BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH
-------------
LÊ VIỆT ĐOÀN
CẢM HỨNG XÊ DỊCH TRONG VĂN HỌC
VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (1900 - 1945)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Nghệ An, 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH
-------------
LÊ VIỆT ĐOÀN
CẢM HỨNG XÊ DỊCH TRONG VĂN HỌC
VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (1900 - 1945)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9.22.01.21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS. Biện Minh Điền
TS. Lê Thanh Nga
học ...................................................................................................................................... 23
1.2.2. Một số lý thuyết nghiên cứu phê bình v n học được vận dụng cho việc
thực hiện đề tài .............................................................................................................. 26
1.2.3. Về khái niệm “xê d ch” và cảm hứng “xê d ch” trong sáng tạo v n học ............ 26
Tiểu kết chƣơng 1 ........................................................................................................ 29
Chƣơng 2. NHỮNG TIỀN ĐỀ VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA CẢM HỨNG
XÊ DỊCH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 1900 – 1945 ........................................ 31
2.1. Những tiền đề khách quan ...................................................................................... 31
2.1.1. Bối cảnh l ch sử, xã hội, v n hóa Việt Nam khi bước vào thế k XX và
những yêu c u của thời đại đối với v n học dân tộc ..................................................... 31
2.1.2. Những tiền đề từ ảnh hưởng của v n hóa, v n học phương Tây đến v n học
Việt Nam nửa đ u thế k XX 1900 – 1945) ................................................................ 32
2.2. Những tiền đề chủ quan của bản thân v n học dân tộc .......................................... 42
2.2.1. Những tiền đề từ v n học truyền thống ............................................................... 42
2.2.2. Nội lực, khả n ng của bản thân v n học dân tộc trước yêu c u tất yếu, bức
thiết phải đổi mới, hiện đại hóa ..................................................................................... 45
2.2.3. Khát vọng giải phóng, đổi mới của lớp nhà v n chuyên nghiệp trong buổi
bình minh thời hiện đại .................................................................................................. 46
2.2.4. Sự chuyển đổi từ loại hình/ hệ hình tác giả từ trung đại sang loại hình/ hệ
hình tác giả hiện đại ....................................................................................................... 47
2.3. “Xê d ch” như một biểu hiện mang tính thời đại của khát vọng giải phóng,
đổi mới và là nguồn cảm hứng kích hoạt sáng tạo của nhà v n .................................... 50
2.3.1. “Xê d ch” như một biểu hiện mang tính thời đại với khát vọng giải phóng
sự c m tù, tìm cái mới trong sáng tạo v n học .............................................................. 50
2.3.2. “Xê d ch” như một nguồn cảm hứng kích hoạt sáng tạo của nhà v n ................ 51
Tiểu kết chƣơng 2 ........................................................................................................ 52
Chƣơng 3. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CẢM HỨNG XÊ DỊCH
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 1900 – 1945 .......................................................... 54
4.3. Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ ......................................................... 119
4.3.1. Nghệ thuật tổ chức giọng điệu trong thể hiện cảm hứng xê d ch ...................... 119
4.3.2. Ngôn ngữ và nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ trong thể hiện cảm hứng xê d ch
của v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX 1900 – 1945) .......................................... 125
4.3.3. Một số biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu ............................................................. 132
Tiểu kết chƣơng 4 ...................................................................................................... 146
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................... 151
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .................. 163
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Bước vào những n m đ u thế k XX, xã hội Việt Nam có nhiều biến động
lớn. Ảnh hưởng và tác động nhiều mặt (về kinh tế, chính tr , tư tưởng, v n hóa, v n
học,...) từ phương Tây đã tạo cơ sở cho quá trình hiện đại hóa v n học Việt Nam đi
theo xu thế tiến bộ của nhân loại. V n học nửa đ u thế k XX (1900 – 1945) có vai trò,
v trí đặc biệt trong l ch sử v n học dân tộc – thời kỳ mở đ u của v n học Việt Nam
hiện đại. Quá trình v n học này diễn ra trong khoảng thời gian tuy không dài chưa
đ y nửa thế k ) nhưng hoàn toàn đủ tư cách của một thời kỳ v n học. “Nhìn từ tiêu chí
hệ hình (paradigm) và loại hình (type), không thể không thấy rằng: V n học Việt Nam
từ đ u thế k XX đến 1945 thực sự đã mang màu sắc hiện đại, và trên thực tế, quá
trình hiện đại hóa diễn ra ngày một mạnh mẽ, hữu hiệu, với tốc độ nhanh chưa từng
thấy “một n m có thể kể như ba mươi n m của người” - Vũ Ngọc Phan). Hệ thống thể
loại với trung tâm là bộ ba - thơ theo tinh th n của Thơ mới, thơ hiện đại), truyện (bao
hàm cả truyện ngắn và tiểu thuyết), k ch - đã khiến cho v n học thời kỳ này mang tính
loại hình sâu sắc của v n học hiện đại với hai đặc điểm cơ bản: thứ nhất, v n học thoát
ra khỏi sự ràng buộc của hệ thống thi pháp v n học trung đại; thứ hai, v n học có khả
n ng giao lưu, hội nhập và cùng loại hình với v n học hiện đại của nhiều nước trên thế
đang là vấn đề lớn với nhiều câu hỏi chưa có lời giải: Đâu là những cơ sở, tiền đề cho
nó? Đâu là những nội dung có ý nghĩa xã hội – thẩm mỹ sâu sắc của nó? Đâu là những
thế giới nghệ thuật sinh động, độc đáo được tạo nên nhờ cảm hứng xê d ch và phương
thức, cách thức tạo nên nó?...
Cho đến nay, cảm hứng xê d ch trong v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX
(1900 – 1945) chỉ mới được tìm hiểu qua sáng tác của một vài tác giả/ nhà v n, và số
lượng bài viết, công trình còn quá mỏng. Điều đó có nghĩa là cảm hứng này mới chỉ
được “nhìn ngắm”, nghiền ngẫm ở phương diện sáng tạo mang dấu ấn cá tính của một
vài nghệ sĩ. Những đúc kết, khái quát mang tính khoa học về cảm hứng xê d ch trong
cả một thời kỳ v n học vẫn còn nằm trong tình trạng b bỏ ngỏ, chưa được đào sâu
đúng mức như chính trữ lượng mà nó dung chứa. Rất c n thiết phải có những công
trình nghiên cứu chuyên sâu về nó nhằm không chỉ lấp đ y khoảng trống còn bỏ ngỏ
trong nghiên cứu về cảm hứng sáng tạo của v n học một thời kỳ đặc biệt, mà còn từ
đây, rút ra, đề xuất những vấn đề có tính lý luận, có ý nghĩa phương pháp luận.
1.4. V n học Việt Nam nửa đ u thế k XX (1900 – 1945) có vai trò, v trí quan
trọng không chỉ trong l ch sử v n học dân tộc mà còn trong cả chương trình ngữ v n ở
các nhà trường từ phổ thông đến đại học. Nghiên cứu cảm hứng xê d ch trong v n học
Việt Nam nửa đ u thế k XX (1900 - 1945) còn có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết đối với
việc dạy – học ph n v n học này ở học đường (với nhiều hiện tượng xuất sắc: sáng tác
của Tản Đà, của Nguyễn Tuân, Thơ mới 1932 – 1945, sáng tác của các tác giả Tự lực
v n đoàn,...).
Kết quả nghiên cứu của luận án hy vọng cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích đối
với những ai quan tâm đến v n học Việt Nam hiện đại, nửa đ u thế k XX (1900 –
1945), đặc biệt ở phương diện cảm hứng sáng tạo.
2. Đối tƣợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác đ nh, đối tượng nghiên cứu của luận án là ảm h n
h tron v n h V t m n
u th
(1900 – 1945).
V t
m n
u th
(1900 – 1945) trên cả hai phương diện nội dung và
phương thức thể hiện, luận án nhằm xác đ nh đặc điểm, vai trò của mạch cảm hứng
này đối với l ch sử v n học dân tộc trên con đường đi đến hiện đại, giao lưu, hội nhập
với v n học thế giới; từ đây đề xuất một số vấn đề về nghiên cứu cảm hứng xê d ch
trong v n học Việt Nam hiện đại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Trên cơ sở nhận diện, bao quát mạch ảm h n
h tron v n h V t
mn
u th
(1900 – 1945), luận án tổng quan vấn đề nghiên cứu và xác
lập cơ sở lý thuyết cho việc thực hiện đề tài.
3.2.2. Xác đ nh những tiền đề v n hóa, xã hội, thẩm mỹ - cơ sở cho sự xuất hiện
cảm hứng xê d ch trong v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX 1900 – 1945).
3.2.3. Đi sâu tìm hiểu khảo sát, phân tích những nội dung biểu hiện của cảm
hứng xê d ch trong v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX 1900 – 1945).
3.2.4. Đi sâu tìm hiểu, khảo sát, phân tích các phương thức thể hiện cảm hứng xê
d ch của v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX 1900 – 1945).
Cuối cùng rút ra một số kết luận về cảm hứng xê d ch - một mạch cảm hứng mới
đã góp ph n quan trọng đưa lại sự đa dạng phong phú cho v n học Việt Nam nửa đ u
thế k X X (1900 – 1945) và tạo ra được nét đặc sắc, độc đáo cho một số phong cách.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chọn đề tài Cảm h ng xê d h tron v n h V t m n
u th
(1900
– 1945), tác giả luận án vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó
chủ yếu là các phương pháp sau:
sâu khám phá đặc sắc của một thời kỳ v n học dân tộc khi được viết theo cảm hứng xê
d ch – một dòng mạch cảm hứng mới mẻ, độc đáo nhưng từng đã b nhìn nhận, đánh
giá không đúng mức, thiếu tính khoa học.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và vận dụng vào việc dạy học ở nhà trường về v n học Việt Nam hiện đại
nói chung, cũng như một số tác giả có tác phẩm liên quan đến đề tài xê d ch được chọn
giảng dạy trong nhà trường như Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thơ mới 1932 – 1945,...
6. Cấu trúc luận án
Ngoài
u, t luận và Tài li u tham khảo, nội dung chính của luận án được
triển khai trong 4 chương:
hươn 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài.
hươn 2. Những tiền đề và ý nghĩa thời đại của cảm hứng xê d ch trong v n học
Việt Nam nửa đ u thế k XX (1900 – 1945).
hươn 3. Những nội dung cơ bản của cảm hứng xê d ch trong v n học Việt
Nam (1900 – 1945).
hươn 4. Phương thức thể hiện cảm hứng xê d ch trong v n học Việt Nam
(1900 – 1945).
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nhìn chung về nghiên cứu v n h c iệt a nửa đầu thế kỷ XX (1900 –
1945) từ một số góc nhìn và phương diện cơ bản
1.1.1.1. Nghiên c u v n h V t m 1 00 – 1945 từ góc nhìn l ch s v n h c
và h th ng thi pháp của một thời kỳ v n h c
V n học Việt Nam nửa đ u thế k XX (1900 – 1945) được coi là thời kỳ mở đ u
hướng nghệ thuật khác nhau...
Về việc phân chia giai đoạn, h u hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất chia v n
học 1900 – 1945 thành hai giai đoạn: 1900 – 1930 và 1930 – 1945. Giai đoạn thứ nhất
(1900 – 1930), Tr n Đình Hượu gọi là
oạn giao thời. Theo ông, tính chất giao
thời của v n học giai đoạn này thể hiện ở chỗ: còn tồn tại song song hai bộ phận v n
6
(một cũ của các nhà Nho và một mới của trí thức Tây học); hai quan niệm thẩm mỹ
(truyền thống theo kiểu Nho học và hiện đại theo kiểu Tây học); hai kiểu công chúng
đối tượng tiếp nhận riêng; hai đ a bàn ảnh hưởng riêng (thành th và nông thôn); hai
hình thức ngôn ngữ riêng… Biện Minh Điền trong Loạ hình v n h trun ại Vi t
Nam, xuất phát từ việc nghiên cứu quan niệm v n học, nội dung cảm hứng, hệ thống
thi pháp, sự giao lưu tiếp nhận các chiều ảnh hưởng, đội ngũ sáng tác..., xác đ nh giai
đoạn 1900 – 1930 là
oạn chuẩn b cho quá trình hiện đại hóa v n học; giai đoạn
1930 – 1945 là
oạn về ơ bản hoàn tất một quá trình hiện đại hóa v n học. Nhìn
chung, đây cũng là ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu trong nhiều công trình, chẳng hạn
như giáo trình L ch s v n h c Vi t Nam 1930 – 1945 của Nguyễn Đ ng Mạnh; V n
h c Vi t Nam hi n ại (từ u th kỉ
n 1945) của nhóm tác giả Tr n Đ ng Suyền,
Nguyễn V n Long, Lê Quang Hưng, Tr nh Thu Tiết; V n h c Vi t Nam (1900 - 1945)
của nhóm Phan Cự Đệ, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà V n
Đức; V n h c Vi t Nam hi n ại của nhóm Đinh Trí Dũng, Ngô Th Quỳnh Nga; v.v...
Điều quan trọng chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là v n học Việt Nam từ đ u
thế k XX đến 1945 hoàn toàn đủ tư cách của một thời kỳ v n học. Việc nghiên cứu
một vấn đề nào đó chẳng hạn một dòng mạch cảm hứng sáng tạo chảy suốt v n học
thời kỳ này hoặc sự vận động của một thể loại hay hệ thống thể loại của nó, v.v...) là
7
trình nghiên cứu về những hiện tượng v n học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của
luận án.
Trước h t, c n nói đến Tản Đà - “người của hai thế k , người dạo những bản
đàn đ u tiên cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa” (Hoài Thanh). Nghiên cứu
về Tản Đà, có nhiều bài viết, công trình đáng chú ý. Có thể kể đến: Sự th n h n một
th n tà Tản Đà Nguyễn hắ
u Trương Tửu, 1939), ôn ủ th sĩ Tản Đà
(Xuân Diệu, 1939), Thân th và sự n h p v n hươn ủ th sĩ (Nguyễn Mạnh Bổng,
1944), Tản Đà
uyễn hắ
u – Thân th sự n h p v n hươn Hà Như Chi,
1958), Vi t về Tản Đà (Huỳnh Phan Anh, 1971), Tản Đà thơ và ời (Nhóm trí thức
Việt, 2012)… Có những bài chủ yếu đi sâu khai thác một vài phương diện của sáng tác
Tản Đà như: Nhữn
h y ủ thơ Tản Đà Trương Tửu, 1939), Tản Đà
hv n
(Nguyễn Xuân Huy, 1939), Tản Đà tr t h
Trúc Khê Ngô V n Triện, 1939)…
Những bài viết tập trung vào một tác phẩm cụ thể: Tự
ấc mộng con (Nguyễn Tiến
Lãng, 1941), n h ểu bà thơ Thề non nướ ủ Tản Đà như th nào ho n (Triêu
Dương, 1971), àn th m về n hĩ bà thơ Thề non nướ ủ Tản Đà (Nguyễn V n
Hạnh, 1975), ảm nhận u n làm thằng Cuội (Lãng Tử Tr n, 2011)… Các bộ giáo
trình như: Vi t m v n h s
ản ước tân biên (Phạm Thế Ngũ, tập 3, 1965), ản
lư
ồ v n h V t Nam (Thanh Lãng, 1967), V n h V t m
8
Cái Tôi và cuộ ời sòng bạc; Tình y u và l n nh
n tron thơ Tản Đà (Những giấc
mơ yêu đương và quan niệm tình yêu của Tản Đà; Cảm thương số phận tài tử, giai nhân;
L ng kính phong tài ân ái; Lòn y u nước, tư tư ng cả lươn và v n hươn “v ờ ” ó
“bón m y hơ nướ
n n ã” (Duy tân hợp pháp; Ái quốc bằng đạo đức và thơ nước
non; Rượu thơ với số phận trích tiên lạc lõng và “lại giống”; Tản Đà và v n h c Vi t Nam
trung – cận ại. Tr n Đình Hượu đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về Tản Đà và sự
nghiệp v n chương của ông. Cũng đã có một số luận án tìm hiểu, nghiên cứu về phong
cách, thi pháp thơ Tản Đà...
Th hai, trường hợp Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân là trường hợp có sự quan tâm
đặc biệt của giới nghiên cứu.
Có thể nói, người theo sát Nguyễn Tuân, am hiểu Nguyễn Tuân, viết nhiều và
viết sâu sắc về Nguyên tuân là Nguyễn Đ ng Mạnh. Phong cách, thi pháp, chân dung
Nguyễn Tuân, “chủ nghĩa xê d ch” ở Nguyễn Tuân được Nguyễn Đ ng mạnh khắc họa
qua nhiều công trình, như on ườn
vào th giới ngh thuật củ nhà v n [104],
hà v n V t Nam hi n ại chân dung và phong cách [106].
Phong cách ngh thuật Nguyễn Tuân của Hà V n Đức là một trong những luận
án đ u tiên đi sâu vào vấn đề phong cách Nguyễn Tuân, trong đó, tác giả đề cập và
đánh giá các khía cạnh đáng chú ý là: quan niệm thẩm mỹ (về cái đẹp) của Nguyễn
Tuân trước Cách mạng tháng Tám); nguyên nhân và biểu hiện của cảm hứng xê d ch
trong sáng tác Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám); đặc trưng phong cách
ngôn ngữ Nguyễn Tuân qua thể loại tùy bút – thể loại tập trung khá nhiều tác phẩm
viết về đề tài xê d ch của tác giả [46].
Quan ni m về
ẹp của Nguyễn Tuân trong sáng tạo ngh thuật của Nguyễn
Th Thanh Minh [107] cũng là công trình đáng lưu tâm. Tác giả đã tìm hiểu về sự ảnh
hưởng của tư tưởng siêu nhân của Nietzsche, quan niệm con người cao đẳng của
Thơ mới và sự ổi mới ngh thuật thơ tron thơ V t Nam hi n ại (Bùi Quang Tuyến,
Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, 2001); Gi n
u tron thơ trữ tình (Qua
một s nhà thơ t u b ểu của phong trào Thơ mới) (Luận án của Nguyễn Đ ng Điệp,
Viện V n học, 2001); Một thờ ại trong thi ca Hà Minh Đức, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2002); Về một cuộc cách mạng trong thi ca - hon trào Thơ mới (Phan Cự
Đệ, Nxb Giáo dục, 2007);
ỉnh o Thơ mới: Xuân Di u – Nguyễn Bính – Hàn
Mặc T Chu V n Sơn, Nxb Giáo dục, 2007); Những biểu hi n củ huynh hướng
tư n trưn tron Thơ mới Vi t Nam 1932 – 1945 (Nguyễn Hữu Hiếu, Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân v n Tp. Hồ Chí Minh, 2004); Thơ mới 1932 - 1945 nhìn
từ sự vận ộng thể loại (Luận án của Hoàng Sỹ Nguyên, Viện V n học, 2007); Thơ
tình tron Thơ mới 1932 – 1945 (xét từ ặ trưn th ph p) (Luận án của Lê Th Hồ
Quang, Viện V n học, 2007); H th ng thể loại truyền th n tron Thơ mới 1932 –
1945 (Luận án của Biện Th Quỳnh Nga, Viện Hàn lâm KHXH, Hà Nội, 2013); Ngôn
từ ngh thuật Thơ mới (Luận án của La Nguyệt Anh, Đại học Thái Nguyên, 2013);
Loạ hình Thơ mới Vi t Nam 1932 – 1945 (Nguyễn Thanh Tâm, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2015); v.v...
Về thế giới nghệ thuật thơ của từng nhà Thơ mới, có thể kể ra một số công trình
tiêu biểu như: Th giới ngh thuật thơ u n D u thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám
1945 (Luận án của Lê Quang Hưng, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1996) [71];
Lưu Tr n Lư tron phon trào Thơ mới 1932 – 1945 (Luận án của V n Th Minh Tư,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2012); Th ph p thơ uy ận (Tr n Khánh Thành,
Nxb V n học, 2002); Th giới ngh thuật thơ h Lan Viên (Hồ Thế Hà, Nxb V n học,
2004); Nguyễn nh Th sĩ ủ ồng quê (Hà Minh Đức, Nxb Giáo dục, 1995; Những
cách tân ngh thuật tron thơ u n D u
oạn 1932 - 1945 (Lê Tiến Dũng, Nxb
Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2005); V trí của Th Lữ trong ti n trình v n h c
Vi t Nam hi n ại (Luận án của Phạm Đình Ân, Viện V n học, 2006); Lưu Tr n Lư
tron phon trào Thơ mới 1932 – 1945 (Luận án của V n Th Minh Tư, 2011); Phong
đó có v n chương Tự lực v n đoàn. Các công trình, bài viết tiêu biểu từ thời kỳ đổi
mới về sau, có thể kể đến: Tự lự v n oàn – on n ườ và v n hươn của Phan Cự
Đệ; Vấn ề nh
Tự lự v n oàn; hìn lại vấn ề giải phóng phụ nữ trong tiểu
thuy t Tự lự v n oàn của Trương Chính; Tự lự v n oàn từ ó ộ tính liên tục của
l ch s qu bước ngoặt hi n ại hóa trong l ch s v n h phươn Đôn của Tr n
Đình Hượu; Tự lự v n oàn trào lưu – Tác giả của Hà Minh Đức; Về Tự lự v n
oàn của Nguyễn Trác – Đái Xuân Ninh; Một tr n v n h c rất hi n ại c n ư c vi t
lạ V n h c lãng mạn 1930 – 1945 của Đỗ Đức Dục; Tiểu thuy t Tự lự v n oàn của
Vũ Đức Phúc; Tự lự v n oàn nh hình cho tiểu thuy t Vi t Nam hi n ại (Phan
Ngọc), Ý ki n củ
o sư Tr n Xuân Hãn về Tự lự v n oàn; Th m mấy ý ki n nh
giá về Tự lự v n oàn Tự lự v n oàn và Thơ mới của Lê Th Đức Hạnh; Nhìn lại
Thơ mới và v n uô Tự lự v n oàn (Tr n Hữu Tá - Nguyễn Thành Thi - Đoàn Lê
Giang chủ biên) [147]; Tự lự v n oàn tron t n trình v n h c dân tộc (Mai Hương
tuyển chọn và biên soạn) [77]; Nhữn ón óp ủa Tự lự v n oàn ho v c xây dựng
một nền v n uô V t Nam hi n ại (Tr nh Hồ Khoa) [83]; v.v…
Nghiên cứu về v n chương Tự lực v n đoàn ở từng trường hợp cụ thể, càng có
nhiều công trình, luận án, luận v n, bài viết. Có thể kể đến: Quan ni m ngh thuật về
on n ười trong tiểu thuy t Tự lự v n oàn qu b t giả Nhất L nh h
ưn
oàn Đạo (Lê Dục Tú) [176]. Ngh thuật miêu tả tâm lý nhân vật trong tiểu thuy t
Tự lự v n oàn (Dương Th Hương) [73]; Mô hình tiểu thuy t Tự lự v n oàn
(Nguyễn Th Tuyến) [178]; Nhân vật nữ trong tiểu thuy t Nhất Linh và Kh
ưn
Đỗ Hồng Đức, 2010) [42]; Ba phong cách truy n ngắn trữ tình tron v n h c Vi t
m
oạn 1930 – 1945: Thạch Lam – Thanh T nh – Hồ Dz nh (Phạm Th Thu
Hương) [78]; v.v...
Từ góc nhìn thi pháp học và phong cách học nghệ thuật, các nhà nghiên cứu đã ít
toàn lãng mạn. Ấy là một cái s u của nhà Nho thời tàn cuộc, gặp nhiều bất trắc éo le, của
những lớp th dân lưng chừng c u an và bất lực dưới chế độ Tây thuộc tham tàn trước
đây” [26, tr.410]. Hà Như Chi ngoài việc nhấn mạnh cảm hứng lãng mạn (mộng tưởng),
còn chú ý tính hiện thực trong sáng tác nhà v n: “Tản Đà... không quên thực tại” [58,
tr.323]; Nguyễn Huệ Chi nhấn mạnh đến cảm hứng hiện thực và lãng mạn trong thơ v n
Tản Đà, Tản Đà đã “đề cập đến lòng thương dân, chí lo đời, tinh th n bất bình với xã hội
ô trọc, lên án tệ tham nhũng, đục khoét của quan lại, tố cáo sức mạnh tha hóa ghê gớm,
nhiều mặt của đồng tiên,…” [58, tr.608]; “Giấc mộng con I, Giấc mộng con II, Giấc mộng
lớn … là hình ảnh cụ thể của nhà thơ trên con đường đi đến một lối thoát cuối cùng: lãng
mạn – thoát ly. Rượu, thơ, tình yêu vơ vẩn, mộng và s u, và những chuyến du l ch vào
Nam ra Bắc…, đều là những nhân tố góp ph n hoàn chỉnh hơn xu hướng lãng mạn, thoát
ly – trong đó ít nhiều cũng có màu sắc của một thứ chủ nghĩa “ đại đồng” không tưởng –
phương diện đối lập, nhưng cũng chính là tiếp nối của xu hướng hiện thực nhập cuộc,
trong con người và thơ Tản Đà” [58, tr.610]. Trong bài viết Hữu – Vô tươn t tron th
ph p thơ Tản Đà (Tạp chí V n h c, số 3, 1989), T m Dương đã chỉ ra và phân tích 4 loại
cảm hứng chủ đạo trong thơ Tản Đà gồm: Cảm h ng l ch s , cảm h ng th sự, cảm h ng
ờ tư và cảm h n vũ trụ [58, tr.456]. Huỳnh Phan Anh chú ý đến cảm hứng hiện thực
qua tính tự truyện của thơ v n Tản Đà: “Thơ ông khởi đi từ đời sống của chính ông, khởi
đi để luôn trở về với nó. Thơ là tấm gương soi đời thi sĩ” [58, tr.369]; v.v...
Với trường hợp Nguyễn Tuân, h u hết các nhà nghiên cứu đều gặp nhau ở chỗ
phê phán cảm hứng lãng mạn thoát ly ở nhà v n. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra hai
nguồn mạch v n hóa, v n học có ảnh hưởng lớn đến cảm hứng lãng mạn trong sáng
tác Nguyễn Tuân là: truyền thống v n hóa, v n học phương Đông và ảnh hưởng từ v n
học phương Tây. Theo Phong Lê, “Đào bới mãi trong cái Tôi cô đơn, ích k , mặc kệ
cuộc đời, đi mãi vào chủ nghĩa cá nhân hưởng lạc, thế giới của Nguyễn Tuân hoàn
toàn tách biệt với cuộc sống nhân dân (...). Rốt cuộc thì dù có muốn buông thả cho chủ
12
nghĩa cá nhân tung hoành ngang dọc, muốn xê d ch trong không gian, hoặc muốn tiến
xuôi Tự lực v n đoàn đặc biệt qua Hồn bướm mơ t n của Khái Hưng ướm trắng
của Nhất Linh) cũng là một vấn đề được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Chú ý
nhiều đến cảm hứng tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử, có thể kể đến Chu V n Sơn, Hồ
Thế Hà [147, tr.223], [147, tr.229],v.v... Chú ý nhiều đến cảm hứng tôn giáo trong
sáng tác của Tự lực v n đoàn, tiêu biểu là các tác giả Phan Cự Đệ [45, tr.470], Nguyễn
V n Trung [147, tr.432], Đỗ Minh Vọng [147, tr.438]), Lê Dục Tú [147, tr.404], v.v...
Cảm hứng l ch sử trong v n học thời kỳ 1900 – 1945 cũng được các nhà nghiên
cứu bàn đến (chủ yếu qua tìm hiểu, nghiên cứu qua các tác phẩm v n học lãng mạn.
Theo Hà Minh Đức, “Cảm hứng l ch sử ở các nhà Thơ mới được nuôi dưỡng bằng tình
yêu quê hương, đất nước. Các nhà thơ không tìm đến l ch sử để khai thác những
chuyện kỳ lạ, hoặc lấy l ch sử làm cái cớ để mà thêu dệt, tô điểm theo những tưởng
tượng chủ quan. Trở về với l ch sử là thoát ly thực tại, cách hiểu thông thường đó chưa
nói hết được tâm trạng của các nhà thơ trong phong trào Thơ mới. Trở về với l ch sử là
13
một thái độ với hiện tại; một phản ứng với những ước mơ không được thực hiện, một
tâm trạng xót xa trong liên tưởng so sánh” [151, tr.165]. Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu,
Trương Chính, Phan Cự Đệ đều nhấn mạnh cảm hứng l ch sử trong một số sáng tác
của Nguyễn Tuân, đặc biệt là ở tập truyện Vang bóng một thời,...
1.1.2. Về tìm hiểu, nghiên cứu cảm hứng xê dịch trong v n h c iệt a nửa
đầu thế ỷ
(1900 – 1945)
1.1.2.1. Tron thơ
Có thể thấy cảm hứng xê d ch trong v n học Việt Nam nửa đ u thế k XX (1900
– 1945) xuất hiện sớm và đậm nét trước hết là trong thơ ca, mà Tản Đà là đại diện tiêu
biểu nhất. Nghiên cứu về thơ v n Tản Đà nói chung, đã có nhiều tác giả, nhà nghiên
cứu với nhiều công trình, bài viết giá tr nhưng chú ý đến cảm hứng xê d ch (hoặc có
liên quan đến cảm hứng xê d ch) trong thơ Tản Đà, trước hết c n nói đến là Dương
Quảng Hàm. Trong Vi t m v n h c s y u, Dương Quảng Hàm nhận thấy Tản Đà là
“say” và “không say” của thi sĩ. Tác giả viết: “Tản Đà không say để mà say. Trái lại,
14
phải hiểu say ở đây như một cách tiếp tục, hoàn tất ý nghĩa cuộc đời, tức là ý nghĩa của
một cuộc chơi. Tôi không thấy sự khác biệt giữa một Tản Đà say và một Tản Đà tỉnh.
Điều này không có nghĩa là Tản Đà say cả trong lúc tỉnh, dù trong cơn say, Tản Đà
luôn thể hiện một tâm hồn, một tác phong thu n nhất, nghĩa là luôn luôn chi có một
Tản Đà, hình ảnh một con người ngất ngưởng rong chơi trời đất, trong cuộc đời và
ngay cả trong thơ của mình” [58, tr.377]. Thú chơi giang hồ là cốt lõi trong thơ Tản
Đà, cho nên không có một hình thức ngôn ngữ nào nổi trội hơn “ngôn ngữ rong chơi,
đó là hồn thơ Tản Đà” [58, tr.377].
Bàn về phương diện nghệ thuật của cảm hứng xê d ch trong thơ Tản Đà, Nguyễn
Phương Hà có bài viết “Hình ảnh con đường trong thơ Tản Đà” [63]. Nội dung bài viết
đã làm rõ các khía cạnh có liên quan đến hình ảnh nghệ thuật – con đường trong thơ ca
thuộc đề tài xê d ch của thi sĩ ở các yếu tố: nguồn gốc, biểu hiện. Về nguồn gốc, tác
giả cho rằng: hình ảnh con đường trong thơ ca cổ điển nói chung xuất phát từ quyển
Đạo c kinh của Lão Tử, con đường là công cụ thuận tiện để xây dựng nên những
liên tưởng khác nhau về không gian và thời gian” [61]. Về mặt biểu hiện của hình ảnh
con đường trong thơ ca Tản Đà, tác giả tập trung sự chú ý vào hai biểu hiện quan trọng
là: con đường cụ thể và con đường biểu tượng. Theo đó, con đường cụ thể thể hiện qua
các khía cạnh: 1. on ườn hơ
i cảm xúc trữ tình 2. on ường xê d ch của thi
nh n; on ường mang tính biểu tư ng bao gồm 1. on ườn ời quanh co, 2. Con
ường hội ngộ của những bậ tà ho 3. on ườn ô ơn s u muộn. Nguyễn
Phương Hà kết luận là: “Con đường là hình ảnh không gian thường thấy trong thơ Tản
Đà. Nó biểu hiện dưới nhiều dạng: on ường cụ thể on ường biểu tư ng... Đây là
tín hiệu nghệ thuật đặc sắc, góp ph n đáng kể trong việc thể hiện thế giới nghệ thuật
thơ Tản Đà. Trong thơ trữ tình, mỗi chi tiết, hình ảnh đều mang một giá tr biểu cảm
nhất đ nh. Hình ảnh con đường chỉ là chi tiết nhỏ trong không gian nghệ thuật rộng lớn
Nếu Hoài Thanh và Hoài Chân nhận diện và phong th n phong cách cho một số nhà
Thơ mới nổi bật thì Đỗ Lai Thúy có cách tiếp cận khác. Thơ mới không chỉ có khuynh
hướng lãng mạn mà còn dung chứa cả những khuynh hướng khác mà Thi nhân Vi t
Nam chưa thực sự đào sâu như khuynh hướng tượng trưng, siêu thực ở giai đoạn phát
triển cuối cùng của nó. Và đây chính là điều đóng góp lớn nhất của Con mắt thơ mà
Đỗ Lai Thúy giới thiệu với bạn đọc. Theo Đỗ Lai Thúy, “Thơ mới không phải là một
giải phóng cái Tôi nữa, mà là một cuộc nổi loạn của cái Tôi cá nhân. Những kẻ nổi
loạn này đã vượt thoát khỏi hình mẫu tài tử Nho giáo và ông Tây An Nam”. Tác giả
cho rằng: “Đời sống đô th giải phóng con người trước hết ở không gian. Đ u tiên là
không gian đ a lý, sau đó – không gian xã hội, và cuối cùng – không gian tinh th n”
[162, tr.15]. Cũng theo Đỗ Lai Thúy, “Con người của xã hội th dân không còn sống
theo nh p đi muôn thuở của mùa màng, thời tiết nữa. Họ tuân theo nh p điệu của công
việc, của sự thành đạt cá nhân trong cuộc sống” [162, tr.15– 16]. Cái Tôi cá nhân
không còn giữ v trí khiêm nhường trước Không – Thời gian nữa, mà kiểm soát Không
– Thời gian theo ý chí chủ quan của mình.
Trong công trình V n h c lãng mạn Vi t Nam (1930 – 1945), Phan Cự Đệ đã
dành ph n thứ nhất để nghiên cứu về phong trào Thơ mới . Ph n này gồm 7 chương, đề
cập h u hết những khía cạnh cụ thể của Thơ mới như: L ch sử phong trào Thơ mới
chương 2); Quan điểm mỹ học của các nhà Thơ mới chương 3); Con đường bế tắc
của chủ nghĩa cá nhân chương 4); Những mặt tích cực và tiến bộ của phong trào Thơ
mới lãng mạn chương 5); Một số vấn đề nghệ thuật của phong trào Thơ mới lãng mạn
chương 6). Trong chương 4. Con đường bế tắc của chủ nghĩa cá nhân, ở mục Những
on ường thoát ly củ
nhà thơ lãn mạn, Phan Cự Đệ đã khái quát những th n
thái chung nhất về đặc trưng thoát ly của từng nhà Thơ mới , trong đó, tất yếu có cảm
hứng xê d ch. Tác giả viết: “Thế Lữ thoát lên tiên hoặc mơ ước hình ảnh khách chinh
phu dấn bước truân chuyên khắp hải hồ. Huy Thông đi tìm những giấc mộng anh hùng
trong l ch sử. Xuân Diệu mê man trong tình yêu say đắm. Thâm Tâm ấp ủ giấc mộng
người ly khách. Huy Cận đi vào vũ trụ tr ng sao. Còn Lưu Trọng Lư ngoảnh mặt lại
với mọi sự đau khổ, hướng cái nhìn vào một thế giới mơ màng...” [27, tr.83].
tranh chính tr tuy đã trải qua những tháng ngày bi quan, dao động nhưng không phải
trong họ không còn ít nhiều tâm sự. Họ đã tìm thấy trong sự mơ hồ của khách chinh
phu một niềm an ủi trong những ngày dài của một đời bằng phẳng, tẻ nhạt, vô v . Thứ
lý tưởng mà Thế Lữ đã đưa ra là một thứ lý tưởng vừa t m với số thanh niên tiểu tư
sản thành th đang bế tắc lúc đó. Người ta thấy yên tâm vì mình không phải là kẻ sống
hèn, sống nhục. Đồng thời ôm ấp thứ lý tưởng mơ hồ đó cũng không đến nỗi b tù tội
và nhất là không hại đến yêu đương” [27, tr.123].
Phan Cự Đệ cũng nhìn thấy: “Huy Thông muốn chúng ta sống mạnh mẽ, không
ch u tự hủy hoại một cách t m thường. Huy Thông không muốn thoát ly vào cõi tiên
mộng ảo hay tôn giáo. Thi sĩ muốn nhắc lại những tình cảm lớn của những anh hùng
trong l ch sử. Trong thời kỳ thoái trào những tình cảm lớn đó có thể góp ph n nhen lên
ít nhiều ngọn lửa trong những tâm hồn đã nguội lạnh vì sợ hãi, nhu nhược. Thơ của
Huy Thông chỉ đi tìm cái Đẹp trong những anh hùng chiến bại (Hạng Vũ, Kinh Kha).
Đó cũng là một biểu hiện của quan niệm nghệ thuật v nghệ thuật, một quan niệm đối
lập cái Đẹp với cái Hữu ích” [27, tr.123].
Tác giả cũng đánh giá khá cao hình tượng nhân vật người chinh phụ trong sáng
tác của Thâm Tâm và Tr n Huyền Trân – đó chính là sự phản chiếu trung thực của
tinh th n dân tộc trong thơ ca của họ: “Còn lại một chút gì đó có lẽ là ở Thâm Tâm,
Tr n Huyền Trân, những thi sĩ có ch u ảnh hưởng ít nhiều v n hóa cứu quốc bí mật.
Trong một số bài thơ của họ có phảng phất nỗi buồn của người nghệ sĩ không có tự do,
không có Tổ quốc (Độc hành ca, Chiều mư
Bắc của Tr n Huyền Trân; T ng bi t
hành, n trường hành của Thâm Tâm)... Cái không khí lãng mạn của một buổi tiễn
đưa người tráng sĩ qua sông D ch, ra đi không hẹn ngày về. Khách chinh phu thời
trước đã biến thành người ly khách trong thơ Thâm Tâm. Ấy thế mà bài thơ này anh
17
viết tặng cho một người bạn thoát ly gia đình đi hoạt động cứu quốc. Độc hành ca của
Tr n Huyền Trân cũng nhớ về một người bạn lên chiến khu, u uất như nhớ một kẻ độc
Đà. Ở Giấc mộng con I Tản Đà chỉ lấy tư liệu trên báo chí mà tả lại những nơi danh
thắng trên thế giới như thác nước Niagara ở Canada đền Taj- Mahal ở ấn Độ Kim Tự
Tháp ở Ai Cập... thế mà ông miêu tả sống động hứng thú y như là chính mình đã tới
chơi những nơi đó thật. Ở Giấc mộng con II, ông kể chuyện cuộc chơi lên thiên đình
gặp các danh nhân l ch sử thế giới và Việt Nam như Lư Thoa J.J.Rousseau) Đông
Phương Sóc, Khổng Tử, Hàn Thuyên, Nguyễn Trãi, Chiêu Quân, Dương Quý Phi... Qua
hai cuộc viễn du tưởng tượng tác giả muốn đưa mọi người đến những thế giới lý tưởng
diệu kỳ đến với những cảnh sắc tươi đẹp gặp gỡ những nhân vật tài hoa. Ở đó chỉ có cái
đẹp cái cao thượng tình yêu thương và lòng tôn trọng lẫn nhau khác hẳn cái xã hội xấu
xa nơi tr n giới. Tác phẩm vừa có giá tr hiện thực phê phán lại vừa có ý nghĩa lãng mạn
thể hiện những ước vọng nhân v n của tác giả. Tản Đà là người thích mở rộng và có một
trí tưởng tượng rất phong phú song nhiều khi mơ mộng tưởng tượng chỉ là những yếu tố
18
thi pháp trong cá tính sáng tạo của ông và điều đó không hề làm giảm giá tr phản ánh
hiện thực xã hội và ý nghĩa phê phán của tác phẩm” [67].
Phạm Xuân Thạch trong bài viết “Quá trình cách tân và những giới hạn trong sự
nghiệp sáng tác v n xuôi của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu” đã chỉ ra những thành tựu
cũng như hạn chế của v n xuôi Tản Đà, trong đó có mảng v n thuộc phạm trù xê d ch
của tác giả [152]. Theo Phạm Xuân Thạch sau những thiên tản v n và những sáng tác
thơ ca của buổi đ u trên v n đàn, Giấc mộng con I là tự sự dài hơi đ u tiên của ông.
Được xây dựng trên một cốt truyện phiêu lưu công thức sự di động của nhân vật trong
những không gian đ a lý xa lạ), cuốn sách trở thành nơi chốn giải tỏa những khát vọng,
những giấc mơ mà ông không thể nào thực hiện được trong đời sống hiện thực: tìm
kiếm người hồng nhan tri kỉ, khám phá và cải tạo thế giới. Giấc mộng con của Tản Đà
là một sự pha trộn giữa một truyện đối thoại truyền thống với một cốt truyện phiêu lưu
(loại cốt truyện hết sức hiếm hoi trong v n học trung đại Việt Nam) mà chủ âm rơi vào
yếu tố đối thoại. Mô hình tự sự này sẽ được Tản Đà tiếp tục sử dụng trong một dãy các
tự sự hư cấu tiếp theo cho đến tận n m 1932: Th n tiền, Giấc mộng con II, Thề non
19
chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của tính cách nhà v n mà thôi. Tác giả đã hóa thân
ra thành Nguyễn, Vi, Bạch, Hoàng, Thông Phu để tìm cách nói lên những khía cạnh
khác nhau của cái Tôi kênh kiệu, lập d , của cái Tôi nổi loạn đập phá, của cái Tôi
giang hồ lãng tử” [28; tr.110],...
Nguyễn Đ ng Mạnh trong bài viết giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Tuân khẳng đ nh:
“Trước Cách mạng Nguyễn Tuân không thuộc về những cây bút hoàn toàn thoát ly xã
hội, mất hẳn gốc rễ với cuộc đời. Con người ấy có thói quen đi để viết, để thỏa mãn
khát khao tự do, khao khát sự thoải mái, khao khát được ngắm trời, ngắm biển, được
thưởng thức cho đ y đủ, thỏa thuê vẻ đẹp của quê hương, đất nước mình... Một cái tôi
xê d ch và hưởng lạc coi cuộc đời như một trường đua du hí. Đi không mục đích và
qua những bức tranh ngoại cảnh đã bộc lộ chất thơ của một tâm hồn xê d ch” [230].
Hà V n Đức có nhận xét đáng chú ý về không gian nghệ thuật trong sáng tác về
đề tài xê d ch của Nguyễn Tuân. Tác giả viết: “Không gian có một sức cuốn hút mãnh
liệt đối với Nguyễn Tuân. Ông khao khát được tự do, được thỏa sức ngắm trời, ngắm
biển. Tâm hồn của nhà v n lãng mạn Nguyễn Tuân hướng tới sự xê d ch cũng là để
thỏa mãn những đòi hỏi của giác quan và thỏa sức những khoái cảm thẩm mĩ mà
những miền đất mới, xa lạ đem lại... Cái đẹp mà Nguyễn Tuân tìm kiếm trước hết là vẻ
đẹp của thiên nhiên, cảnh vật trên con đường xê d ch. Những cảnh sắc thiên nhiên của
nhiều vùng quê khác nhau được Nguyễn Tuân miêu tả thật đẹp, thật nên thơ, nên hoa”
“Nguyễn Tuân và cái đẹp”[47]).
Trong lời giới thiệu quyển Qu hươn của Nguyễn Tuân, Vương Trí Nhàn đã có
những ý kiến, nhận đ nh đáng chú ý về tư tưởng cũng như nghệ thuật của tác phẩm
Nguyễn Tuân, trong đó có ph n đề cập đến cảm hứng xê d ch của Nguyễn Tuân [241].
Nhà nghiên cứu đã chỉ ra tính chất tự truyện trong sáng tác về đề tài xê d ch của
Nguyễn Tuân: “Khi mang tên Hoàng, khi được gọi là Nguyễn, là Bạch, song các nhân
vật ở đây đều là những hoá thân của cùng một con người, là những biến điệu từ cùng
một tính cách. “Lòng kiêu c ng… đã xui ta chỉ chơi có một lối độc tấu” [241]. Bên
cạnh đó, Vương Trí Nhàn cũng nhấn mạnh đến đặc trưng trong chiều sâu xây dựng các
đồng nhất hoàn toàn, và những cá nhân đi tiên phong trong việc du nhập cái mới lạ của
phương Tây vào với cái xã hội đậm chất phương Đông này, sẽ chỉ trở thành vật hy
sinh cho những thể nghiệm phiêu lưu của họ” [241].
Hoài Anh cũng có nhận xét tương tự về sự dung hòa v n hóa Đông Tây trong
cảm hứng xê d ch của Nguyễn Tuân trong bài viết “Nguyễn Tuân, nhà nghệ sĩ ngôn từ
đã đưa cái đẹp th ng hoa” trong sách Nguyễn Tuân –
ườ
tìm
ẹp): “Ông
không phải là người n chơi trác táng trụy lạc như nhiều nghệ sĩ khác đương thời, mà
là một nghệ sĩ đi tìm cái Đẹp trong mọi biểu hiện của đời sống tr n gian …). Có
người cho rằng ông chỉ là tín đồ của André Gide tác giả cuốn Les Nourritures
terrestres (Thực phẩm tr n gian), một gidien môn đệ của Gide); nhưng đọc kỹ v n
ông mới thấy ông không chỉ ch u ảnh hưởng trào lưu cá nhân chủ nghĩa cực đoan
phương Tây mà có cốt cách của một tài tử, một kẻ giang hồ lạc phách phương Đông
kiểu Lý Bạch, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…” Dẫn theo [191, tr.225]).
Hoàng Nhân với bài viết “Có gì chung giữa Nguyễn Tuân và André Gide?” đã
chỉ ra những điểm tiếp biến lý thuyết xê d ch của André Gide của Nguyễn Tuân trên
phương diện nội dung cũng như hình thức nghệ thuật; xác đ nh đặc trưng trong quan
niệm xê d ch Nguyễn Tuân ở cả hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám [191,
tr.242– 246].
Nguyễn Thành nhấn mạnh đến mục đích của sự xê d ch trong sáng tác Nguyễn
Tuân: “Hoặc là chủ trương xê d ch, giang hồ. Đi là một cách quay lưng với những t m
thường, nhỏ nhặt của đời sống thường nhật. Nhưng với Nguyễn Tuân, đi còn là một
cứu cánh. Đi để tìm cái đẹp, thỏa mãn với những khát vọng tối thượng của người nghệ
sĩ – tài tử” dẫn theo [191, tr.232]).
Ra đi - xê d ch là một trong những cứu cánh để thoát ly thực tại. Tuy nhiên, cứu
cánh ấy cũng vấp phải sự bế tắc khi mà sức ám ảnh của chế độ thực dân nửa phong
kiến cứ vây lấy con người. Tôn Thảo Miên đã có nhận xét rất xác đáng về điều này:
“Một loạt bài viết của Nguyễn Tuân về đề tài “xê d ch” như C Đại, Chi c va ly mới,