Cảm hứng xê dịch trong văn học việt nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 1945) - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH



------

-------

LÊ VIỆT ĐOÀN

CẢM HỨNG XÊ DỊCH TRONG VĂN HỌC
VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (1900 - 1945)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Nghệ An, 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH



------

-------

LÊ VIỆT ĐOÀN

CẢM HỨNG XÊ DỊCH TRONG VĂN HỌC

6. Cấu trúc luận án.........................................................................................................4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI..............................................................................................5
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.............................................................................5
1.1.1. Nhìn chung về nghiên cứu v n học Việt Nam nửa đ u thế k
XX 1900 –
1945) từ một số góc nhìn và phương diện cơ bản..........................................................5
1.1.2. Về tìm hiểu, nghiên cứu cảm hứng xê d ch trong v n học Việt Nam nửa
đ u thế k XX 1900 – 1945)....................................................................................... 13
1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài...................................................................................... 23
1.2.1. Lý thuyết về nghiên cứu cảm hứng và cảm hứng xê d ch trong sáng tạo v n
học............................................................................................................................... 23
1.2.2. Một số lý thuyết nghiên cứu phê bình v n học được vận dụng cho việc
thực hiện đề tài............................................................................................................ 26
1.2.3. Về khái niệm “xê d ch” và cảm hứng “xê d ch” trong sáng tạo v n học.............26
Tiểu kết chƣơng 1...................................................................................................... 29
Chƣơng 2. NHỮNG TIỀN ĐỀ VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA CẢM HỨNG
XÊ DỊCH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 1900 – 1945........................................ 31
2.1. Những tiền đề khách quan.................................................................................... 31
2.1.1. Bối cảnh l ch sử, xã hội, v n hóa Việt Nam khi bước vào thế k
XX và
những yêu c u của thời đại đối với v n học dân tộc...................................................... 31
2.1.2. Những tiền đề từ ảnh hưởng của v n hóa, v n học phương Tây đến v n học
Việt Nam nửa đ u thế k XX 1900 – 1945)................................................................ 32
2.2. Những tiền đề chủ quan của bản thân v n học dân tộc.......................................... 42
2.2.1. Những tiền đề từ v n học truyền thống............................................................... 42
2.2.2. Nội lực, khả n ng của bản thân v n học dân tộc trước yêu c u tất yếu, bức
thiết phải đổi mới, hiện đại hóa.................................................................................... 45
2.2.3. Khát vọng giải phóng, đổi mới của lớp nhà v n chuyên nghiệp trong buổi
bình minh thời hiện đại................................................................................................ 46

Tiểu kết chƣơng 3....................................................................................................102
Chƣơng 4. PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN CẢM HỨNG XÊ DỊCH TRONG
VĂN HỌC VIỆT NAM 1900 – 1945.......................................................................103
4.1. Sự lựa chọn thể loại............................................................................................103
4.1.1. Linh hoạt, uyển chuyển trong vận dụng các thể thơ nhằm thể hiện cảm
hứng xê d ch..............................................................................................................103
4.1.2. N ng động, sáng tạo trong vận dụng các thể v n xuôi tự sự nhằm thể hiện
cảm hứng xê d ch.......................................................................................................105
4.2. Sự lựa chọn bút pháp..........................................................................................114
4.2.1. Bút pháp lãng mạn với việc thể hiện cảm hứng xê d ch trong học Việt Nam
nửa đ u thế k XX 1900 – 1945)..............................................................................114
4.2.2. Sự kết hợp bút pháp lãng mạn và bút pháp hiện thực trong việc thể hiện
cảm hứng xê d ch của v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX 1900 – 1945).............117
4.3. Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ.......................................................119
4.3.1. Nghệ thuật tổ chức giọng điệu trong thể hiện cảm hứng xê d ch.....................119
4.3.2. Ngôn ngữ và nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ trong thể hiện cảm hứng xê d ch
của v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX 1900 – 1945)..........................................125
4.3.3. Một số biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu............................................................132
Tiểu kết chƣơng 4....................................................................................................146
KẾT LUẬN..............................................................................................................148
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................151
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN.................163


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Bước vào những n m đ u thế k XX, xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn.
Ảnh hưởng và tác động nhiều mặt (về kinh tế, chính tr , tư tưởng, v n hóa, v n học,...)
từ phương Tây đã tạo cơ sở cho quá trình hiện đại hóa v n học Việt Nam đi theo xu thế

trọng đặc biệt giúp nhà v n hướng đến những chân trời mới của sáng tạo v n học, nghệ
thuật, giúp nhà v n có cơ hội đến với v n học hiện đại Âu – Tây thế giới.
1.3. Sự xuất hiện cảm hứng xê d ch trong v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX
(1900 – 1945) thể hiện trong sáng tác của nhiều tác giả thuộc nhiều khuynh hướng
nghệ thuật khác nhau, đặc biệt là ở khuynh hướng lãng mạn (với hai đại biểu xuất sắc
hàng đ u: Tản Đà và Nguyễn Tuân) cho thấy đây là vấn đề có tính quy luật sâu sắc.
Cảm hứng xê d ch với nhiều nội dung mới mẻ (xê d ch nhằm thoát khỏi cái tù túng,
ràng buộc vô lý; xê d ch nhằm thoát ly thực tại đen tối, bế tắc; xê d ch nhằm giải phóng
cái tôi b c m tù bấy lâu; xê d ch để thay đổi, tìm cái mới, cái khác lạ; xê d ch vì


2
khát vọng tự do; xê d ch thậm chí vô mục đích, xê d ch chỉ... để xê d ch, v.v...) hiện
đang là vấn đề lớn với nhiều câu hỏi chưa có lời giải: Đâu là những cơ sở, tiền đề cho
nó? Đâu là những nội dung có ý nghĩa xã hội – thẩm mỹ sâu sắc của nó? Đâu là những
thế giới nghệ thuật sinh động, độc đáo được tạo nên nhờ cảm hứng xê d ch và phương
thức, cách thức tạo nên nó?...
Cho đến nay, cảm hứng xê d ch trong v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX (1900 –
1945) chỉ mới được tìm hiểu qua sáng tác của một vài tác giả/ nhà v n, và số lượng bài
viết, công trình còn quá mỏng. Điều đó có nghĩa là cảm hứng này mới chỉ được “nhìn
ngắm”, nghiền ngẫm ở phương diện sáng tạo mang dấu ấn cá tính của một vài nghệ sĩ.
Những đúc kết, khái quát mang tính khoa học về cảm hứng xê d ch trong cả một thời
kỳ v n học vẫn còn nằm trong tình trạng b bỏ ngỏ, chưa được đào sâu đúng mức như
chính trữ lượng mà nó dung chứa. Rất c n thiết phải có những công trình nghiên cứu
chuyên sâu về nó nhằm không chỉ lấp đ y khoảng trống còn bỏ ngỏ trong nghiên cứu
về cảm hứng sáng tạo của v n học một thời kỳ đặc biệt, mà còn từ đây, rút ra, đề xuất
những vấn đề có tính lý luận, có ý nghĩa phương pháp luận.
1.4. V n học Việt Nam nửa đ u thế k XX (1900 – 1945) có vai trò, v trí quan
trọng không chỉ trong l ch sử v n học dân tộc mà còn trong cả chương trình ngữ v n ở
các nhà trường từ phổ thông đến đại học. Nghiên cứu cảm hứng xê d ch trong v n học



3
V n học, Hà Nội, 2000.
- V n uô lãn mạn Vi t Nam 1930 – 1945 (Nguyễn Hoành Khung và nhiều tác giả

khác biên soạn), 8 tập, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989.
- V n hươn Tự lự v n oàn (Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ tuyển chọn và giới
thiệu), 3 tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001.
- Thơ mới 1932 – 1945 tác giả và tác phẩm (Lại Nguyên Ân tập hợp, biên tập),
Nxb Hội Nhà v n, Hà Nội, 2006.
...
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát, phân tích, luận giải
ảm h n
h tron v n h
V t
mn
u th
(1900 – 1945) trên cả hai phương diện nội dung và
phương thức thể hiện, luận án nhằm xác đ nh đặc điểm, vai trò của mạch cảm hứng
này đối với l ch sử v n học dân tộc trên con đường đi đến hiện đại, giao lưu, hội nhập
với v n học thế giới; từ đây đề xuất một số vấn đề về nghiên cứu cảm hứng xê d ch
trong v n học Việt Nam hiện đại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Trên cơ sở nhận diện, bao quát mạch ảm h n
h tron v n h V t
mn
u th

4.5. hươn ph p ấu tr – h th n : Phương pháp này giúp cho việc nhìn nhận cảm
hứng xê d ch trong v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX (1900 – 1945) trong một hệ
thống chỉnh thể với những quy luật thành tạo của nó...
5. Đóng góp của luận án
Luận án là công trình tìm hiểu, nghiên cứu Cảm h ng xê d h tron v n h
V t
mn
u th
(1900 – 1945), với một cái nhìn tập trung, hệ thống.
Luận án là một sự nỗ lực bao quát, xác đ nh, tổng quan vấn đề nghiên cứu và xác
lập cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu cảm hứng xê d ch trong v n học Việt Nam nửa
đ u thế k XX 1900 – 1945).
Luận án góp ph n không chỉ tạo dựng, phác thảo bức tranh v n học Việt Nam hiện
đại nửa đ u thế k XX (1900 – 1945) xoay quanh cảm hứng xê d ch, mà còn đi
sâu khám phá đặc sắc của một thời kỳ v n học dân tộc khi được viết theo cảm hứng xê
d ch – một dòng mạch cảm hứng mới mẻ, độc đáo nhưng từng đã b nhìn nhận, đánh
giá không đúng mức, thiếu tính khoa học.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và vận dụng vào việc dạy học ở nhà trường về v n học Việt Nam hiện đại
nói chung, cũng như một số tác giả có tác phẩm liên quan đến đề tài xê d ch được chọn
giảng dạy trong nhà trường như Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thơ mới 1932 – 1945,...
6. Cấu trúc luận án
Ngoài
triển khai trong 4 chương:
hươn
hươn
Việt Nam nửa đ u thế k
hươn
Nam (1900 – 1945).
hươn

oạn giao thời 1900 1930 của Tr n Đình Hượu - Lê Chí Dũng [74]; V n h c Vi t Nam 1930 – 1945 của
Nguyễn Hoành Khung; V n h c Vi t Nam 1900 – 1945 (nhiều tác giả) [27]; L ch s
v n h c Vi t Nam 1930 – 1945 của Nguyễn Đ ng Mạnh [105]; V n h c Vi t Nam
hi n ại (từ đ u thế k XX đến 1945) dành cho sinh viên hệ Cao đẳng Sư phạm của
các tác giả Tr n Đ ng Suyền, Nguyễn V n Long, Lê Quang Hưng, Tr nh Thu Tiết
[139]; v.v...
Các công trình mang tính chuyên luận, chuyên khảo, có thể kể đến: hà v n V t
Nam hi n ại của Vũ Ngọc Phan [128]. Có thể xem đây như một bộ sách đồ sộ mang
tính tổng kết về v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX. Bao quát cả cả một thời kỳ v n
học (1900 – 1945), cũng có thể kể đến: V n h c Vi t Nam th k XX - Những vấn ề l ch s
và lý luận (Phan Cự Đệ chủ biên) [30]; V n h c Vi t Nam th k XX (Phan Cự
Đệ chủ biên) [29]; Quá trình hi n ạ ho v n h c Vi t Nam 1900 - 1945 (Mã Giang Lân
chủ biên) [87]; V n h c Vi t Nam hi n ại - Nhận th c và thẩm nh của Vũ
Tuấn Anh [3], v.v...
Xuất phát từ nhiều góc nhìn, mục đích nghiên cứu khác nhau, nhưng nhìn chung,
về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao thành tựu và đều thống nhất trong khái
quát các đặc điểm chính của v n học giai đoạn này: V n học được hiện đại hóa; V n học
phát triển với nh p độ khẩn trương, mau lẹ; V n học phân hóa thành nhiều xu hướng
nghệ thuật khác nhau...
Về việc phân chia giai đoạn, h u hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất chia v n
học 1900 – 1945 thành hai giai đoạn: 1900 – 1930 và 1930 – 1945. Giai đoạn thứ nhất
(1900 – 1930), Tr n Đình Hượu gọi là oạn giao thời. Theo ông, tính chất giao
thời của v n học giai đoạn này thể hiện ở chỗ: còn tồn tại song song hai bộ phận v n


6
(một cũ của các nhà Nho và một mới của trí thức Tây học); hai quan niệm thẩm mỹ
(truyền thống theo kiểu Nho học và hiện đại theo kiểu Tây học); hai kiểu công chúng
đối tượng tiếp nhận riêng; hai đ a bàn ảnh hưởng riêng (thành th và nông thôn); hai
hình thức ngôn ngữ riêng… Biện Minh Điền trong Loạ hình v n h trun ại Vi t Nam,

hướn tư tư ng thẩm mỹ tron v n uô h n thực Vi t Nam n
u th k XX (1900
– 1945) (Nguyễn Đại Dương, Luận án TS, Viện V n học, 2009); v.v…
Chỉ với một cái nhìn lướt nhanh cũng có thể v n học Việt Nam nửa đ u thế k
AX (1900 – 1945) đã thu hút sự quan tâm của cả giới nghiên cứu trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, vẫn còn không ít những vấn mang tính quá trình, xuyên suốt cả một thời kỳ
hay từng giai đoạn v n học vẫn chưa được tìm hiểu, nghiên cứu hoặc quan tâm một
cách có hệ thống, toàn diện (chẳng hạn như vấn đề mà luận án này đặt ra)...
1.1.1.2. Về nghiên c u các hi n tư ng mang tính quy luật sâu sắc củ v n h c
Vi t Nam (1900 – 1945) ó l n qu n n vấn ề nghiên c u của luận án
Về các tác gia tiêu biểu của v n học Việt Nam từ đ u thế k XX đến 1945 càng có
nhiều công trình nghiên cứu mang tính chuyên biệt. Ở đây, chỉ xin điểm các công


7

trình nghiên cứu về những hiện tượng v n học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của
luận án.
Trước h t, c n nói đến Tản Đà - “người của hai thế k , người dạo những bản đàn
đ u tiên cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa” (Hoài Thanh). Nghiên cứu
về Tản Đà, có nhiều bài viết, công trình đáng chú ý. Có thể kể đến: Sự th
th n tà
Tản Đà Nguyễn
(Xuân Diệu, 1939), Thân th
1944), Tản Đàuyễn hắ
1958), Vi
t về Tản Đà (Huỳnh Phan
Việt, 2012)… Có những bài chủ yếu đi sâu khai thác một vài phương diện của sáng tác
Tản Đà như: Nhữn
(Nguyễn Xuân Huy, 1939), Tản Đà tr t h

thời Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1988), Tr n Đình Hượu đã tìm hiểu, phân
tích, luận giải sâu sắc nhiều vấn đề về Tản Đà: Nhà Nho tài t nhà v n huy n nghi p Nhà
Nho đem v n chương bán phố phường; Nhà Nho tài tử trong xã hội tư sản);


8
Cái Tôi và cuộ ời sòng bạc; Tình y u và l n
nh
n tron thơ Tản Đà (Những giấc
mơ yêu đương và quan niệm tình yêu của Tản Đà; Cảm thương số phận tài tử, giai nhân;
L ng kính phong tài ân ái; Lòn y u nước, tư tư ng cả lươn và v n hươn “v ờ ” ó “bón m
y hơ nướ n n ã” (Duy tân hợp pháp; Ái quốc bằng đạo đức và thơ nước
non; Rượu thơ với số phận trích tiên lạc lõng và “lại giống”; Tản Đà và v n h c Vi t
Nam trung – cận ại. Tr n Đình Hượu đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về Tản Đà và
sự nghiệp v n chương của ông. Cũng đã có một số luận án tìm hiểu, nghiên cứu về
phong cách, thi pháp thơ Tản Đà...
Th hai, trường hợp Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân là trường hợp có sự quan tâm
đặc biệt của giới nghiên cứu.
Có thể nói, người theo sát Nguyễn Tuân, am hiểu Nguyễn Tuân, viết nhiều và
viết sâu sắc về Nguyên tuân là Nguyễn Đ ng Mạnh. Phong cách, thi pháp, chân dung
Nguyễn Tuân, “chủ nghĩa xê d ch” ở Nguyễn Tuân được Nguyễn Đ ng mạnh khắc họa
qua nhiều công trình, như on ườn
vào th giới ngh thuật củ nhà v n [104],
hà v n V t Nam hi n ại chân dung và phong cách [106].
Phong cách ngh thuật Nguyễn Tuân của Hà V n Đức là một trong những luận
án đ u tiên đi sâu vào vấn đề phong cách Nguyễn Tuân, trong đó, tác giả đề cập và
đánh giá các khía cạnh đáng chú ý là: quan niệm thẩm mỹ (về cái đẹp) của Nguyễn
Tuân trước Cách mạng tháng Tám); nguyên nhân và biểu hiện của cảm hứng xê d ch
trong sáng tác Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám); đặc trưng phong cách ngôn
ngữ Nguyễn Tuân qua thể loại tùy bút – thể loại tập trung khá nhiều tác phẩm viết về

1992) [162]; Thơ mớ bình m nh thơ V t Nam hi n ại (Nguyễn Quốc Túy, Nxb V n học,
1994); K t cấu thơ trữ tình (nhìn từ ó ộ loại hình) (Luận án của Phan Huy
Dũng, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1999); Quan ni m ngh thuật trong tác phẩm
củ
nhà thơ thuộ phon trào Thơ mới 1932 – 1945 (Luận án của Nguyễn Th
Hồng Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân v n Tp. Hồ Chí Minh, 1999);
Thơ mới và sự ổi mới ngh thuật thơ tron thơ V t Nam hi n ại (Bùi Quang Tuyến,
Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, 2001); Gi n
một s
nhà thơ t u b ểu của phong trào Thơ mới) (Luận á
Viện V n học, 2001); Một thờ
Hà Nội, 2002); Về một cuộc cách mạng trong thi ca Đệ, Nxb Giáo dục, 2007);
Mặc T
Chu V n Sơn, Nxb Giáo dục, 2007); Những biểu h
tư n
trưn tron Thơ mới Vi t Nam 1932 – 1945 (Nguyễ
học Khoa học Xã hội và Nhân v n Tp. Hồ Chí Minh, 2004); Thơ mới 1932 - 1945 nhìn
từ sự vận ộng thể loại (Luận án của Hoàng Sỹ Nguyên, Viện V n học, 2007); Thơ tình
tron Thơ mới 1932 – 1945 (xét từ ặ trưn th ph p) (Luận án của Lê Th Hồ Quang, Viện
V n học, 2007); H th ng thể loại truyền th n tron Thơ mới 1932 – 1945 (Luận án của
Biện Th Quỳnh Nga, Viện Hàn lâm KHXH, Hà Nội, 2013); Ngôn từ ngh thuật Thơ
mới (Luận án của La Nguyệt Anh, Đại học Thái Nguyên, 2013); Loạ hình Thơ mới Vi t
Nam 1932 – 1945 (Nguyễn Thanh Tâm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015); v.v...
Về thế giới nghệ thuật thơ của từng nhà Thơ mới, có thể kể ra một số công trình
tiêu biểu như: Th giới ngh thuật thơ u n D u thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám
1945 (Luận án của Lê Quang Hưng, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1996) [71];
Lưu Tr n Lư tron phon trào Thơ mới 1932 – 1945 (Luận án của V n Th Minh Tư,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2012); Th
Nxb V n học, 2002); Th
2004); Nguyễn

Từ thời kỳ đổi mới 1986) đến nay, nhìn chung, giới nghiên cứu, phê bình v n
học đã có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về v n chương Tự lực v n đoàn trên cả
hai phương diện tư tưởng và nghệ thuật. N m 1988, Trường Đại học Tổng hợp tổ chức
Hội ngh chuyên đề đánh giá lại một số hiện tượng v n học trong quá khứ, trong đó có v
n chương Tự lực v n đoàn. Các công trình, bài viết tiêu biểu từ thời kỳ đổi
mới về sau, có thể kể đến: Tự lự v n
Đệ; Vấn ề
nh
thuy t Tự lự
vn
l ch s
qu
bước n
Đình Hượu; Tự lự
oàn của Nguyễn Trác – Đái Xuân Ninh; Một tr n v n h
lạ V n h c lãng mạn 1930 – 1945 của Đỗ Đức Dục; Tiểu thuy t Tự lự
Vũ Đức Phúc; Tự lự v n
Ngọc), Ý ki n củ
giá về Tự lự
Thơ mới và v n uô Tự lự
Giang chủ biên) [147]; Tự lự
tuyển chọn và biên soạn) [77]; Nhữn
một nền v n
Nghiên cứu về v n chương Tự lực v n đoàn ở từng trường hợp cụ thể, càng có
nhiều công trình, luận án, luận v n, bài viết. Có thể kể đến: Quan ni m ngh
on n ười trong tiểu thuy t Tự lự
oàn
Đạo (Lê Dục Tú) [176]. Ngh thuật miêu tả tâm lý
Tự lự
vn

Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan,...; nghiên cứu cảm hứng lãng mạn qua
sáng tác của các tác giả như Tản Đà, các tác giả Thơ mới, các tác giả Tự lực v n đoàn...
Chẳng hạn với trường hợp Tản Đà, Phạm Thế Ngũ nhấn mạnh bản chất của cảm
hứng lãng mạn trong thơ Tản Đà là “lãng mạn thoát ly”, ông viết: “Xét kỹ thì ta thấy ở
tình cảm Tản Đà một biệt thái này là cái khuynh hướng thoát ly. Nếu lãng mạn là cơn
khủng hoảng tinh th n thì quả tới đây người Việt Nam mình mới thật sự biết lãng mạn”
(dẫn theo Tr nh Bá Đĩnh) [26, 425]. Phạm V n Diêu ngoài chỉ ra chất mộng là đặc trưng
của thơ Tản Đà, còn chú ý đến cảm hứng lãng mạn của Tản Đà ở chất “s u: “Cái s u của
ông là cái s u muôn đời vạn kiếp, nhưng màu sắc của cái s u ấy rõ là một màu sắc hoàn
toàn lãng mạn. Ấy là một cái s u của nhà Nho thời tàn cuộc, gặp nhiều bất trắc éo le, của
những lớp th dân lưng chừng c u an và bất lực dưới chế độ Tây thuộc tham tàn trước đây”
[26, tr.410]. Hà Như Chi ngoài việc nhấn mạnh cảm hứng lãng mạn (mộng tưởng), còn
chú ý tính hiện thực trong sáng tác nhà v n: “Tản Đà... không quên thực tại” [58, tr.323];
Nguyễn Huệ Chi nhấn mạnh đến cảm hứng hiện thực và lãng mạn trong thơ v n Tản Đà,
Tản Đà đã “đề cập đến lòng thương dân, chí lo đời, tinh th n bất bình với xã hội
ô trọc, lên án tệ tham nhũng, đục khoét của quan lại, tố cáo sức mạnh tha hóa ghê gớm,
nhiều mặt của đồng tiên,…” [58, tr.608]; “Giấc mộng con I, Giấc mộng con II, Giấc mộng
lớn … là hình ảnh cụ thể của nhà thơ trên con đường đi đến một lối thoát cuối cùng: lãng
mạn – thoát ly. Rượu, thơ, tình yêu vơ vẩn, mộng và s u, và những chuyến du l ch vào
Nam ra Bắc…, đều là những nhân tố góp ph n hoàn chỉnh hơn xu hướng lãng mạn, thoát
ly – trong đó ít nhiều cũng có màu sắc của một thứ chủ nghĩa “ đại đồng” không tưởng –
phương diện đối lập, nhưng cũng chính là tiếp nối của xu hướng hiện thực nhập cuộc,
trong con người và thơ Tản Đà” [58, tr.610]. Trong bài viết Hữu – Vô tươn t tron th ph
p thơ Tản Đà (Tạp chí V n h c, số 3, 1989), T m Dương đã chỉ ra và phân tích 4 loại cảm
hứng chủ đạo trong thơ Tản Đà gồm: Cảm h ng l ch s , cảm h ng th sự, cảm h ng ờ tư
và cảm h n vũ trụ [58, tr.456]. Huỳnh Phan Anh chú ý đến cảm hứng hiện thực qua tính
tự truyện của thơ v n Tản Đà: “Thơ ông khởi đi từ đời sống của chính ông, khởi
đi để luôn trở về với nó. Thơ là tấm gương soi đời thi sĩ” [58, tr.369]; v.v...
Với trường hợp Nguyễn Tuân, h u hết các nhà nghiên cứu đều gặp nhau ở chỗ
phê phán cảm hứng lãng mạn thoát ly ở nhà v n. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra hai

Với v n xuôi Tự lực v n đoàn, cũng vậy, ngoài đề cao cảm hứng lãng mạn Vũ
Ngọc Phan, Bùi Xuân Bào, Đặng Tiến, Phan Cự Đệ, v.v...), các nhà nghiên cứu cũng
bàn đến cảm hứng hiện thực trong sáng tác của các tác giả tiêu biểu như Thạch Lam,
Nhất Linh, Khái Hưng,... Theo Nguyễn Đ ng Vy, “Với một cái nhìn nhân v n, khi miêu
tả nghèo, dù là nông dân hay dân thành th , Nhất Linh và Khái Hưng luôn bộc lộ tình
cảm đối với họ, cảm thông với sự nghèo khổ, lạc hậu, thiệt thòi của họ và bênh vực
họ” [147, tr.387]. Lê Dục Tú cũng đánh giá khá cao giá tr hiện thực của mảng truyện
viết về người bình dân của Khái Hưng [147, tr.405]...
Cảm hứng tôn giáo trong Thơ mới đặc biệt qua trường hợp Hàn Mặc Tử) và v n
xuôi Tự lực v n đoàn đặc biệt qua Hồn bướm mơ t n của Khái Hưng ướm trắng của
Nhất Linh) cũng là một vấn đề được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Chú ý
nhiều đến cảm hứng tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử, có thể kể đến Chu V n Sơn, Hồ
Thế Hà [147, tr.223], [147, tr.229],v.v... Chú ý nhiều đến cảm hứng tôn giáo trong sáng
tác của Tự lực v n đoàn, tiêu biểu là các tác giả Phan Cự Đệ [45, tr.470], Nguyễn
V n Trung [147, tr.432], Đỗ Minh Vọng [147, tr.438]), Lê Dục Tú [147, tr.404], v.v...
Cảm hứng l ch sử trong v n học thời kỳ 1900 – 1945 cũng được các nhà nghiên
cứu bàn đến (chủ yếu qua tìm hiểu, nghiên cứu qua các tác phẩm v n học lãng mạn.
Theo Hà Minh Đức, “Cảm hứng l ch sử ở các nhà Thơ mới được nuôi dưỡng bằng tình
yêu quê hương, đất nước. Các nhà thơ không tìm đến l ch sử để khai thác những
chuyện kỳ lạ, hoặc lấy l ch sử làm cái cớ để mà thêu dệt, tô điểm theo những tưởng
tượng chủ quan. Trở về với l ch sử là thoát ly thực tại, cách hiểu thông thường đó chưa
nói hết được tâm trạng của các nhà thơ trong phong trào Thơ mới. Trở về với l ch sử là


13
một thái độ với hiện tại; một phản ứng với những ước mơ không được thực hiện, một
tâm trạng xót xa trong liên tưởng so sánh” [151, tr.165]. Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu,
Trương Chính, Phan Cự Đệ đều nhấn mạnh cảm hứng l ch sử trong một số sáng tác
của Nguyễn Tuân, đặc biệt là ở tập truyện Vang bóng một thời,...
1.1.2. Về tìm hiểu, nghiên cứu cảm hứng xê dịch trong v n h c

rượu khác nhau ở chỗ thơ là một cố gắng của trí thức để nhảy vọt ra khỏi biên giới của
thực tại, còn rượu là một trạng thái thụ động của cơ thể...” [58, tr.362– 363].
Cũng bàn về cảm hứng xê d ch trong thơ Tản Đà nhưng Huỳnh Phan Anh đã có
cái nhìn mới khi đặt con người lãng tử - tài tử ở Tản Đà lên trên cả thảy những khía
cạnh còn lại của hồn thơ ấy: “Điều tôi muốn nói ở đây là những Tản Đà si tình, lãng
mạn, ưu thời mẫn thế,... chỉ là những cái bóng mờ dùng để che giấu, ngụy trang cho
một hình ảnh Tản Đà chân thật nhất, bàng bạc khắp nơi trong thơ ông. Nói khác đi,
một Tản Đà lãng mạn hay một Tản Đà được mệnh danh là thi sĩ của truyền thống dân
tộc hay bất cứ một Tản Đà nào khác, tất cả đều phải lu mờ trước một Tản Đà phiêu
bồng, tài tử: hình ảnh của một khách chơi trong ý nghĩa đ y đủ nhất của danh từ” [26,
tr.376]. Và trong cái thú chơi giang hồ đó, Huỳnh Phan Anh đặc biệt chú ý đến chất
“say” và “không say” của thi sĩ. Tác giả viết: “Tản Đà không say để mà say. Trái lại,


14
phải hiểu say ở đây như một cách tiếp tục, hoàn tất ý nghĩa cuộc đời, tức là ý nghĩa của
một cuộc chơi. Tôi không thấy sự khác biệt giữa một Tản Đà say và một Tản Đà tỉnh.
Điều này không có nghĩa là Tản Đà say cả trong lúc tỉnh, dù trong cơn say, Tản Đà
luôn thể hiện một tâm hồn, một tác phong thu n nhất, nghĩa là luôn luôn chi có một
Tản Đà, hình ảnh một con người ngất ngưởng rong chơi trời đất, trong cuộc đời và
ngay cả trong thơ của mình” [58, tr.377]. Thú chơi giang hồ là cốt lõi trong thơ Tản
Đà, cho nên không có một hình thức ngôn ngữ nào nổi trội hơn “ngôn ngữ rong chơi,
đó là hồn thơ Tản Đà” [58, tr.377].
Bàn về phương diện nghệ thuật của cảm hứng xê d ch trong thơ Tản Đà, Nguyễn
Phương Hà có bài viết “Hình ảnh con đường trong thơ Tản Đà” [63]. Nội dung bài viết
đã làm rõ các khía cạnh có liên quan đến hình ảnh nghệ thuật – con đường trong thơ ca
thuộc đề tài xê d ch của thi sĩ ở các yếu tố: nguồn gốc, biểu hiện. Về nguồn gốc, tác giả
cho rằng: hình ảnh con đường trong thơ ca cổ điển nói chung xuất phát từ quyển Đạo c
kinh của Lão Tử, con đường là công cụ thuận tiện để xây dựng nên những liên tưởng
khác nhau về không gian và thời gian” [61]. Về mặt biểu hiện của hình ảnh con đường


15
trong Thơ mới nằm ở chỗ nó đã báo hiệu sự thành công ở tương lai, cụ thể là cuộc
Cách mạng tháng Tám 1945: “Thơ ca báo hiệu một thời kỳ hành động. Tiếng thở dài
não nuột phải nhường chỗ cho một lời ước hẹn lên đường. Tuy nhỏ nhẹ và không rõ
nhưng Thơ mới đã có được tiếng gọi ấy, tiếng nói thơ ca tin cậy để khép lại một chặng
đường” [151, tr.175].
Có thể nói, sau Thi nhân Vi t Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, công trình Con
mắt thơ (1992) của Đỗ Lai Thúy là một nỗ lực đáng trân trọng trong việc bóc tách,
phân tích hiện tượng cũ trên tinh th n của một phương pháp luận mới mẻ và khoa học.
Nếu Hoài Thanh và Hoài Chân nhận diện và phong th n phong cách cho một số nhà
Thơ mới nổi bật thì Đỗ Lai Thúy có cách tiếp cận khác. Thơ mới không chỉ có khuynh
hướng lãng mạn mà còn dung chứa cả những khuynh hướng khác mà Thi nhân Vi t
Nam chưa thực sự đào sâu như khuynh hướng tượng trưng, siêu thực ở giai đoạn phát
triển cuối cùng của nó. Và đây chính là điều đóng góp lớn nhất của Con mắt thơ mà Đỗ
Lai Thúy giới thiệu với bạn đọc. Theo Đỗ Lai Thúy, “Thơ mới không phải là một giải
phóng cái Tôi nữa, mà là một cuộc nổi loạn của cái Tôi cá nhân. Những kẻ nổi loạn này
đã vượt thoát khỏi hình mẫu tài tử Nho giáo và ông Tây An Nam”. Tác giả cho rằng:
“Đời sống đô th giải phóng con người trước hết ở không gian. Đ u tiên là không gian đ
a lý, sau đó – không gian xã hội, và cuối cùng – không gian tinh th n” [162, tr.15] .
Cũng theo Đỗ Lai Thúy, “Con người của xã hội th dân không còn sống theo nh p đi
muôn thuở của mùa màng, thời tiết nữa. Họ tuân theo nh p điệu của công việc, của sự
thành đạt cá nhân trong cuộc sống” [162, tr.15– 16]. Cái Tôi cá nhân không còn giữ v
trí khiêm nhường trước Không – Thời gian nữa, mà kiểm soát Không
– Thời gian theo ý chí chủ quan của mình.
Trong công trình V n h c lãng mạn Vi t Nam (1930 – 1945), Phan Cự Đệ đã dành
ph n thứ nhất để nghiên cứu về phong trào Thơ mới . Ph n này gồm 7 chương, đề cập h
u hết những khía cạnh cụ thể của Thơ mới như: L ch sử phong trào Thơ mới chương 2);
Quan điểm mỹ học của các nhà Thơ mới chương 3); Con đường bế tắc của chủ nghĩa
cá nhân chương 4); Những mặt tích cực và tiến bộ của phong trào Thơ mới lãng mạn

Lữ. Xung quanh chàng có một thứ sương khói lãng mạn, mờ ảo, đ y quyến rũ. Hình
ảnh người khách chinh phu có rất nhiều nét giống với Dũng, Trúc, Thái trong Đoạn
tuy t của Nhất Linh và Quang Ngọc, Phạm Thái trong T u Sơn tr n sĩ của Khái Hưng.
Những người anh hùng chiến bại đó đều là bà con anh em với nhau cả. Không làm
được anh hùng trong đời thì làm anh hùng trong mộng tưởng. Âu cũng là một lối
thoát” [27, tr.122].
Về sự tích cực, tiến bộ của hình tượng khách chinh phu trong thơ Thế Lữ, tác giả
cũng có nhận xét: “Lúc mới xuất hiện trong thơ Thế Lữ, con người đó tức khách chinh
phu) đã hấp dẫn khá đông thanh niên trong một thời l ch sử. Những người đấu tranh
chính tr tuy đã trải qua những tháng ngày bi quan, dao động nhưng không phải trong
họ không còn ít nhiều tâm sự. Họ đã tìm thấy trong sự mơ hồ của khách chinh phu một
niềm an ủi trong những ngày dài của một đời bằng phẳng, tẻ nhạt, vô v . Thứ lý tưởng
mà Thế Lữ đã đưa ra là một thứ lý tưởng vừa t m với số thanh niên tiểu tư sản thành th
đang bế tắc lúc đó. Người ta thấy yên tâm vì mình không phải là kẻ sống hèn, sống
nhục. Đồng thời ôm ấp thứ lý tưởng mơ hồ đó cũng không đến nỗi b tù tội và nhất là
không hại đến yêu đương” [27, tr.123].
Phan Cự Đệ cũng nhìn thấy: “Huy Thông muốn chúng ta sống mạnh mẽ, không
ch u tự hủy hoại một cách t m thường. Huy Thông không muốn thoát ly vào cõi tiên
mộng ảo hay tôn giáo. Thi sĩ muốn nhắc lại những tình cảm lớn của những anh hùng
trong l ch sử. Trong thời kỳ thoái trào những tình cảm lớn đó có thể góp ph n nhen lên
ít nhiều ngọn lửa trong những tâm hồn đã nguội lạnh vì sợ hãi, nhu nhược. Thơ của
Huy Thông chỉ đi tìm cái Đẹp trong những anh hùng chiến bại (Hạng Vũ, Kinh Kha).
Đó cũng là một biểu hiện của quan niệm nghệ thuật v nghệ thuật, một quan niệm đối
lập cái Đẹp với cái Hữu ích” [27, tr.123].
Tác giả cũng đánh giá khá cao hình tượng nhân vật người chinh phụ trong sáng
tác của Thâm Tâm và Tr n Huyền Trân – đó chính là sự phản chiếu trung thực của tinh
th n dân tộc trong thơ ca của họ: “Còn lại một chút gì đó có lẽ là ở Thâm Tâm, Tr n
Huyền Trân, những thi sĩ có ch u ảnh hưởng ít nhiều v n hóa cứu quốc bí mật. Trong
một số bài thơ của họ có phảng phất nỗi buồn của người nghệ sĩ không có tự do,
không có Tổ quốc (Độc hành ca, Chiều mư Bắc của Tr n Huyền Trân; T ng bi t hành, n

lắm lối” H u Trời), viết nhiều mẫu nhàn tưởng, tản v n – châm ngôn, ngụ ngôn, bút ký
triết học bằng v n xuôi. Ông viết truyện ngắn, bình luận trên báo chí và từ n m 1916 đã
viết quyển tiểu thuyết đ u tiên trong l ch sử v n xuôi Việt Nam” [58, tr.572].
Kiều Thu Hoạch với bài viết “Tản Đà - Người mở đ u thơ Việt Nam hiện đại”
(Tạp chí V n hó h thuật, 2008), đã có những đánh giá về thành công của v n xuôi Tản Đà,
trong đó có mảng v n du ký của ông: “Giấc mộng con I cũng như Giấc mộng con II là hai
tập du ký tưởng tượng có thể coi đây là tiểu thuyết viễn tưởng của Tản Đà. Ở Giấc mộng
con I Tản Đà chỉ lấy tư liệu trên báo chí mà tả lại những nơi danh thắng trên thế giới như
thác nước Niagara ở Canada đền Taj- Mahal ở ấn Độ Kim Tự Tháp ở Ai Cập... thế mà ông
miêu tả sống động hứng thú y như là chính mình đã tới chơi những nơi đó thật. Ở Giấc
mộng con II, ông kể chuyện cuộc chơi lên thiên đình gặp các danh nhân l ch sử thế giới và
Việt Nam như Lư Thoa J.J.Rousseau) Đông Phương Sóc, Khổng Tử, Hàn Thuyên,
Nguyễn Trãi, Chiêu Quân, Dương Quý Phi... Qua hai cuộc viễn du tưởng tượng tác giả
muốn đưa mọi người đến những thế giới lý tưởng diệu kỳ đến với những cảnh sắc tươi
đẹp gặp gỡ những nhân vật tài hoa. Ở đó chỉ có cái đẹp cái cao thượng tình yêu thương và
lòng tôn trọng lẫn nhau khác hẳn cái xã hội xấu xa nơi tr n giới. Tác phẩm vừa có giá tr
hiện thực phê phán lại vừa có ý nghĩa lãng mạn thể hiện những ước vọng nhân v n của tác
giả. Tản Đà là người thích mở rộng và có một trí tưởng tượng rất phong phú song nhiều
khi mơ mộng tưởng tượng chỉ là những yếu tố


18
thi pháp trong cá tính sáng tạo của ông và điều đó không hề làm giảm giá tr phản ánh
hiện thực xã hội và ý nghĩa phê phán của tác phẩm” [67].
Phạm Xuân Thạch trong bài viết “Quá trình cách tân và những giới hạn trong sự
nghiệp sáng tác v n xuôi của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu” đã chỉ ra những thành tựu
cũng như hạn chế của v n xuôi Tản Đà, trong đó có mảng v n thuộc phạm trù xê d ch
của tác giả [152]. Theo Phạm Xuân Thạch sau những thiên tản v n và những sáng tác
thơ ca của buổi đ u trên v n đàn, Giấc mộng con I là tự sự dài hơi đ u tiên của ông.
Được xây dựng trên một cốt truyện phiêu lưu công thức sự di động của nhân vật trong

Đó không phải là hình ảnh riêng của Nguyễn Tuân mà còn là hình ảnh của một số
thanh niên trí thức tiểu tư sản thành th sống bế tắc trong chế độ cũ” Vài nét về con n
ười và tác phẩm của Nguyễn Tuân, Dẫn theo [191, tr.65]).
Trong cuốn hà v n V t Nam 1945 – 1975 (tập 2), Phan Cự Đệ đã có cái nhìn tổng
quát về quá trình “lột xác” đ y đau khổ và sự thay đổi quan điểm thẩm mỹ của nhà v n.
Theo Phan Cự Đệ: “Các nhân vật trong tùy bút lãng mạn của Nguyễn Tuân


19
chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của tính cách nhà v n mà thôi. Tác giả đã hóa thân ra
thành Nguyễn, Vi, Bạch, Hoàng, Thông Phu để tìm cách nói lên những khía cạnh khác
nhau của cái Tôi kênh kiệu, lập d , của cái Tôi nổi loạn đập phá, của cái Tôi giang hồ
lãng tử” [28; tr.110],...
Nguyễn Đ ng Mạnh trong bài viết giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Tuân khẳng đ nh:
“Trước Cách mạng Nguyễn Tuân không thuộc về những cây bút hoàn toàn thoát ly xã
hội, mất hẳn gốc rễ với cuộc đời. Con người ấy có thói quen đi để viết, để thỏa mãn
khát khao tự do, khao khát sự thoải mái, khao khát được ngắm trời, ngắm biển, được
thưởng thức cho đ y đủ, thỏa thuê vẻ đẹp của quê hương, đất nước mình... Một cái tôi
xê d ch và hưởng lạc coi cuộc đời như một trường đua du hí. Đi không mục đích và
qua những bức tranh ngoại cảnh đã bộc lộ chất thơ của một tâm hồn xê d ch” [230].
Hà V n Đức có nhận xét đáng chú ý về không gian nghệ thuật trong sáng tác về
đề tài xê d ch của Nguyễn Tuân. Tác giả viết: “Không gian có một sức cuốn hút mãnh
liệt đối với Nguyễn Tuân. Ông khao khát được tự do, được thỏa sức ngắm trời, ngắm
biển. Tâm hồn của nhà v n lãng mạn Nguyễn Tuân hướng tới sự xê d ch cũng là để
thỏa mãn những đòi hỏi của giác quan và thỏa sức những khoái cảm thẩm mĩ mà
những miền đất mới, xa lạ đem lại... Cái đẹp mà Nguyễn Tuân tìm kiếm trước hết là vẻ
đẹp của thiên nhiên, cảnh vật trên con đường xê d ch. Những cảnh sắc thiên nhiên của
nhiều vùng quê khác nhau được Nguyễn Tuân miêu tả thật đẹp, thật nên thơ, nên hoa”
“Nguyễn Tuân và cái đẹp”[47]).
Trong lời giới thiệu quyển Qu hươn của Nguyễn Tuân, Vương Trí Nhàn đã có

hóa phương Đông và phương Tây thì: “Luôn luôn tâm hồn chàng là bãi chiến trường,
ở đó, hai khuynh hướng v n hoá trái ngược giao chiến với nhau, cuộc giao chiến ấy
mãi mãi k ch liệt, tuy rằng ph n thắng lợi bao giờ cũng thuộc về cái nền v n hoá đã
hình thành nên trong l ch sử lâu dài của xứ sở, và đã hoá thành ph n vô thức trong mỗi
con người (...). Có lúc, hai nền v n hoá Đông và Tây đã gặp nhau, đã có một cuộc hôn
phối tốt đẹp để rồi tạo nên một thứ con lai khoẻ mạnh, kết hợp nhu n nh những ưu thế
của mỗi bên. Song suy cho cùng giữa hai nền v n hoá xa lạ, vẫn chưa bao giờ có sự
đồng nhất hoàn toàn, và những cá nhân đi tiên phong trong việc du nhập cái mới lạ của
phương Tây vào với cái xã hội đậm chất phương Đông này, sẽ chỉ trở thành vật hy sinh
cho những thể nghiệm phiêu lưu của họ” [241].
Hoài Anh cũng có nhận xét tương tự về sự dung hòa v n hóa Đông Tây trong cảm
hứng xê d ch của Nguyễn Tuân trong bài viết “Nguyễn Tuân, nhà nghệ sĩ ngôn từ
đã đưa cái đẹp th ng hoa” trong sách Nguyễn Tuân – ườ tìm ẹp): “Ông không phải là
người n chơi trác táng trụy lạc như nhiều nghệ sĩ khác đương thời, mà là một nghệ sĩ đi
tìm cái Đẹp trong mọi biểu hiện của đời sống tr n gian …). Có người cho rằng ông chỉ
là tín đồ của André Gide tác giả cuốn Les Nourritures terrestres (Thực phẩm tr n
gian), một gidien môn đệ của Gide); nhưng đọc kỹ v n ông mới thấy ông không chỉ ch
u ảnh hưởng trào lưu cá nhân chủ nghĩa cực đoan phương Tây mà có cốt cách của một
tài tử, một kẻ giang hồ lạc phách phương Đông kiểu Lý Bạch, Nguyễn Công Trứ, Cao
Bá Quát…” Dẫn theo [191, tr.225]).
Hoàng Nhân với bài viết “Có gì chung giữa Nguyễn Tuân và André Gide?” đã
chỉ ra những điểm tiếp biến lý thuyết xê d ch của André Gide của Nguyễn Tuân trên
phương diện nội dung cũng như hình thức nghệ thuật; xác đ nh đặc trưng trong quan
niệm xê d ch Nguyễn Tuân ở cả hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám [191,
tr.242– 246].
Nguyễn Thành nhấn mạnh đến mục đích của sự xê d ch trong sáng tác Nguyễn
Tuân: “Hoặc là chủ trương xê d ch, giang hồ. Đi là một cách quay lưng với những t m
thường, nhỏ nhặt của đời sống thường nhật. Nhưng với Nguyễn Tuân, đi còn là một
cứu cánh. Đi để tìm cái đẹp, thỏa mãn với những khát vọng tối thượng của người nghệ
sĩ – tài tử” dẫn theo [191, tr.232]).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status