VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ VĂN TA
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ VĂN TA
TÌNH HÌNH CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
Ngành : Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số : 8.38.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HỒ SỸ SƠN
HÀ NỘI, năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
với dự báo tình hình tội phạm này và khả năng phòng ngừa ....................................51
3.3. Tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và vấn đề đặt ra
đối với việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa .....................................................55
3.4. Tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và vấn đề đặt ra
đối với tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình các tội này ..............63
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ANTQ
: An ninh tổ quốc
BLHS
: Bộ luật hình sự
CSND
: Cảnh sát nhân dân
ĐTPT
: Đối tượng phạm tội
MTTH
: Ma túy tổng hợp
2014 đến năm 2018 ...................................................................................................24
Bảng 2.6. Diễn biến của tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
từ năm 2014 đến năm 2018 trong so sánh định gốc..................................................25
Bảng 2.7. Diễn biến của tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
từ năm 2014 đến năm 2018 trong so sánh liền kề. ....................................................26
Bảng 2.8. Thống kê số lượng các loại chất ma túy thu giữ trong các vụ án về ma túy
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018 .......................................28
Bảng 2.9. Cơ cấu tình hình tội phạm xét theo hình phạt cấp sơ thẩm các bị cáo trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018 ..............................................35
Bảng 2.10. Cơ cấu tình hình tội phạm xét theo lứa tuổi bị cáo phạm các tội về ma
túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018 .................................36
Bảng 2.11. Cơ cấu tình hình tội phạm theo nghề nghiệp của các bị cáo phạm tội về
ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018 ...........................38
Bảng 2.12. Cơ cấu theo giới tính của bị cáo phạm tội về ma túy trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018 ..................................................................39
Bảng 2.13. Cơ cấu theo tiền án, tiền sự các đối tượng phạm tội về ma túy trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018 ....................................................40
Bảng 3.1. Thống kê người nghiện phát hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm
2014 đến năm 2018 ...................................................................................................49
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Nam là tỉnh duyên hải miền Trung, có vị trí quan trọng về kinh tế - xã
hội, an ninh quốc phòng ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Từ khi tái lập tỉnh
đến nay, Quảng Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh
tế - xã hội, khai thác tốt tiềm năng của mình và trở thành một tỉnh có tốc độ phát
triển khá nhanh trong khu vực.
Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác quản lý xã hội, nhất
là trên lĩnh vực phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn
ngừa, ngăn chặn tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, tình hình tội phạm về
ma túy trên địa bàn tỉnh thời gian gần đây có chiều hướng gia tăng, tiềm ẩn nhiều yếu tố
tác động xấu đến quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công tác
đảm bảo an ninh trật tự của tỉnh trong thời gian tới nói riêng. Báo cáo tổng kết tình hình,
công tác năm 2018 của Công an tỉnh Quảng Nam đã đánh giá: “… Hoạt động của tội
phạm còn diễn biến phức tạp, manh động và liều lĩnh hơn, đặc biệt tội phạm theo băng
nhóm, tội phạm về ma túy, tội phạm trong độ tuổi thanh thiếu niên có xu hướng gia tăng,
số vụ án giết người, trộm cắp, cướp, cướp giật tài sản ... còn xảy ra nhiều”.
Cùng với đó, số lượng người nghiện ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng, nhiều địa bàn mới xuất hiện người
nghiện ma túy. Trong 5 năm (từ năm 2014 đến năm 2018) trên địa bàn toàn tỉnh đã
phát hiện và đưa vào trung tâm cai nghiện 1527 lượt người nghiện ma túy. Đến cuối
năm 2018 trên địa bàn toàn tỉnh có 1922 người sử dụng ma tuý có hồ sơ quản lý. Số
người nghiện ma túy tổng hợp đang gia tăng nhanh, MTTH gây nghiện nhanh, có
sức phá hủy mạnh đối với hệ thống thần kinh người sử dụng, dù là một lần. Trên
thực tế, số lượng người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý không phải là tất cả, có
nghĩa là trong xã hội vẫn còn có một số lượng lớn người nghiện ma túy chưa được
quản lý.
Nhờ áp dụng nhiều biện pháp đa dạng khác nhau để phòng ngừa tình hình tội
phạm về ma túy, nên đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, các giải
pháp này chưa toàn diện, bởi chưa được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu
chuyên sâu về tình hình loại tội phạm này, nên còn hạn chế trong khắc phục, hạn
2
chế nguyên nhân và điều kiện của nó. Mặt khác do nhận thức chưa thật thống nhất
về những vấn đề lý luận và thực tiễn tình hình tội phạm về ma túy nên công tác chỉ
đạo điều hành của các cấp chính quyền đến sự phối hợp, chưa phát huy được sức
mạnh tổng hợp của các ban ngành, đoàn thể trong công tác.
về ma tuý ở những cấp độ, địa phương và khía cạnh khác nhau. Có thể liệt kê
những công trình sau đây:
Ở cấp độ luận án tiến sỹ có các công trình nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ luật
học, “Đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh”, của Huỳnh Văn Em, Học viện Khoa học xã hội, bảo vệ năm 2015 tại
Học viện Khoa học xã hội; Luận án tiến sĩ luật học “Đấu tranh phòng, chống các
tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Sơn La” của tác giả Trần Ngọc Hương, Viện
Nhà nước và Pháp luật, bảo vệ năm 2009 tại Học viện Khoa học xã hội; Luận án
tiến sĩ luật học “Phòng ngừa các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay”, của tác giả Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh, bảo vệ năm 2015 tại Học viện Khoa
học xã hội; Luận án tiến sĩ luật học “Các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Điện
Biên: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, của tác giả Đỗ Thành
Trường, bảo vệ năm 2017 tại Học viện Khoa học xã hội.
Ở cấp độ luận văn thạc sỹ, có các công trình nghiên cứu như: Luận văn thạc sĩ
luật học “Đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma túy ở Việt Nam - Thực trạng
và giải pháp” của tác giả Đinh Thị Mai, Viện Nhà nước và pháp luật, bảo vệ năm
2009 tại Học viện Khoa học xã hội; Luận văn thạc sĩ luật học “Phòng ngừa các tội
phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Lai Châu” của tác giả Đỗ Tiến Dũng bảo vệ năm
2009 tại Học viện Khoa học xã hội; Luận văn thạc sĩ luật học “Đấu tranh phòng,
chống tội mua bán trái phép chất ma tuý trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” của tác
giả Nguyễn Tấn Anh bảo vệ năm 2013 tại Học viện Khoa học xã hội; Luận văn thạc
sĩ luật học “Đấu tranh phòng, chống tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma tuý hoặc chiếm đoạt chất ma tuý trên địa bàn thành phố Hải Phòng” của
tác giả Chu Thị Thanh Vân bảo vệ năm 2013 tại Học viện Khoa học xã hội; Luận
văn thạc sĩ luật học “Phòng ngừa tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng” của tác giả Phạm Văn Tích, bảo vệ năm 2019 tại Học viện
Khoa học xã hội...
4
- Nghiên cứu tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ
năm 2014 đến năm 2018
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội
phạm.
- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi địa bàn tỉnh
Quảng Nam.
- Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu số liệu thống kê và các tài liệu có
liên quan trong phạm vi thời gian từ năm 2014 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh. Những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước về phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia,
trật tự an toàn xã hội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng hợp lý và linh hoạt các phương pháp
nghiên cứu sau: Phương pháp thống kê, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu điển hình,
nghiên cứu hồ sơ vụ án, bản án, điều tra xã hội học, phân tích số liệu, so sánh, hệ
thống, kế thừa…
- Chất liệu nền tảng cho quá trình nghiên cứu là: Chương trình phòng chống
tội phạm ma túy, hệ thống kế hoạch phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam, báo cáo tổng kết, số liệu thống kê của Tòa án, Công an các bản án xét xử sơ
thẩm; các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan và bài viết trên các tạp chí,
báo chí.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
người. Xã hội loài người tồn tại và phát triển được là có sự tồn tại của những chuẩn
mực chung gọi là chuẩn mực xã hội, những chuẩn mực này hướng dẫn và điều
chỉnh mọi cá nhân trong xã hội để duy trì sự vận động và phát triển chung của xã
hội. Lịch sử loài người phát triển qua nhiều giai đoạn và các quy chuẩn xã hội cũng
không ngừng phát triển và hoàn thiện, và sự hoàn thiện đó chính là sự ra đời của
pháp luật, bắt buộc mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội phải thực hiện hành vi của
mình theo chuẩn mực đó.
Trải qua các giai đoạn phát triển, không tránh khỏi việc vi phạm các chuẩn
mực xã hội được đặt ra, hay còn gọi là vi phạm pháp luật, từ đó sinh ra hiện tượng
tội phạm. Tội phạm không ngừng phát triển và tăng thêm về cả số lượng, tính nguy
hiểm mặc dù Nhà nước đã đặt ra những hình phạt nghiêm khắc nhất. Tội phạm xẩy
ra không chỉ ở một hay hai quốc gia mà xẩy ra ở hầu hết các quốc gia, điều đó đòi
hỏi con người không ngừng tìm hướng giải quyết đối với vấn đề tội phạm theo các
cách tiếp cận khác nhau.
Từ khi hình thành cho đến nay, Tội phạm học có nhiều khái niệm về tình hình
tội phạm như: Tình hình tội phạm là một hiện tượng tâm - sinh lý xã hội tiêu cực
mang tính lịch sử cụ thể và pháp lý hình sự, có tính giai cấp và được biểu hiện
thông qua tổng thể các tội phạm cùng các chủ thể thực hiện các tội phạm đó trong
một đơn vị hành chính lãnh thổ nhất định và trong một thời gian cụ thể nhất định
[22, tr.10].
Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang
tính giai cấp và thay đổi theo quá trình lịch sử, được thể hiện ở tổng hợp các tội
phạm cụ thể đã xảy ra trong xã hội và trong khoảng thời gian nhất định [32, tr.91]
8
Tình hình tội phạm là hiện tượng tâm - sinh lý xã hội tiêu cực, vừa mang tính
lịch sử và lịch sử cụ thể, vừa mang tính pháp lý hình sự với hạt nhân là tính giai
cấp, được biểu hiện thông qua tổng thể các hành vi phạm tội cùng với các chủ thể
những trình tự thủ tục áp dụng cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các hành
vi phạm tội và người phạm tội. Một khi tương quan về lực lượng giữa các giai cấp
trong xã hội thay đổi thì THTP cũng có sự thay đổi. Vì vậy, khi nghiên cứu THTP
thì phải xem xét nó trong sự tương quan về lợi ích của các giai cấp trong xã hội,
phòng ngừa tội phạm phải kết hợp với đấu tranh giai cấp và giảm thiểu những xung
đột và mâu thuẫn trong xã hội.
Thứ tư, THTP là hiện tượng vận động thay đổi theo quá trình lịch sử: Đặc
điểm lịch sử của THTP được thể hiện ở việc THTP là hiện tượng thay đổi theo quá
trình lịch sử. THTP không phải là hiện tượng bất biến trong xã hội mà nó có sự thay
đổi và mất đi trong những điều kiện lịch sử nhất định. THTP có thể thay đổi tùy
thuộc vào sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau trong lịch sử,
thậm chí trong cùng một hình thái kinh tế xã hội nếu có sự thay đổi về cơ cấu kinh
tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu giai cấp thì THTP cũng có sự thay đổi. THTP luôn có sự
vận động và thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử, tuy vậy đây đúng hơn là
mặt trái không mong muốn của sự phát triển.
Thứ năm, với tính cách là hiện tượng xã hội tiêu cực, THTP bao giờ cũng gắn
với “phạm vi” không gian và thời gan nhất định. Vấn đề là ở chỗ, trên thực tế
không có khái niệm tình hình tội phạm “phi không gian’’ và “phi thời gian”. Chính
những cái quyết định luận của nó, tức nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
phạm cũng xuất hiện, tồn tại và phát triển trong phạm vi không gian và phạm vi thời
gian nhất định. Chính dấu hiệu này phản ánh “địa tình hình tội phạm” và “địa
nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm. Bởi vậy, tình hình tội phạm phải
được nghiên cứu gắn với những “địa bàn” nhất định và những khoảng thời gian nhất
định: 5 năm, 10 năm, 15 năm. Chính không gian và thời gian nghiên cứu đó cho
thấy được tính quy luật của tình hình tội phạm với tính cách là hiện tượng xã hội
tiêu cực.
Thứ sáu, tình hình tội phạm là khái niệm (phạm trù) mang tính tổng thể, hiểu
ở mức khái quát cao hơn hành vi phạm tội cụ thể. Nói cách khác, tình hình tội phạm
bao hàm trong nó tất cả những tội phạm đã xảy ra trên thực tế và tất cả những người
có nguồn gốc phát sinh bởi các điều kiện xã hội cơ bản. Từ khái niệm tình hình tội
phạm, có thể đưa ra khái niệm về tình hình tội phạm về ma túy như sau: “Tình hình
11
tội phạm về ma túy là một hiện tượng xã hội tiêu cực mang tính giai cấp, trái pháp
luật hình sự, có sự vận động thay đổi theo lịch sử cụ thể và được biểu thiện thông
qua các chủ thể thực hiện hành vi phạm tội và tội phạm về ma túy trong khoản thời
gian và không gian nhất định”.
Phân tích, đánh giá THTP về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm
2014 đến năm 2018 có thể xác định rõ quy mô của hiện tượng xã hội trên địa bàn
một đơn vị hành chính cấp tỉnh trong một khoảng thời gian nhất định, thể hiện giai
đoạn phát triển nhất định của THTP. Hay có thể nói, bên cạnh những dấu hiệu, đặc
điểm chung của THTP, các yếu tố cấu thành THTP về ma túy còn biểu hiện ở các
thông số về lượng, về chất, cơ cấu, tính chất của nó. THTP về ma túy là một hình
thức biểu hiện cụ thể, riêng, đặc trưng của một nhóm tội phạm quy định trong
BLHS. Chỉ có thể đánh giá đúng hiện thực của THTP về ma túy trên cơ sở nắm
vững các thông số phản ánh về thực trạng, động thái, cơ cấu và tính chất của THTP
về ma túy trong sự vận động theo thời gian ở một địa bàn hành chính - lãnh thổ.
Tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh tỉnh Quảng Nam từ năm
2014 đến năm 2018 là một chỉnh thể bao gồm hai phần: Phần hiện (còn được gọi là
tội phạm rõ) và phần ẩn (còn được gọi là tội phạm ẩn). Lý luận về tội phạm học ở
Việt Nam cho rằng không phải mọi tội phạm diễn ra trên thực tế đều được phát hiện
và xử lý về hình sự, tức là đã bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và được thống kê
hình sự (tội phạm rõ); phần ẩn được hợp thành từ những hành vi phạm tội đã được
thực hiện trên thực tế nhưng chưa bị các cơ quan chức năng phát hiện, chưa bị xử lý
hình sự hoặc chưa có trong thống kê hình sự.
Tội phạm học đi nghiên cứu về tình hình tội phạm, quá trình nghiên cứu chỉ ra
được nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm. Bên cạnh đó tình hình tội
phạm hiện (rõ) và phần tội phạm ẩn của nó bởi vì không phải tất cả mọi tội phạm
xảy ra trong xã hội đều được các cơ quan chức năng phát hiện, điều tra, truy tố, xét
xử hình sự và đưa vào thống kê hình sự một cách đầy đủ.
Có thể có những vụ việc tội phạm xảy ra nhưng không bị phát hiện hoặc chưa
bị các cơ quan chức năng phát hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau, có nguyên
nhân chủ quan và khách quan. Vì thế, để đánh giá một cách khách quan, toàn diện
về thực trạng tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, tác giả
luận văn này tập trung nghiên cứu làm rõ phần hiện (rõ), phần ẩn của tình hình tội
phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
13
Việc phân tích, đánh giá phần tội phạm hiện (rõ) là không thể đầy đủ nếu
không nghiên cứu các chỉ số khác mà một trong số đó là động thái (diễn biến) của
tình hình tội phạm.
1.2.2. Động thái (diễn biến) của tình hình tội phạm về ma túy
Động thái (diễn biến) của tình hình tội phạm được hiểu “ là sự vận động và sự
thay đổi về thực trạng và cơ cấu của tình hình tội phạm tại một không gian và thời
gian nhất định (một năm, năm năm, mười năm...)” [30, tr.20]. Đó cũng là cơ sở để
nhận thức khái niệm về động thái (diễn biến) của tình hình tội phạm về ma túy. Sự
vận động và thay đổi đó được xác định bằng tỷ lệ tăng hoặc giảm của thực trạng và
cơ cấu tình hình tội phạm về ma túy so với thời gian được chọn làm gốc để so sánh,
đối chiếu.
Kết quả nghiên cứu tình hình tội phạm về ma túy trên một địa bàn và trong
một khoảng thời gian dài (nhất định) sẽ giúp chúng ta xác định được quy luật (xu
hướng) vận động của tình hình tội phạm về ma túy. Kết quả nghiên cứu về động
thái (diễn biến) của tình hình tội phạm về ma túy cũng là cơ sở cho việc dự báo tình
hình tội phạm về ma túy trong thời gian tới và xây dựng chương trình, kế hoạch
hoạt động, các giải pháp phòng, chống tội phạm về ma túy. Bên cạnh đó, kết quả
nghiên cứu động thái (diễn biến) của tình hình tội phạm sẽ là cơ sở để nhà làm luật
chất của tình hình tội phạm chính là kết quả của sự đánh giá đối với mức độ, cơ cấu
và động thái của tình hình tội phạm [29,tr. 19]. Theo cách hiểu đó, thì tính chất của
tình hình tội phạm về ma túy là kết quả của sự đánh giá đối với động thái, mức độ
và cơ cấu và của tình hình tội phạm về ma túy.
Tính chất của tình hình tội phạm về ma túy thể hiện trong số lượng của các tội
phạm nguy hiểm nhất cho xã hội, trong cơ cấu của tình hình tội phạm nói chung cũng
như ở các đặc điểm nhân thân của những người thực hiện tội phạm về ma túy. Tính
chất của tình hình tội phạm về ma túy được làm sáng tỏ thông qua cơ cấu của nó.
Trong quá trình nghiên cứu tình hình tội phạm về ma túy thì không thể chỉ
nghiên cứu về tội phạm hiện (rõ) mà còn phải nghiên cứu cả về phần ẩn của tình
hình tội phạm này để có kế hoạch dự báo tình hình tội phạm và vạch ra các biện
pháp phòng ngừa một cách có hiệu quả.
1.3. Phần ẩn của tình hình tội phạm về ma túy
Tình hình tội phạm về ma túy như đã nhấn mạnh gồm hai phần: Phần hiện và
15
phần ẩn. Để làm rõ phần ẩn của tình hình tội phạm về ma túy, trước hết cần nhận
thức rõ “tội phạm ẩn là gì?”, “phần ẩn của tình hình tội phạm về ma túy là gì? Tội
phạm ẩn là tội phạm (cụ thể) đã xảy ra song với nhiều lý do không bị xử lý hoặc đã
bị xử lý nhưng không nằm trong phông thống kê tình hình tội phạm này của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Theo cách hiểu này, phần ẩn của tình hình tội phạm
về ma túy được hiểu là tổng thể các hành vi phạm tội đã xảy ra trong thực tế, song
không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, xử lý theo quy định của
pháp luật hình sự hoặc không có trong thống kê hình sự.
Tội phạm ẩn nói chung và tội phạm ẩn về ma túy nói riêng có thể bị ẩn với
nhiều lý do khác nhau mà người thực hiện hành vi phạm tội đã không bị phát hiện,
xử lý hoặc chưa được đưa vào thống kê hình sự.
Tình hình tội phạm ẩn được chia thành hai loại cơ bản đó là tội phạm ẩn khách
phạm tội khác ngoài hành vi phạm tội đang bị xử lý lại không bị phát hiện. Ngoài
ra, có thể cơ quan chức năng còn chưa chủ động, chưa nổ lực trong công việc áp
dụng các biện pháp để phát hiện tội phạm cũng như sự yếu kém về năng lực chuyên
môn nghiệp vụ của cán bộ trực tiếp thụ lý hồ sơ vụ án.
1.4. Những yếu tố xã hội tác động đến tình hình tội phạm về ma túy
Tội phạm cụ thể xảy ra trên thực tế là kết quả của sự tác động con người
(phạm tội) có đặc điểm nhân thân tiêu cực với những hoàn cảnh, tình huống (phạm
tội) tồn tại khách quan bên ngoài cá nhân đó. Các yếu tố trong môi trường sống luôn
tác động lẫn nhau làm cho môi trường sống của con người luôn biến đổi, gây ra các
tác động mạnh mẽ đến tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm về ma
túy nói riêng. Với tính cách là hiện tượng (yếu tố, quá trình…) xã hội tiêu cực, tình
hình tội phạm về ma túy (hợp thành từ những trường hợp tội phạm về ma túy cụ thể
đã xảy ra trên thực tế), theo logic những yếu tố tác động làm phát sinh tình hình các
tội phạm này phải là những yếu tố tiêu cực. Tất nhiên, những yếu tố xã hội tích cực
cũng tác động đến tình hình các tội phạm về ma túy nhưng với tư cách là cái làm
kìm hãm, kéo giảm tình hình tội phạm chứ không phải là nguyên nhân và điều kiện
của tình hình tội phạm về ma túy. Nhận thức này có ý nghĩa phương pháp luận to
lớn đối với phòng ngừa tình hình tội phạm về ma túy.
Như vậy, trong số những yếu tố xã hội tác động làm phát sinh tình hình tội
phạm có các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống, trong đó có những yếu tố tiêu
cực trong môi trường địa lý - tự nhiên, những yếu tố tiêu cực trong môi trường gia
17
đình; những yếu tố tiêu cực trong môi trường nhà trường; những yếu tố tiêu cực
trong môi trường xã hội mà Nhà nước là chủ thể quản lý. Bên cạnh đó, góp phần tác
động làm phát sinh tình hình tội phạm là những sai lệch thuộc cá nhân con người về
ý thức pháp luật, về xem thường các nghĩa vụ công dân; sai lệch trong quá trình
động cơ hóa hành vi của cá nhân; sai lệch về sở thích, nhu cầu và trong nhận thức
trình nghiên cứu, làm nền tảng cho việc nghiên cứu các vấn đề về tình hình tội
phạm ma túy.
Những nội dung lý luận được nêu ra trong chương 1 làm cơ sở để tiến hành
khảo sát thực tiễn tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam một
các có hệ thống và cụ thể, khoa học từ đó thu được những kiến thức cần thiết để
phục vụ công tác phòng ngừa tội phạm về ma túy.
19