiệu
quả cao hơn, học sinh không còn nhàm chán mà phát huy được khả năng tư duy
logic, liên hệ, liên tưởng, sáng tạo. Bản đồ tư duy có thể được sử dụng trong việc soạn
giảng bài mới, hệ thống kiến thức hoặc các tiết ôn tập. Khi sử dụng Bản đồ tư duy trong giảng
dạy và hệ thống hóa kiến thức, tôi nhận thấy học sinh hứng thú, tích cực hơn so với các phương
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, Ngày 20 tháng 05 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của
người khác
Người viết sáng kiến
Lê Thị Hậu
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Địa lí 11 - Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
2. Sách giáo viên Địa lí 11 - Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
3. Giáo trình phương pháp giảng dạy Địa lí ở trường phổ thông - Nguyễn Đức Vũ.
4. Bản đồ tư duy - Tonibuzan – Nhà xuất bản văn hóa thông tin.
5. Phần mềm Bản đồ tư duy iMindMap 9.1.
6. Hướng dẫn sử dụng phần mềm sơ đồ tư duy (xem phim minh họa)
7. Mạng INTERET.
8. Chuẩn kiến thức, kĩ năng Địa Lí 11 – NXB Giáo dục
9. Tôi tài giỏi, bạn cũng thế - Adam Khoo.
10. www. Sodotuduy.com.
11. Bản đồ tư duy – Đổi mới dạy học - Hoàng Đức Huy.
21
Vận dụng kiến thức thực tế vào SỞ GD&ĐT
một số bài dạy Địa lí 11 (phần
Địa lí khu vực và quốc gia)
nhằm nâng cao hứng thú học
tập cho học sinh
C
2015 - 2016
3.
Vận dụng kiến thức mới, liên SỞ GD&ĐT
hệ thực tiễn vào một số bài dạy
phần Địa lí Kinh tế - xã hội
(Địa Lí 10), nhằm nâng cao
hiểu biết, tạo hứng thú học tập
cho học sinh.
C
2016 - 2017
----------------------------------------------------
22
23