MỤC LỤC
A.Mở Đầu
Lý do chọn chủ đề
Tình trạng bạo lực học đường hiện nay đang trở nên khá phổ biến tại hầu
hết những quốc gia trên thế giới. Báo cáo của cơ quan phòng, chống tôi phạm
Liên hợp quốc, mỗi năm trên thế giới có khoảng 4-6 triệu học sinh có liên quan
trực tiếp đến bạo lực học đường. Số liệu này ngày càng tăng, khiến bạo lực học
đường trở thành vấn đề chung của giáo dục quốc tế.
Tại Việt Nam, bạo lực học đường hiện nay đang là vấn đề rất nghiệm trọng.
Theo một số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo,chỉ trong một năm học, toàn quốc
xảy ra gần 1600 vụ học sinh đánh nhau trong và ngoài trường học. Cũng theo
một số thống kê, khoảng 5.200 học sinh thì có một vụ đánh nhau và 11.000 học
sinh thì có một em bị thôi học vì đánh nhau. Những số liệu này cho thấy, tình
trạng bạo lực học đường đang là vấn đề nhức nhối tại mọi cấp học, lớp học với
mức độ gia tăng ngày càng cao và hậu quả ngày càng lớn.
Cũng theo báo cáo của Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, từ năm
2013 đến năm 2-15, đã xử lý hơn 25.00 vụ phạm pháp hình sự với 42.000 đối
tượng. Trong đó có hơn 75% là thanh niên và học sinh, sinh viên. Nghiêm trọng
hơn, đối tượng phạm tội ngày càng có xu hướng trẻ hóa, mức độ phạm tội ngày
càng nghiêm trọng, hành vi bạo lực cũng ngày càng đa dạng hơn. Những vụ giết
người, cướp tài sản, hiếp dâm của học sinh, sinh viên cũng ngày càng nhiều.
Thấy được tính chất nguy hiểm nghiêm trọng của bạo lực học đường đang
diễn ra ngày càng phức tạp, nên hầu hết các trường học đã tích cực trong công
tác giáo dục đạo đức, văn hóa học đường cho học sinh. Tuy nhiên, khi giáo dục
đạo đức, văn hóa trường học chưa được học sinh thấu hiểu, ngấm sâu trong từng
lời nói, hành động, tư tưởng thì bạo lực học đường khó được đẩy lùi triệt để. Do
vậy, yêu cầu đặt ra là cần có những biện pháp đề phòng ngăn ngừa và giải quyết
vấn đề này. Trong đó công tác xã hội trong trường học được xem là một trong
những biện pháp can thiệp hữu hiệu, cần được đưa vào trường học và đẩy mạnh
khác hướng đến họ. theo nhà xã hội học Robertsons “ Vai trò là một tập hợp các
chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội
nhất định”.
1.2.Khái niệm bạo lực
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bạo lực như : “Bạo lực là sức mạnh
dùng để trấn áp, chống lại lực lượng đối lập hay lật đổ chính quyền”; “ Bạo lực
là việc đe dọa dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người
khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm
gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến
sự phát triển hay gây ra sự mất mát” (WHO). Bạo lực xảy ra có thể do nhiều
nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như do mâu thuẫn giữa hai bên về các lĩnh
vực trong cuộc sống không thể hòa giải do sự cạnh tranh, ghen ghét, đố kị lẫn
nhau; do sự tham vọng hay cố chấp của một người hay một bè phái nào đó.
1.3.Khái niệm bạo lực học đường
Trong quá trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến bạo lực học
đường, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điêm khác nha về khái niệm
bạo lực học đường.
44
Ở nước ngoài bên cạnh thuật ngữ bạo lực học đường, người ta thường nói
tới thuật ngữ bắt nạt học đường. Bắt nạt học đường cũng là một phần của báo
lực học đường và thậm chý nhiều lúc người ta còn đông nhất giữa bắt nạt và bạo
lực học đường. Dan Olweus, trong cuốn sách “ Bắt nạt trong trường học, chúng
ta biết gì và chúng ta có thể làm gì” đã đưa ra định nghĩa theo một cách chung
nhất, bắt nạt trong trường học như một “ Hành vi tiêu cực được lặp đi lặp lại, có
ý định xấu của một hoặc nhiều học sinh nhằm trực tiêp chống lại một học sinh,
người có khó khăn trong việc tự bảo vệ bản thân”.
Milton Keynes (1989) định nghĩa “ Bắt nạt là một hành động lặp đi lặp lại
một cách hiếu chiến để cố ý làm tổn thương về tinh thần hoặc thể xác cho người
tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với các vấn đề trong cuộc sống,
tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết, thúc đẩy sự tương
tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách
xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân gia đình, nhóm và cộng đồng
thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”.
Khái niệm về nhân viên công tác xã hội cho thấy, họ là người cần được đào
tạo và trang bị những kiến thức, kỹ năng chuyên môn, đông thời nhân viên công
tác xã hội cần phải thực thi các hoạt động nghề nghiệp của mình như : trợ giúp
cá nhân, gia đình giải quyết vấn đề khó khăn, kết nối với các dịch vụ và nguồn
lực trong xã hội, thúc đẩy sựu cung cấp dịc vụ trợ giúp và nguồn lực có hiệu
quả. Trong hệ thống nghề nghiệp và tổ chức cấu trúc thành phần với tư cách là
những lực lượng xã hội. Nhân viên xã hội còn có vị trí độc lập đồng thời có mối
liên hệ với nhiều
66
nghề nghiệp khác. Tính chuyên nghiệp được thể hiện ở hệ thống tổ chức
quản lý nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mã nghề, chức danh và thang bảng
lương.
+ Nhân viên công tác xã hội trong trường học
Có nhiều khái niệm về nhân viên công tác xã hội học đường. Theo như
định nghĩa của Nannette Richford trong “ What is a school social worker? Đã
nêu: Nhân viên xã hội ở trường học là những người được đào tạo đặc biệt với
mục đích làm việc với trẻ em, gia đình, giáo viên và cộng đồng để cung cấp dịch
vụ cần thiết cho trẻ em có thể thành công ở trường học.
Nhân viên công tác xã hội học đường sẽ đóng vai trò như cầu nối giữa phụ
huynh, nhà trường và cộng đồng; cũng như xây dựng cùng lúc nhiều hoạt động
như tổ chức (và thực hiện) những buổi tập huấn kỹ năng hoặc tham vấn cho
những người có nhu cầu, phát triển những chương trình ngăn ngừa những hành
II.Thực trạng bạo lực học đường, vai trò nhân viên Công tác xã hội trong
hỗ trợ giải quyết vấn đề bạo lực học đường tại huyện Hậu Lộc – Thanh Hóa
1.1.Khái quát chung về bạo lực học đường
Năm 2012 một cuộc khảo sát trên quy mô lớn của Trung tâm kiểm soát và
88
phòng ngừa bệnh tật (CDC) tại Mỹ có tên “ Hiểu biết về bạo lực học
đường”( Underdtanding school vilolence). Nghiên cứu đã đưa ra những con số
thống kê về tình trạng môi trường học đường với những hành vi đe dọa, hành vi
bao lực gây tử vong và không gây tử vong. Cụ thể có 5,9% học sinh mang theo
một loại vũ khí (như súng, dao) vào trường học trong 30 ngày trước thời điểm
điều tra. Tỉ lệ này ở nam lớn gấp 3 nữ. Trong 12 tháng trước cuộc điều tra, 7,8%
học sinh trung học được thông báo bị đe dọa hay bị thương tích bằng một loại vũ
khí trong trường học ít nhất một lần , với tỉ lệ nam cao gấp hai lần nữ. Trong 12
tháng trước cuộc điều tra 12,4% học sinh từng tham gia vào một vụ đánh
nhautaji trường ít nhất một lần. Tỉ lệ này, nam cũng cao gấp hai lần nữ. Trong 30
ngà trước cuộc điều tra, 5,5% học sinh được cảnh báo những nguy cơ không an
toàn nên họ đã không tới trường ít nhất một ngày, các tỉ lệ này ở nam và nữ xấp
xỉ bằng nhau.
Trong một nghiên cứu khác mang tên “ Khác biệt quốc gia – đồng dạng
toàn cầu” năm 2010 của hai nhà nghiên cứu” David Baker và Gerald Letendre
thì tỉ lệ học sinh là nạn nhân của bạo lực học đường ít nhất một lần trong tháng
thấp nhất là các nước như: Đan Mạch, Singapore, Thụy Sỹ ( khoảng trên dưới
10%) và cao nhất là ở các nước Philippines, Roumania và Hungary (từ 70-80%)
Thống kê này chưa bao gồm những nước như Guatemala hay Ethiopia nới mà
bạo lực học đường đang dược ghi nhận tăng lên đáng kể.
Theo thống kê của ngành Công an, trong một năm cả nước có khoảng
2.000 vụ bạo lực học đường, hơn 53% số vụ xảy ra tại trường học nhưng ngành
Giáo dục không nắm được dữ liệu bạo lực học đường. Báo cáo của ngành Giáo
dao rạch mặt bạn, đâm chết bạn giữa sân trường.
1.2.Khái quát chung về Huyện Hậu Lộc Tỉnh Thanh Hóa
Diện tích 141,5km2.
1010
Tổng dân số 163.971 người (2009)
Mật độ dân số 1.212
Hậu Lộc là một huyện ven biển thuộc tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm
thành phố Thanh Hóa khoảng 25km về phía đông bắc; giáp huyện Nga Sơn,Hà
Trung về phía Bắc, Hoằng Hóa về phía Tây và Nam; phía đông giáp biển
Đông.nên khá thuận lợi cho phát triển kinh tế biển. Ðiều kiện tự nhiên rất đa
dạng, giàu tiềm năng với 3 vùng: vùng đồi, vùng đồng bằng chủ yếu là phù sa và
vùng ven biển.
Hệ thống giao thông của Hậu Lộc khá phát triển do có Quốc lộ 1A, tuyến
đường sắt Bắc - Nam và Quốc lộ 10 chạy qua. Những yếu tố này đã tạo điều
kiện thuận lợi cho kinh tế Hậu Lộc phát triển trên các lĩnh vực nông - lâm
nghiệp, thuỷ hải sản, công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ
Hậu Lộc có đầy đủ ba dạng địa hình, từ đồng bằng thuộc các xã Lộc Tân,
Thịnh Lộc, Xuân Lộc, Hoa Lộc, Phú Lộc,.. đến vùng đồi núi thuộc các xã Triệu
Lộc, Tiến Lộc, Thành Lộc, Châu Lộc, Đại Lộc, Đồng Lộc,.. và ven biển là các
xã Hòa Lộc, Ngư Lộc, Hải Lộc, Minh Lộc, Hưng Lộc, Đa Lộc. Huyện có hệ
thống song đào khá dày đặc. Hằng năm cung cấp nước tưới cho nông nghiệp và
thoát lũ vào mùa mưa. Do vậy, tình trạng hạn hán và ngập lụt ít khi xảy ra. Tuy
nhiên năm 2005 bão số 7 và số 5 năm 2007 đã tàn phá nặng nề kinh tế. Hậu Lộc
có khí hậu đặc trưng của vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam.
Theo số liệu điều tra 01/04/2009, toàn huyện có tất cả 163.971 người. Giá
trị tổng sản phẩm GDP năm 2005 đạt 755 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân
5 năm(2000-2005) đạt 9,6%. Cơ cấu kinh tế năm 2005. Nông–Lâm-Ngư nghiệp:
nguyên tắc ứng xử, văn hóa giao tiếp học đường và trau dồi đạo đức kĩ càng
nhiều hơn cho học sinh.
2.1.Nguyên nhân bạo lực học đường
1212
Gần đây, trên địa bàn Huyện đã liên tục xảy ra các vụ ẩu đả giữa học sinh
với nhau. Điển hình là vụ em L.T.M.D, học sinh lớp 10A3, trường THPT Đinh
Chương Dương bị một nhóm bạn chặn đường đánh trọng thương phải đưa vào
bệnh viện cấp cứu. Dư luận chưa hết xôn xao thì tiếp tục lại xảy ra một vụ ẩu đả
của nữ sinh trường THPT Hậu Lộc 2. Vụ ẩu đả này đã xảy ra ngay trước cổng
trường, sau giờ tan học. Các nữ sinh đã dùng dao găm chém nhau. Kết quả, một
em bị chém đứt gân ở cánh tay phải, 2 em bị thương khâu nhiều mũi.
2.1.1. Nguyên nhân từ bản thân học sinh
Nguyên nhân đầu tiên có thể nói là do sự chuyển biến về tâm lý của bản
thân đối tượng từ 12-17 tuổi,đây là giai đoạn hình thành nhân cách ở con người,
cùng với đó là tâm lý không ổn định và cái tôi cá nhân cao vót (mà không biết
sử dụng đúng cách ) ở lứa tuổi ăn chưa đủ no lo chưa tới này khiến các em thấy
bức bối và muốn giải thoát. Trong giai đoạn này chỉ cần những tác động kích
thích xấu từ thế giới bên ngoài cũng khiến các em học theo. Do sự phát triển
thiếu toàn diện, thiếu hụt về nhân cách, thiếu khả năng ứng xử của bản thân và
xự non nớt trong kĩ năng sống, sai lệch trong quan điểm sống dẫn đến thái độ sai
trong nhận thức và hành động .Các em chưa định hình được lí tưởng sống cho
bản thân nên rất dễ xa đọa.
2.1.2. Nguyên nhân từ gia đình
Gia đình được xem là cái nôi đầu tiên, gần gũi nhất về giáo dục nhân cách,
hành vi cho mỗi cá nhân từ thuở ấu thơ cho đến hết cuộc đời. Bởi vậy, sự ảnh
hưởng của gia đình đối với mỗi cá nhân là vô cùng lớn: từ tình cảm, tính cách,
thói quen, hành vi và những giá trị sống.
Đối với địa bàn huyện có rất nhiều gia đình cha mẹ mãi mê công việc, có
động ngoài tầm kiểm soát của cha mẹ.
Bản thân phụ huynh hiện nay cũng thể hiện sự ích kỉ của mình khi chỉ
mong con cái có thành tích tốt để khoe với bạn bè, đồng nghiệp mà không nghĩ
1414
đến việc con bị áp lực và mất đi tuổi thơ hồn nhiên. Chính vì thế mà sau giờ học
mệt mỏi cha mẹ thường chiều con cái, không bắt con làm gì, sinh con ra không
biết lao động, không biết về cuộc sống thường nhật. Thay vào đó, cha mẹ cho
con giải trí bằng các phương tiện hiện đại nhanh gọn như chơi điện tử, xem
phim, ca nhạc... Chính vì thế, trẻ hầu như chẳng còn thời gian để chơi, để hiểu
thế giới và để chia sẻ, tâm sự với bố mẹ. Các em bị cuốn vào vòng học tập và
học tập.
2.1.3. Nguyên nhân từ nhà trường
Học sinh bị thầy cô, ban giám hiệu, hay nhân viên nhà trường bạo hành,
bạc đãi, đe dọa, làm nhục; bị bạn bè ruồng bỏ hắt hủi hay bắt nạt; không khí thù
địch hay lề lối bất công trong lớp học. giáo viên không quan tâm đến đời sống
tâm lý, tình cảm của học sinh; Biện pháp kỷ luật của thầy cô và nhà trường
không nhất quán, quá dễ dãi hay quá khắc nghiệt, chương trình học lại quá
nhiều, nhà trường lớp học thiếu các gương tích cực trong đời sống và thiếu
những hoạt động xã hội lành mạnh. Học sinh giao du với bạn bè phạm pháp
trong nhà trường, học sinh không muốn học và thất bại trong việc học. Nhà
trường có truyền thống tồn tại những băng nhóm bạo lực, nhà trường không có
mối liên hệ tích cực với gia đình học sinh cũng như các tổ chức xã hội khác. Nhà
trường không có các hoạt động tham vấn học đường cần thiế,…
Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh chưa được quan tâm đúng mực,
thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội. Bên cạnh đó áp
lực, chương trình học tập nặng nề.
Do sự giáo dục của nhà trường còn năng về kiến thức văn hóa , đôi khi lãng
quên đi nhiệm vụ giáo dục con người “tiên học lễ , hậu học văn” .Mặt khác cuộc
đóng vai trò như cầu nối giữa phụ huynh, nhà trường và cộng đồng; cũng như
xây dựng cùng lúc nhiều hoạt động như tổ chức (và thực hiện) những buổi tập
huấn kỹ năng hoặc tham vấn cho những người có nhu cầu, phát triển những
chương trình ngăn ngừa những hành vi xấu có khuynh hướng phát triển trong
1616
trường học, thực hiện những hoạt động can thiệp nhằm giảm thiểu những vấn đề
gây cản trở việc học tập của học sinh,…
Ngăn ngừa học sinh trốn học hoặc bỏ học
Học sinh thì phải đến trường để học. Tuy nhiên, vẫn có những vấn đề từ
phía gia đình và cá nhân cản trở học sinh đến lớp. NVXH học đường cần đánh
giá nhu cầu của học sinh và gia đình để có thể giúp họ lập kế hoạch giúp học
sinh tham gia hoc tập. Ngăn ngừa học sinh bỏ học cũng là nhiệm vụ quan trọng
của nhà trường. Vì vậy, NVXH phải là một phần của tất cả các nhóm: quản lý
nhà trường, giáo viên, phụ huynh, và cả các nhóm học sinh để có thể phát hiện
kịp thời những học sinh có nguy cơ bỏ học và có kế hoạch giú iúp học sinh và
gia đình để ngăn chặn nguy cơ này.
Ngăn ngừa bắt nạt/ bạo lực học đường
Tình trạng bắt nạt trong trường học cũng là một trong những nguyên nhân
gây ra nạn bỏ học, vì những học sinh hay bị bắt nạt sẽ không tập trung được vào
việc học, học kém đi, và trở nên sợ hãi trường học. NVXH có thể ngăn ngừa
hoặc giảm thiểu nạn bắt nạt bằng cách tăng cường hỗ trợ cho những học sinh có
nguy cơ bị bắt nạt và thực hiện những chương trình tập huấn kỹ năng xã hội
hướng vào giải quyết mâu thuẩn như kiểm soát sự giận dữ, cách giải tỏa ức chế,
cách thương lượng để giải quyết mâu thuẩn không cần đến bạo lực,… NVXH
cũng cần phối hợp với giáo viên và đoàn thể (Đoàn, Đội,…) giúp những học
sinh yếu lấy lại căn bản để có thể theo kịp bạn đồng học và tự tin hơn.
NVXH có thể tìm mời các chuyên gia đến trường và giúp cho thấy cô giáo
và ban quản lý nhà trường trang bị kiến thức và kỹ năng nhận diện trẻ bị lạm
behavioral interventions ans supports) thúc đẩy việc xây dựng và duy trì môi
trường học đường thân thiện, tăng cường sự tôn trọng và tin cậy giữa các giáo
viên, giữa học sinh, và giữa học sinh với giáo viên. Môi trường học đường thân
thiện và an toàn sẽ giúp các em yêu thích trường học và yên tâm học tập.
NVXH giúp học sinh xây dựng giá trị bản thân và phát triển những kỹ năng
như nhận diện và quản lý cảm xúc, biết quan tâm đến người khác, đi đến những
1818
quyết định có trách nhiệm, xây dựng được những mối quan hệ tích cực, và giải
quyết một cách hiệu quả những thách thức của cuộc sống.
Giúp học sinh đang gặp khủng hoảng
Khủng hoảng xảy ra khi học sinh gặp phải những chấn thương đột ngột
vượt quá khả năng ứng phó thường ngày của các em như bạo hành gia đình, mất
người thân, mất nhà cửa, thiên tai, bị tai nạn,… Trong những trường hợp như
thế, NVXH trước hết cần giúp học sinh vượt qua giai đoạn khủng hoảng, sau đó
giúp các em đánh giá lại hoàn cảnh và tìm những giải pháp thích hợp để giải
quyết vấn đề. Khi cần thiết, phải cùng làm việc với gia đình và các bên liên quan
để có được giải pháp tốt nhất cho các em.
Tham vấn nhóm
Làm việc nhóm là cách hiệu quả nhất để xây dựng mối quan hệ tốt với học
sinh, giúp các em trang bị kỹ năng xã hội, và hỗ trợ các em đúng lúc. Khi tham
gia nhóm, học sinh có cơ hội thực tập kỹ năng mới và xây dựng được cho mình
những mối qua hệ lành mạnh. Nhóm có thể cùng làm việc để giúp nhau giải
quyết những vấn đề cá nhân như học yếu môn học, bất hạnh hoặc mất mát, gia
đình bất hòa, ly dị, … Nhóm tập trung vào mối quan tâm hoặc vấn đề chung mà
các thành viên gặp phải và cùng nhau xây dựng mục tiêu và chương trình hành
động phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nhóm và nhà trường. Khi cần
thiết, NVXH có thể trao đổi với giáo viên hoặc phụ huynh để cùng phối hợp
giúp các em.
Đối với học sinh cuối cấp phổ thông cơ sở hoặc phổ thông trung học, nhân
viên xã hội học đường còn có nhiệm vụ phát triển những chương trình chuyển
giai đoạn (transitional program) giúp các em chuẩn bị tốt cho việc bước vào một
môi trường sống lớn hơn, với nhiều trách nhiệm và nghĩa vụ hơn như vào đại
học, học nghề, hoặc đi làm kiếm sống.
Như vậy, để thực hiện tốt nhiêm vụ công tác xã hội học đường, người Nhân
viên xã hội học đường cần phải có vài năm kinh nghiệm làm việc với trẻ em và
gia đình. Đồng thời, họ cũng cần được tạo điều kiện để tiếp cận được với một hệ
thống hỗ trợ cần thiết tại nhà trường và cộng đồng. Đây là trường hợp lý tưởng ở
các nước đã hình thành và phát triển hệ thống an sinh xã hội. Việt Nam ta cũng
2020
cần phải bắt đầu xây dựng hệ thống hỗ trợ này nếu muốn hoạt động công tác xã
hội được hiệu quả
2.3.Một số nhân tố tác động đến hoạt động hỗ trợ của nhân viên công tác xã
hội trong trường học
2.3.1.Năng lực của nhân viên công tác xã hội
Công tác xã hội trong trường học là một lĩnh vực được thực hành thông qua
việc nhân viên công tác xã hội vận dụng kiến thức, kỹ năng, nguyên tắc phương
pháp chuyên biệt của ngành làm việc cụ thể đối với các đối tượng trong trường
học. Nghề công tác xã hội có những đòi hỏi rất cao đối với những người lao
động trong nghề. Với những người làm công tác xã hội học đường mà chưa qua
đào tạo chuyên môn, trong tiến trình trợ giúp nạn nhân bị bạo lực học đường thì
họ chủ yếu tập trung vào việc xử lý can thiệp khi bị bạo lực xảy ra mà ít chú
trọng đến việc phòng ngừa bạo lực tiếp diễn sau đó. Họ thường không chú ý đến
việc đánh giá nguyên nhân, hoàn cảnh của vấn đề bạo lực xảy ra với học sinh đó
và cũng thiếu đi việc đánh giá nhu cầu mong muốn thực sự của đối tượng.
Bên cạnh thiếu kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp nhân viên xã hội cần phải
có thái độ, phẩm chất đạo đức của người làm nghề Công tác xã hội để trợ giúp
hưởng rất nhiều đến hoạt động hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội học đường.
2.3.3.Sự quan tâm từ gia đình
Một số đặc tính của gia đình có thể ảnh hưởng đến sự phát triển hành vi ở
học sinh. Chất lượng của mối quan hệ trong gia đình là cốt lõi để xác định mức
độ năng lực và niểm tin giúp accs em đối mặt với những chuyển dịch từ tuổi ấu
thơ sang người lớn. Nếu sự liên kết những thành viên trong gia đình không tốt
nó sẽ dẫn đến việc các em học được những cách ứng phó không phù hợp về mặt
xã hội.
Khi nhân viên xã hội can thiệp số đông gia đình không quan tâm đến con
em mình, chỉ mai mê kiếm tiền và không xem vấn đề bạo lực của con mình là
lớn. Điều ấy dẫn đến việc hỗ trợ các em đối với nhân viên xã hội là rất khó khăn.
2.3.4.Từ phía nhà trường
Trên thực tế nhiều nhà trường hiện nay mặc dù đã ý thức được sự tồn tại
của nạn bạo lực học đường, nhưng vẫn chưa ý thức được hết sự nghiêm trọng
2222
của nó. Hơn thế, nếu các trường vẫn mang tâm lý “tốt phô ra, xấu đậy lại” , vì sợ
ảnh hưởng đến thành tích mà nhà trương không thông báo rộng rãi cũng như
không xử lý nghiêm các hnahf vi bạo lực học đườn, không cùng với phụ huynh
học sinh và các lực lượng xã hội khác phối hợp với nhau để kiểm soát hiện
tượng này thf bạo lực học đường sẽ không thể được đẩy lùi, và việc nhân viên
xã hội can thiệp cũng sẽ rất khó khăn.
2.3.5.Hệ thống chính sách pháp luật
So với các nước phát triển trên thế giới, và ngay cả nhiều nước trong khu
vực, thì các quy định liên quan đến Công tác xã hội ở Việt Nam còn một khoảng
cách rất lớn. Như thiếu những quy định pháp lývề phê duyệt, giám sát, cấp phép
đào tạo chuyên môn và cấp giấy phép hành nghề trong một số lĩnh vực chuyên
biệt. Bộ luật chuyên ngành mang tính pháp lý cao để cán bộ, ngành, địa phương
từng bước phát triển nghề Công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam vẫn chưa
đình, cả tỉnh xảy ra hơn 4.300 vụ bạo lực thì đến năm 2017 giảm xuống còn
1.136 vụ, 8 tháng đầu năm 2018 xảy ra 815 vụ.
Hiện nay ở nhiều trường học tại địa bàn đã tổ chức các hoạt động ngoại khóa,
các tiết học tập thể, các câu lạc bộ văn hóa nghệ thuật… vừa tạo sân chơi lành mạnh
giúp học sinh có cơ hội thể hiện mình, giao lưu chia sẻ, đồng thời tăng mối đoàn kết
trong cộng đồng học sinh từ đó từng bước ngăn chặn bạo lực học đường.
Mặt khác, các nhà trường cũng đẩy mạnh tổ chức các câu lạc bộ: Tiếng
Anh giao tiếp; giáo dục kĩ năng sống; TDTT; Tin học… Những câu lạc bộ với
hình thức hoạt động phong phú sẽ kéo các em ra khỏi thế giới ảo của game
online và hạn chế đáng kể những tác động xấu từ các trò chơi bạo lực.
Để tích cực phòng chống bạo lực học đường, nhiều nhà trường còn chú
trọng tổ chức các CLB Khéo tay hay làm; Cắm hoa nghệ thuật; dân ca… hướng
tới những giá trị truyền thống, khơi dậy ở các em học sinh những nét đẹp duyên
dáng, thùy mị, nết na; những nét thanh lịch, nền nã của con gái. Đó là cách giáo
2424
dục cái “Mỹ” một cách nhẹ nhàng, sâu sắc..Lệch chuẩn trong đạo đức, thiếu văn
hóa học đường, trống kĩ năng ứng xử… đã và đang dẫn tới kết cục là những vụ
bạo lực học đường phù hợp.
III.Đề xuất và giải pháp
Người gây bạo lực là học sinh, nạn nhân chịu hậu quả bạo lực cũng là học
sinh. Bạo lực xảy ra ngày càng phức tạp đòi hỏi các nhà trường trang bị đầy đủ
những nguyên tắc ứng xử, văn hóa giao tiếp học đường và trau dồi đạo đức kĩ
càng nhiều hơn cho học sinh. Văn hóa học đường cần được mở rộng, sáng tạo
linh hoạt trong hình thức giảng dạy để học sinh tiếp cận một cách phù hợp.
Lâu nay, các bậc phụ huynh thường chỉ quan tâm đến kết quả học hành của
con cái, ít quan tâm đến việc các em nghĩ gì, cần gì, phải xử sự như thế nào đối
với bạn bè. Thay vì chỉ cho con cái một cuộc sống đầy đủ về vật chất, cha mẹ
còn nên là những người bạn. Mỗi gia đình cần xác định vai trò và bổn phận của