I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRNG MINH HU
CáC BIệN PHáP CƯỡNG CHế HìNH Sự
ĐốI VớI NGƯờI DƯớI 18 TUổI TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2019
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRNG MINH HU
CáC BIệN PHáP CƯỡNG CHế HìNH Sự
ĐốI VớI NGƯờI DƯớI 18 TUổI TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
Chuyờn ngnh: Lut Hỡnh s v T tng hỡnh s
Mó s: 8380101.03
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. C HNG H
H NI - 2019
Đặc điểm của các biện pháp cƣỡng chế hình sự đối với ngƣời
dƣới 18 tuổi ...................................................................................... 14
1.3.
So sánh các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong
trƣờng hợp đƣợc miễn trách nhiệm hình sự đối với ngƣời
dƣới 18 tuổi với hình phạt .............................................................. 16
1.4.
Ý nghĩa của các biện pháp cƣỡng chế hình sự đối với ngƣời
dƣới 18 tuổi ...................................................................................... 19
1.5.
Quy định của pháp luật hình sự một số nƣớc về các biện
pháp cƣỡng chế hình sự đối với ngƣời dƣới 18 tuổi .................... 21
1.5.1.
Quy định của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga về các biện pháp
cưỡng chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi .................................. 21
1.5.2.
Quy định của Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa Kosovo về
các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi ........... 23
Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về
các biện pháp cƣỡng chế hình sự đối với ngƣời dƣới 18 tuổi .......... 40
2.2.1.
Kết quả đạt được trong áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự
Việt Nam về các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người
dưới 18 tuổi ....................................................................................... 40
2.2.2.
Những hạn chế trong áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự
Việt Nam về các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người
dưới 18 tuổi ....................................................................................... 44
2.2.3.
Nguyên nhân của hạn chế, sai lầm trong áp dụng quy định của
BLHS Việt Nam về các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với
người dưới 18 tuổi ............................................................................. 47
Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 54
Chƣơng 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC
BIỆN PHÁP CƢỠNG CHẾ HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI
18 TUỔI PHẠM TỘI TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG.................. 55
3.1.
Quan điểm bảo đảm áp dụng đúng quy định của BLHS Việt
Nam về các biện pháp cƣỡng chế hình sự đối với ngƣời dƣới
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Bảng 2.1
Số người dưới 18 tuổi bị đưa ra xét xử trên địa bàn thành
phố Hải Phòng giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017
Bảng 2.2
Trang
41
Số liệu áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với
người dưới 18 tuổi trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai
đoạn từ năm 2013 đến năm 2017
43
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi
thực hiện ở nước ta có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Từ năm 2006
đến năm 2017 cả nước xảy ra 95.474 vụ phạm pháp hình sự về trật tự xã hội
do người dưới 18 tuổi thực hiện, với tổng số 147.590 đối tượng [49]. Số vụ,
Nhận thức này đã được nhà làm luật thể chế hóa trong các quy định của
pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam.
Là đạo luật quan trọng quy định những vấn đề liên quan đến tư pháp
hình sự đối với người dưới 18 tuổi, BLHS năm 1999 và mới đây nhất là
BLHS năm 2015 đã dành nhiều điều khoản quy định về chính sách xử lý theo
hướng vì lợi ích tốt nhất của họ. Quá trình áp dụng các quy định của BLHS
đối với người dưới 18 tuổi những năm qua đã phát huy hiệu quả đáng kể trong
việc bảo vệ người dưới 18 tuổi trong tư pháp hình sự. Tuy nhiên, việc áp dụng
quy định có liên quan của BLHS đối với người dưới 18 tuổi vẫn còn gặp một
số khó khăn, vướng mắc. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển về mọi mặt của
đời sống xã hội và trước yêu cầu bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền lợi của người
dưới 18 tuổi theo tinh thần Công ước về quyền trẻ em, hệ thống tư pháp hình sự
hiện hành liên quan đến người dưới 18 tuổi, trong đó có các biện pháp giám
sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi cần có thêm những sửa đổi, bổ sung.
Với lý do đó, tác giả quyết định chọn vấn đề: Các biện pháp cưỡng chế
hình sự đối với người dưới 18 tuổi trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số
liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng) làm đề tài luận văn thạc sĩ
luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, ở các mức độ khác nhau đã có những công trình
khoa học đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài này hoặc trong các giáo
2
trình, sách chuyên khảo, bình luận khi nghiên cứu vấn đề người dưới 18 tuổi.
Tiêu biểu, có các công trình nghiên cứu sau đây:
- Thanh thiếu niên làm trái pháp luật, thực trạng và giải pháp, Trần
Đức Châm, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002;
- Tư pháp hình sự đối với người dưới 18 tuổi, những khía cạnh tội
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu như sách, giáo trình, luận án, luận văn, đề tài
khoa học, bài viết tạp chí… để làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa cũng như
các quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp cưỡng chế hình sự đối
với người dưới 18 tuổi.
Đánh giá thực tiễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với
người dưới 18 tuổi qua các bản án, số liệu thống kê về tình hình áp dụng các
biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi để làm sáng tỏ ưu
điểm, hạn chế, sai sót và nguyên nhân của hạn chế, sai sót trong áp dụng các
biện pháp này.
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích tài liệu, đánh giá thực tiễn, tác giả đưa ra
quan điểm và đề xuất giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp
luật hình sự về các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi. Các biện
pháp cưỡng chế hình sự là hình phạt và các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng
trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự. Hình phạt được quy định trong
Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm: Cảnh cáo, Phạt tiền, Cải tạo không giam giữ,
Tù có thời hạn. Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp
được miễn trách nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015
gồm: Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn và
giáo dục tại trường giáo dưỡng.
4
4.2. Phạm vi nghiên cứu
ra các giải, pháp kiến nghị việc hoàn thiện các quy định đối với việc xử lý
người dưới 18 tuổi bằng các biện pháp cưỡng chế hình sự, từ đó tăng cường
hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người
dưới 18 tuổi.
Chương 2: Quy định của BLHS Việt Nam về các biện pháp cưỡng chế
hình sự đối với người dưới 18 tuổi và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định
của BLHS Việt Nam về các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người dưới
18 tuổi tại thành phố Hải Phòng.
6
Chƣơng 1
LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP CƢỠNG CHẾ HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI
1.1. Khái niệm các biện pháp cƣỡng chế hình sự đối với ngƣời dƣới
18 tuổi
Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm
sinh lý, chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
mà mình thực hiện. ở tuổi này, các em phát triển mạnh tính độc lập, muốn
tách khỏi sự quản lý, kiểm soát của gia đình, phát triển mạnh cá tính và muốn
tìm kiếm những mối quan hệ bạn bè cùng lứa. Nhu cầu về tình bạn trở nên
quan trọng và dễ chịu ảnh hưởng (tốt cũng như xấu) của nhóm bạn đó. Khi
mong muốn điều gì, các em muốn được thỏa mãn nhu cầu ngay và có thể
hành động bất chấp hậu quả, trong khi về mặt tư duy các em chưa phát triển
sinh quan và thế giới quan để hình thành toàn bộ những đặc điểm tâm - sinh
lý của một người bước vào độ tuổi thành niên. ở người dưới 18 tuổi đang diễn
ra một sự biến đổi sâu sắc về sinh học, có những mâu thuẫn gay gắt trong sự
phát triển nhân cách - tâm lý. Sự phát triển về thể chất và về các đặc điểm
nhân thân khác của người dưới 18 tuổi chịu sự tác động có tính quyết định
của môi trường sống và dẫn đến một thực tế là: Họ không biết, hiểu sai hoặc
không chấp nhận các chuẩn mực hiện hành. Vì vậy, pháp luật hình sự Việt
Nam không coi người dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự như
người đã thành niên phạm tội. Do đó, khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử,
trong mọi trường hợp, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định khả năng
nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của người dưới 18 tuổi, đồng thời
cũng phải xác định được nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
Nói chung, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, căn cứ vào các quy
định của BLHS, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18
tuổi thực hiện, cũng như các đặc điểm liên quan đến tâm - sinh lý, điều kiện
8
kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, lịch sử, truyền thống của nước ta, về cơ bản
các nhà khoa học đều thống nhất về khái niệm người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên,
trên cơ sở kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, khảo sát về tâm lý, đúc
kết kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như căn cứ
vào chính sách hình sự của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi, pháp luật
hình sự Việt Nam đã quy định khái niệm người dưới 18 tuổi chỉ bao gồm
những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội là tội phạm được quy định trong BLHS.
GS.TSKH. Lê Cảm và PGS.TS. Đỗ Thị Phượng đưa ra khái niệm người
dưới 18 tuổi tương đối đầy đủ và lập luận việc quy định trong pháp luật hình
sự về người dưới 18 tuổi chủ yếu nhằm xác định tính chất tội phạm đối với
năm 2013, BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Luật xử lý vi phạm
hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản
pháp luật đó đều những quy định riêng, những chế định pháp luật riêng đối
với người dưới 18 tuổi trong từng lĩnh vực cụ thể.
Để xác định một người dưới 18 tuổi phải có đầy đủ các căn cứ sau:
- Có hành vi phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện. Căn cứ này xuất
phát từ cơ sở của trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 2
BLHS: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu
trách nhiệm hình sự” [44].
- Người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
tương ứng với loại tội phạm được quy định trong BLHS.
Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm khoa học về người
dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự như sau: Người dưới 18 tuổi phải
chịu trách nhiệm hình sự là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đã thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm.
Các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi được quy
10
định tại chương XII của BLHS năm 2015. Tuy hiện nay chưa có một khái
niệm chính thức nào khái niệm về các biện pháp cưỡng chế hình sự nhưng các
nhà luật học đều thống nhất rằng biện pháp cưỡng chế hình sự bao gồm: hình
phạt và các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn
trách nhiệm hình sự.
Hình phạt được coi là chế tài nghiêm khắc nhất của Nhà nước dành cho
người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.
Hình phạt được Nhà nước sử dụng như là một công cụ hữu hiệu trong cuộc
đấu tranh phòng, chống tội phạm để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội
qua các thời kỳ, pháp luật hình sự Việt Nam đã thể hiện tư tưởng này trong
các quy định của BLHS. BLHS năm 1999 không quy định trực tiếp nguyên
tắc “lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu” trong hoạt
động tư pháp đối với người dưới 18 tuổi mà chỉ phản ánh nguyên tắc này tại
một số điều khoản trong Chương X của BLHS. Đến BLHS năm 2015, lần đầu
tiên đã quy định trực tiếp về nguyên tắc này tại khoản 1 Điều 91. Cụ thể,
khoản này quy định việc xử lý người dưới 18 tuổi phải “bảo đảm lợi ích tốt
nhất của người dưới 18 tuổi” và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ
sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người có ích cho xã hội.
Xuất phát từ bản chất của những biện pháp này như đã phân tích ở trên
và quy định của BLHS năm 2015, chúng tôi đưa ra khái niệm các biện pháp
cưỡng chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi như sau: Các biện pháp cưỡng
chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi là các biện pháp do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nhằm mục đích
giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành
người có ích cho xã hội.
Các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi bao gồm:
hình phạt và các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được
miễn trách nhiệm hình sự là: khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại
xã, phường, thị trấn và giáo dục tại trường giáo dưỡng.
12
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước
được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người
hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi
ích của người, pháp nhân thương mại đó.
Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn
trách nhiệm hình sự là các biện pháp cưỡng chế hình sự do BLHS quy định,
18 tuổi có những đặc điểm chung của các biện pháp cưỡng chế hình sự áp
dụng đối với người phạm tội (nói chung) và có những đặc điểm riêng của các
biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi.
Thứ nhất, các biện pháp cưỡng chế hình sự là biện pháp thể hiện trách
nhiệm hình sự của một cá nhân khi người đó có hành vi phạm tội. Các biện
pháp cưỡng chế hình sự là chế tài của pháp luật hình sự do vậy nó phải được
quy định trong BLHS (cụ thể tại Chương XII BLHS năm 2015).
Các biện pháp cưỡng chế hình sự có thể được áp dụng trong những giai
đoạn tố tụng hình sự khác nhau. Khác với hình phạt chỉ được áp dụng thông
qua bản án của Tòa án, các biện pháp cưỡng chế hình sự có thể được áp dụng
ở những giai đoạn tố tụng khác.
Thứ hai, các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi
trước hết là một biện pháp của pháp luật hình sự và chỉ có thể được áp dụng
đối với người dưới 18 tuổi.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam là trách
nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với cá nhân người phạm tội, do đó, với tư cách là
một các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước nên các biện pháp cưỡng
chế hình sự chỉ có thể được áp dụng khi có sự việc phạm tội xảy ra. Nếu sự việc
phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện thì trong trường hợp nếu thấy không
cần thiết phải áp dụng hình phạt thì Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng
chế hình sự. Như vậy biện cưỡng chế hình sự áp dụng đối với người dưới 18 tuổi
theo quy định của pháp luật hình sự chỉ có thể được áp dụng khi có hành vi
phạm tội và chủ thể của hành vi này là người dưới 18 tuổi.
14
Thứ ba, hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác là những
biện pháp cưỡng chế của Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội, tuy nhiên
hình phạt được coi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống
điều khiển hành vi của người phạm tội. Biện pháp này không như hình phạt,
người bị kết án có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế các quyền tự do, quyền về tài
sản, thậm chí là cả quyền sống [18, tr. 54]
Thứ tư, các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người dưới 18 tuổi là
các biện pháp cưỡng chế hình sự do cơ quan có thẩm quyền áp dụng.
Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn
trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi được chia làm 02 loại: Loại
thứ nhất là các biện pháp hỗ trợ cho hình phạt và loại thứ hai là các biện pháp
thay thế cho hình phạt. Những các biện pháp hỗ trợ cho hình phạt có thể do cơ
quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng, nghĩa là ngoài Tòa án thì tùy
theo giai đoạn tố tụng các cơ quan tố tụng khác như Viện kiểm sát có thể ra
quyết định áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường
hợp được miễn trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, các biện pháp giám sát,
giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự thay thế
hình phạt chỉ được áp dụng theo quyết định của Tòa án.
1.3. So sánh các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trƣờng
hợp đƣợc miễn trách nhiệm hình sự đối với ngƣời dƣới 18 tuổi với hình phạt
Để làm rõ hơn những đặc điểm của các biện pháp giám sát, giáo dục áp
dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự áp dụng với người dưới
18 tuổi, cần so sánh, đối chiếu với đặc điểm của hình phạt.
Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn
trách nhiệm hình sự và hình phạt giống nhau ở chỗ: các biện pháp giám sát,
giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và hình
phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi là những các biện pháp cưỡng chế
hình sự dành cho người dưới 18 tuổi nên về cơ bản hai loại chế tài này có những
16
điểm giống nhau như đều là chế định quan trọng về trách nhiệm hình sự của Nhà
Về chủ thể có thẩm quyền áp dụng và đối tượng bị áp dụng: Một hình
phạt chỉ được áp dụng theo kết quả của một bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Tại Hiến pháp năm 2013 quy định: "Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án
nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là
những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [43].
Như vậy, chỉ có Tòa án có quyền nhân danh Nhà nước tuyên một người là có
tội và áp dụng hình phạt, ngoài ra không còn có cơ quan nào khác có quyền
quyết định hình phạt. Đồng thời, hình phạt cũng chỉ áp dụng đối với người bị
kết án nói riêng. Trong khi đó, tại các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng
trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi
mang tính hỗ trợ đối với hình phạt thì ngoài Tòa án có thẩm quyền áp dụng
đối với người bị kết án thì các cơ quan tư pháp hình sự khác cũng có thẩm
quyền áp dụng biện pháp này căn cứ vào giai đoạn tố tụng cụ thể tương ứng.
Bên cạnh đó, khác với đối tượng bị áp dụng của hình phạt, khi các biện pháp
giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự
được áp dụng có các chủ thể khác cùng tham gia thực hiện.
Về điều kiện áp dụng (ranh giới giữa áp dụng hình phạt và áp dụng các
biện pháp cưỡng chế hình sự): Giữa hình phạt và các biện pháp giám sát, giáo
dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự mang tính hỗ
trợ cho hình phạt có sự rõ ràng trong điều kiện áp dụng, thể hiện ở chính bản
chất vốn có của nó, vấn đề chỉ đặt ra đối với sự phân biệt trong điều kiện áp
dụng hình phạt và điều kiện áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng
trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự mang tính thay thế hình
phạt. Như đã phân tích ở phần nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi, với mục
đích tăng cường áp dụng các biện pháp khác thay thế hình phạt, thì các biện
pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm
hình sự được ưu tiên áp dụng. Khi xét thấy trong trường hợp không cần thiết
18