ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––
CHẨU TRUNG KIÊN
NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ ĐẬU TƯƠNG
TẠI HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––
CHẨU TRUNG KIÊN
NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ ĐẬU TƯƠNG
TẠI HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã ngành: 8 62 01 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Dương Văn Sơn
THÁI NGUYÊN - 2019
Với trình độ và thời gian có hạn, do đó bản luận văn của tôi không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của các thầy cô để bản đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Na Hang, tháng năm 2019
Học viên
Chẩu Trung Kiên
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................i
LỜI CÁM ƠN...................................................................................................ii
MỤC LỤC.......................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT...................................................................v
DANH MỤC BẢNG........................................................................................vi
DANH MỤC HÌNH........................................................................................vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN.............................................................................viii
MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................3
4. Đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn...............4
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI............................................ 7
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài..............................................................................7
1.1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan....................................................7
1.1.2. Phương pháp phân tích chuỗi giá trị......................................................12
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài......................................................................... 22
1.2.1. Tổng quan về đậu tương........................................................................22
3.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương
huyện Na Hang................................................................................................72
3.4. Quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững
chuỗi giá trị đậu tương huyện Na Hang.......................................................... 78
3.4.1. Quan điểm............................................................................................. 78
3.4.2. Một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững chuỗi giá
trị đầu tương huyện Na Hang.......................................................................... 79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ............................................................... 85
1. Kết luận....................................................................................................... 85
2. Khuyến nghị................................................................................................ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................ 88
PHỤ LỤC.......................................................................................................89
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV
CMCN
Bảo vệ thực vật
Cách mạng công nghiệp
CN-TTCN
Công nghiệp-Tiểu thủ công nghiệp
CP
Chính phủ
Nghị quyết
OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
PTNT
Phát triển nông thôn
QĐ-TTg
Quyết định Thủ tướng Chính phủ
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
UBND
Ủy ban nhân dân
USD
Đô la Mỹ
VCCI
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Hình 3.2. So sánh thu nhập từ đậu tương của các tác nhân
70
viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Với mục đích: thông quan hệ thống hóa cơ sở lý luận, lý thuyết và thực
tiễn có liên quan đến chuỗi giá trị đậu tương ở huyện Na Hang, đề tài luận văn
tập trung đánh giá thực trạng sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm đậu tương
và hoạt động của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị đậu tương tại địa bàn
huyện Na Hang; Đánh giá những tồn tại và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát
triển chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương của huyện, để từ đó đề xuất một số
giải pháp chủ yếu để phát triển bền vững chuỗi giá trị đậu tương ở huyện Na
Hang, tỉnh Tuyên Quang.
Đề tài thực hiện thu thập số liệu sơ cấp bằng các phương pháp nghiên
cứu thông dụng như điều tra bằng phiếu điều tra các tác nhân người sản xuất,
người thu gom, bán buôn, bán lẻ và tiêu dùng đậu tương. Số liệu điều tra được
tổng hợp, phân tích và xử lý theo các phương pháp xác định.
Kết quả nghiên cứu đã làm rõ được các nội dung sau đây:
- Thực trạng sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm đậu tương tại địa
bàn nghiên cứu
- Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị đậu tương và những điểm mạnh,
điểm yếu của các tác nhân: hộ sản xuất, người thu gom, người chế biến, …
- Giải pháp phát triển bền vững chuỗi giá trị đậu tương tại huyện Na
Hang, tỉnh Tuyên Quang
Đề tài luận văn đã chỉ ra một số kết luận quan trọng sau đây:
Nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương huyện Na Hang, tỉnh
Tuyên Quang chúng tôi có một số kết luận sau:
1- Tại huyện Na Hang đậu tương được sản xuất theo quy mô hộ gia đình.
Na Hang trong các năm tới cần nghiên cứu triển khai nhóm giải pháp cho toàn
chuỗi và cho từng tác nhân tham gia chuỗi.
6 - Do thực tế các nghiên cứu về chuỗi giá trị cung ứng hàng hoá dịch vụ
còn ít, số liệu chưa cập nhật. Xuất phát từ ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế
của chuỗi, chúng tôi xét thấy cần có các nghiên cứu tiếp theo về chuỗi cung
ứng các dịch vụ đầu vào cho sản xuất đậu tương và các hoạt động xuất khẩu
x
nhập khẩu đậu tương. Ngoài ra cũng cần nghiên cứu đánh giá sâu hơn về nhu
cầu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng đậu tương.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là đất nước có trên 70% dân số làm nông nghiệp. Trong hơn
hai mươi năm qua, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi
bật, đảm bảo an ninh lương thực, đưa nước ta thành nước xuất khẩu nông sản
lớn về các mặt hàng như gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều, chè, thủy sản,...
Nông nghiệp là ngành duy nhất xuất siêu, góp phần ổn định cán cân thương
mại và giúp vượt qua các cuộc khủng khoảng kinh tế. Tuy nhiên, gần đây
nông nghiệp cũng đứng trước những thử thách: “Được mùa mất giá, mất mùa
được giá”; “Trồng - chặt”,... Nguyên nhân của tồn tại là do chưa tạo dựng
được thị trường của riêng mình và ổn định thị trường đầu ra, nếu không tạo
được thị trường trong hoặc ngoài nước, nhất là thị trường quốc nội thì nông,
ngư dân không thể làm giàu được và do đó nông nghiệp cũng không thể tiến
xa hơn nữa.
Trong quá trình phát triển, nông nghiệp Việt Nam đã bộc lộ những lỗ
hổng lớn trong dây chuyền sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, chất lượng và
nông dân còn ít, sản xuất nhỏ lẻ, giá thành sản phẩm còn cao, các hoạt động
liên quan đến sản xuất đậu trong chuỗi giá trị hàng hoá nông sản còn rời rạc,
liên kết yếu,.... Điều này phần nào giải thích tại sao tốc độ tăng diện tích, sản
lượng đậu tương chưa cao. Trong khi đó thị trường tiêu thụ đậu tương của
huyện Na Hang và các vùng lân cận rất lớn, nên việc gia tăng diện tích, năng
suất, sản lượng đậu tương là rất cần thiết. Tuy nhiên, phần lớn lượng đậu
tương làm ra được bán dưới dạng thô, chưa được qua sơ chế, chất lượng sản
phẩm còn thấp, lại bị cạnh tranh với các bởi đậu tương Hà Giang, Bắc Kạn,
Lào Cai,… cộng với trình độ canh tác của người nông dân còn hạn chế, cũng
như quy mô diện tích trồng còn nhỏ lẻ, manh mún. Chính vì vậy, việc tìm ra
những giải pháp để phát triển bền vững chuỗi giá trị đậu tương trở nên rất cần
thiết, nhằm góp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, và do vậy sẽ góp
3
phần nâng cao lợi nhuận cho tất cả các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị
tương, đặc biệt là người nông dân trồng đậu tương.
Việc nghiên cứu chuỗi giá trị đậu tương tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên
Quang có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho các nhà quản lý kinh tế, các nhà chỉ
đạo sản xuất hiểu rõ hơn hoạt động sản xuất, kinh doanh đậu tương, những
mối quan hệ, các tương tác và sự phân phối lợi ích của từng tác nhân trong
chuỗi, từ đó đề xuất những giải pháp tác động hợp lý nhằm hình thành, hoàn
thiện và phát triển chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương góp phần thúc đẩy việc
mở rộng diện tích và tăng hiệu quả kinh tế cho từng tác nhân. Xuất phát từ
thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu chuỗi giá trị đậu
tương ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang".
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, lý thuyết và thực tiễn có liên quan đến
chuỗi giá trị đậu tương ở huyện Na Hang.
- Đánh giá thực trạng sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm đậu tương
4.1. Đóng góp mới của đề tài luận văn
Đề tài đã xác định rằng: Sự hình thành phát triển của chuỗi giá trị
ngành hàng đậu tương huyện Na Hang đã mang lại nhiều ý nghĩa kinh tế, xã
hội quan trọng như: thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho
người lao động, xóa đói, giảm nghèo, phân công lại lao động nông thôn và tạo
ra sự liên kết chặt chẽ có trách nhiệm giữa các nhà sản xuất kinh doanh với
người tiêu dùng sản phẩm đậu tương.
Tại huyện Na Hang đậu tương được sản xuất theo quy mô hộ gia đình.
Sản xuất đậu tương quy mô trang trại chưa xuất hiện, hệ thống các cơ sở, nhà
máy biến đậu tương chưa hình thành. Tiêu thụ đậu tương 100% là đậu tương
chưa có một công nghệ bảo quản, chế biến nào được áp dụng. Đậu tương Na
Hang chưa có thương hiệu trên thị trường. Tham gia trong chuỗi giá trị ngành
5
hàng đậu tương huyện Na Hang gồm các tác nhân chính: Người sản xuất, người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ và người tiêu dùng.
Trong chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương, giữa các tác nhân đã có
những mối liên kết, chia sẻ thông tin sản xuất thị trường với các mức độ khác
nhau. Người sản xuất đã có chiến lợc sản xuất đậu tương sớm tạo ra sự khác
biệt về sản phẩm. Sự phân bổ thu nhập và việc làm giữa các tác nhân cho thấy
có sự hợp lý nhất định. Tuy nhiên, chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương vẫn còn
có những hạn chế như: Các mối liên kết còn lỏng lẻo, chất lượng sản phẩm
chưa được coi trọng, kết cấu tổ chức của chuỗi giá trị còn tách biệt, tác nhân
chính trong chuỗi vẫn là người sản xuất mà chủ yếu là các hộ nông dân. Các
tác nhân khác như : người thu gom, bán buôn, bán lẻ và đặc biệt là người tiêu
dùng có tác động rất ít tới sự phát triển của chuỗi,.... Chuỗi giá trị ngành
hàng đậu tương gần như mang tính một chiều. Nguyên nhân do các yếu tố ảnh
hưởng mang tính khách quan như rủi ro về thời tiết, khí hậu, rủi ro về dịch
bệnh, giá cả,.... khó đề phòng. Các yếu tố dịch vụ đầu vào phục vụ sản xuất
đậu tương như: giống, vật tư, phân bón, thuốc BVTV,... cần được kiểm soát
7
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan
1.1.1.1. Chuỗi sản xuất - cung ứng
Đây là khái niệm tương đối mới và sử dụng trong kinh tế thị trường với
mục tiêu là sản xuất hàng hóa theo ngành hàng. Từ quan điểm của các nhà
kinh tế khác nhau chúng tôi cho rằng, một chuỗi sản xuất được hiểu đó là tất
cả các bên tham gia vào một hoạt động kinh tế có sử dụng các yếu tố đầu vào
để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh và chuyển giao sản phẩm đó tới người tiêu
dùng.
Trong một chuỗi sản xuất - cung ứng: Dòng luân chuyển thông tin
thường không phải là chủ yếu mà mục tiêu chính hướng đến là chi phí và giá.
Chiến lược sản xuất thường tập trung vào các sản phẩm, hàng hoá cơ bản.
Định hướng của chuỗi sản xuất - cung ứng chủ yếu là hướng cung,.... Vấn đề
trọng tâm của chuỗi sản xuất chính là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
và kết cấu tổ chức trong chuỗi là các tác nhân tham gia độc lập.
1.1.1.2. Chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị hàng hóa - dịch vụ là nói đến những hoạt động cần thiết để
biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm khác nhau, đến
khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng.
Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt
động và có trách nhiệm tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi.
Chúng ta có thể hiểu khái niệm này theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng:
Nếu hiểu chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp thì chuỗi giá trị là một khối liên kết
dọc hoặc một mạng liên kết giữa một số tổ chức kinh doanh độc lập trong một
chuỗi sản xuất. Hay nói cách khác một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt
biến các tiêu chuẩn xã hội truyền thống, khung phân tích chuỗi giá trị có thể
áp dụng để rút ra kết luận về sự tham gia của người nghèo và các tác động
tiềm tàng của sự phát triển chuỗi giá trị đến người nghèo.
9
1.1.1.3. Ngành hàng
Theo Trần Tiến Khai (2000): Vào những năm 1960, phương pháp phân
tích ngành hàng (Filière) được sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy
các hệ thống sản xuất nông nghiệp. Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất lúc
đó là làm thế nào để các hệ thống sản xuất tại một địa phương có thể được kết
nối với công nghiệp chế biến, với thương mại, với xuất khẩu và tiêu dùng
nông sản. Bước sang những năm 1980, phân tích ngành hàng được sử dụng
rộng rãi và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách của ngành nông
nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung thêm sự tham gia
của các vấn đề thể chế trong ngành hàng.
Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong
nghiên cứu ngành hàng. Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các
tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản
phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài.
Theo Fabre (trích theo Trần Tiến Khai và nnk, 2011): “Ngành hàng được
coi là tập hợp các tác nhân kinh tế quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản
phẩm cuối cùng”. Như vậy ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hoạt
động, xuất phát từ điểm ban đầu đến điểm cuối cùng của một nguồn lực hay
một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế
biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn chỉnh ở mức độ người tiêu thụ.
Nói cách khác ngành hàng là tập hợp những tác nhân kinh tế đóng góp trực
tiếp vào sản xuất, tiếp đó là gia công sản phẩm, chế biến và đi đến một thị
trường hoàn tất của các sản phẩm nông nghiệp.
Nói một cách khác, có thể hiểu ngành hàng là tập hợp những tác nhân
dùng và trình độ chế biến. Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng
càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra.
Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất phức
tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ và chính
sách. Hơn nữa, theo Fabre thì “Ngành hàng là sự hình thức hoá dưới dạng mô
11
hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và
của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
và các phương thức điều tiết” (trích theo Trần Tiến Khai và nnk, 2011).
Nói chung, ngành hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động được gắn kết chặt
chẽ với nhau trong một quá trình từ sản xuất, vận chuyển, chế biến đến phân
phối sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Chúng ta
thấy rằng ngành hàng là một chuỗi tác nghiệp, chuỗi các tác nhân và cũng là
một chuỗi những thị trường, nó kéo theo những luồng vật chất và những bù
đắp bằng giá trị tiền tệ.
1.1.1.4. Tác nhân
Tác nhân là một “tế bào” sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự
quyết định hành vi của mình. Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những
doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động
kinh tế của họ. Tác nhân được phân ra làm hai loại:
- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh,...)
- Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy,...).
Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập hợp
các chủ thể có cùng một hoạt động. Ví dụ: Tác nhân “nông dân” để chỉ tập
hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các
hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi
không gian phân tích.
Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó
xây dựng một chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị.
1.1.2.1. Lập bản đồ chuỗi giá trị
Lập bản đồ chuỗi giá trị có nghĩa là xây dựng một sơ đồ có thể quan sát
bằng mắt thường về hệ thống chuỗi giá trị. Các bản đồ này có nhiệm vụ định
dạng các hoạt động kinh doanh, các nhà vận hành chuỗi và những mối liên kết
của họ, cũng như các nhà hỗ trợ chuỗi nằm trong chuỗi giá trị này. Các bản đồ
chuỗi là cốt lõi của bất kỳ phân tích chuỗi giá trị nào nên chúng là yếu tố
không thể thiếu.
13
Bản đồ chuỗi giá trị bao gồm nhiều loại bản đồ với các chức năng và
mức độ chi tiết khác nhau, về cơ bản có các loại bản đồ sau đây:
- Bản đồ cơ sở (bản đồ tổng thể):
Bản đồ cơ sở cung cấp cái nhìn tổng quan về toàn bộ chuỗi giá trị. Bản
đồ cơ sở này cần mô tả các liên kết chính hay các phân đoạn của chuỗi giá trị
với các nội dung:
+ Các giai đoạn sản xuất và các chức năng marketing.
+ Các nhà vận hành chuỗi giá trị thực hiện những chức năng này.
+ Các liên kết kinh doanh dọc giữa các nhà vận hành.
Ba yếu tố của bản đồ cơ sở đại diện cho cấp vi mô của chuỗi giá trị. Ở
cấp này giá trị gia tăng sẽ được tạo ra. Các nhà cung cấp dịch vụ và các nhà
hỗ trợ cấp trung (các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ) cũng có thể nằm trong bản
đồ chuỗi.
Các bước xây dựng một bản đồ chuỗi giá trị tổng thể:
+ Xác định sản phẩm cuối cùng.
+ Xác định thị trường cuối cùng/Nhóm khách hàng cuối cùng.
+ Lập danh sách các hoạt động/chức năng hiện đang được thực hiện để
đưa sản phẩm cuối cùng ra thị trường. Bắt đầu từ điểm bán cuối cùng (cửa
hàng tiêu thụ/đại lý trên thị trường nội địa hoặc các nhà xuất khẩu), sau đó