VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT Ý
nghĩa khoa học:
Ý nghĩa thực tiễn:
..……..o0o….......
4. Dự kiến đóng góp mới
BÙI TUẤN MINH
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỰC VẬT NGẬP MẶN
VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ PHỤC VỤ CÔNG TÁC
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
..……..o0o….......
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỰC VẬT NGẬP MẶN VƯỜN
QUỐC GIA CÁT BÀ PHỤC VỤ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thế Cường
Học viên thực hiện: Bùi Tuấn Minh – K20
Phù Long và người dân xã Phù Long, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng đã tạo điều
kiện cho tôi thu thập số liệu phục vụ xây dựng Luận văn.
Xin cảm ơn Đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học các đảo đá vôi, quần đảo đá
vôi vùng biển Việt Nam; đề xuất giải pháp và mô hình sử dụng, bảo tồn và phát triển
bền vững (Mã số: KC09.11-20)” đã hỗ trợ thực hiện luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân cùng bạn bè và cán
bộ lãnh đạo, đồng nghiệp Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng đã bên
cạnh động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng
năm 2019
Bùi Tuấn Minh
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU.............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................ 2
1. Tổng quan về nghiên cứu về rừng ngập mặn trên thế giới và khu vực......2
2. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng thực vật ngập mặn ở Việt Nam..........10
2.1. Diện tích rừng ngập mặn Việt Nam..................................................... 10
2.2. Phân bố địa lý rừng ngập mặn ven biển...............................................11
2.3. Đa dạng cây ngập mặn và bán ngập mặn.............................................12
2.4. Các nguyên nhân chủ yếu gây suy thoái rừng ngập mặn.....................13
3. Nghiên cứu về sinh khối RNM ở Việt Nam....................................................18
4. Tổng quan về VQG Cát Bà...........................................................................18
4.1. Điều kiện tự nhiên................................................................................19
bền vững các hệ sinh thái rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu......52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...........................................................................54
1. KẾT LUẬN.................................................................................................54
2.
KIẾN NGHỊ............................................................................................... 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................56
PHỤ LỤC...........................................................................................................60
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu và chữ viết tắt
Chữ đầy đủ
BVR
Bảo vệ rừng
ĐDSH
Đa dạng sinh học
GHCP
Giới hạn cho phép
HST
TVNM
Thực vật ngập mặn
UBND
Ủy ban nhân dân
VQG
Vườn Quốc gia
VSV
Vi sinh vật
DANH MỤC BẢNG
Bảng - Hình
trang
Bảng 1: Thảm thực vật rừng và sử dụng đất
26
Bảng 2: Tổng hợp kết quả trồng rừng ngập mặn tại VQG Cát Bà
29
45
Bảng 11. Sinh khối trong ô tiêu chuẩn 06
46
Bảng 12. Sinh khối trong ô tiêu chuẩn 07
46
Bảng 13. Sinh khối trong ô tiêu chuẩn 08
44
Bảng 14. Sinh khối trong ô tiêu chuẩn 09
47
Bảng 15. Tổng hợp sinh khối các loài trong các OTC
49
Bảng 16: Sinh khối các loài trong khu vực nghiên cứu
50
Bảng 17. Chỉ số đa dạng sinh học các loài ngập mặn
50
thức của họ về vai trò của RNM.Tuy nhiên, vẫn còn một số thách thức đối với công tác
quản lý, bảo vệ và sử dụng bền vững RNM.Xuất phát từ đó, nhằm phục vụ cho việc
quản lý bền vững hệ sinh thái đầy tiềm năng nhưng nhạy cảm này, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài “Nghiên cứu đa dạng thực vật ngập mặn tại Vườn quốc gia Cát Bà
phục vụ công tác bảo tồn và phát triển bền vững”.
2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Tổng quan về nghiên cứu về rừng ngập mặn trên thế giới và khu vực
Hệ sinh thái RNM đóng vai trò to lớn trong việc bảo vệ, phát triển tài nguyên và
môi trường cửa sông, ven biển phục vụ cho kinh tế-xã hội và cộng đồng thể hiện qua
các chức năng và dịch vụ như: Cung cấp O 2 và hấp thụ CO2 cải thiện điều kiện khí hậu
khu vực như các loại rừng khác; Tích luỹ cacbon; Cung cấp thức ăn, nơi sinh đẻ, nuôi
dưỡng con non và là vườn ươm cho các loài thủy sản ven biển, nơi ở cho các loài chim
di cư; Góp phần giảm thiểu tác hại của gió, bão, nước biển dâng và sóng thần; Làm
tăng lượng bồi tụ trầm tích, mở rộng đất đai bờ cõi; Lọc nước và hấp thụ các chất độc
hại, ô nhiễm vùng cửa sông ven biển; Lưu giữ nguồn gen; Cung cấp phương tiện thông
tin cho nghiên cứu, giáo dục và đào tạo, giữ gìn bản sắc văn hoá và tín ngưỡng; Du
lịch và các dịch vụ khác.
RNM không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung cấp nguồn dinh dưỡng, hỗ trợ
cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần thể sinh vật cửa sông ven biển
đồng thời còn là nơi “ương ấp” những cơ thể non của nhiều loài sinh vật biển, nơi duy
trì đa dạng sinh học cho biển.
Duy trì nguồn dinh dưỡng giàu có đảm bảo cho sự phát triển của các loài sinh vật
ngay trong RNM: RNM không chỉ tạo nên năng suất sơ cấp cao dưới dạng cây rừng
mà hàng năm còn cung cấp một sản lượng rơi rụng khá lớn để làm giàu cho đất rừng
và vùng cửa sông ven biển kế cận. Những sản phẩm này một phần có thể được sửdụng
trực tiếp bởi số ít loài động vật, một phần nhỏ nằm dưới dạng chất hữu cơ hoà tan
Về điều hòa khí hậu và tích tụ cacbon, theo Blasco (1975) nghiên cứu khí hậu và
vi khí hậu rừng, đã có nhận xét: các quần xã RNM là một tác nhân làm cho khí hậu dịu
mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt. Hệ sinh thái RNM giúp cân bằng O 2 và
CO2 trong khí quyển, điều hoà khí hậu địa phương (nhiệt độ, lượng mưa) và giảm thiểu
khí nhà kính. Theo Lê Xuân Tuấn và cs, 2005, hàm lượng CO 2 của nước ở trong rừng
(7,38mg/l) thấp hơn nơi không có rừng (7,63mg/l). Lượng cacbon tích tụ trên bề mặt đến
độ sâu 100cm khoảng từ 71-82 tấn các bon/ha (Hà và cs, 2004). Nhờ các tán lá hút
CO2 mạnh nên hàm lượng khí CO2 nơi có rừng giảm mạnh, qua đó làm cho pH của
nước phù hợp với điều kiện sống của thủy sinh vật.
Về hạn chế xâm nhập mặn, khi có RNM thì quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và
phạm vi hẹp vì khi triều cao, nước lan toả vào trong những khu RNM rộng lớn; hệ thống
rễ dày đặc cùng với thân cây đã làm giảm tốc độ dòng triều, tán cây hạn chế tốc độ gió.
Khi mất rừng, dòng triều và gió đông bắc đưa nước mặn vào sâu kèm theo sóng
4
đã gây ra xói lở bờ sông và cả các chân đê. Mặt khác nước mặn sẽ thẩm thẩu qua thân
đê vào đồng ruộng khiến cho năng suất bị giảm, tình trạng thiếu nước ngọt ảnh hưởng
đến sản xuất và sử dụng trong sinh hoạt (Phan Nguyên Hồng, 1997).
Về giảm thiểu tác hại của sóng, bão lụt, các dải RNM phòng hộ ven biển đã có
tác dụng rất lớn trong việc làm giảm thiểu tác hại của sóng do bão gây nên, nhờ thế đã
bảo vệ được các đê biển trong các cơn bão lớn, qua đó tài sản và sinh mạng của cộng
đồng ven biển cũng được bảo vệ an toàn. Với chiều rộng rừng Trang 1,5 m ở Thuỵ
Hải, Thái Bình, độ cao của sóng giảm từ1m xuống 0,05m, còn nếu không có rừng chỉ
giảm xuống 0,75 m (Mazda và cs, 1997). Những số liệu đo đạc về độ cao và cường độ
sóng của Vũ Đoàn Thái, 2005 trong các thời kỳ có bão lớn (bão số2, số 6 và số 7,
2005) tại một số rừng trồng ở Hải Phòng cho thấy, nơi có RNM trồng thì đê không bị
vỡ hay xói lở. Ví dụ trong cơn bão số 7 (29/9) khi sóng đi qua rừng trang (5 - 6 tuổi)
rơi của cây RNM ở nam Florida là 10.000 – 14.000 kg khô/ha/năm. Kết quả nghiên
cứu ở rừng đước Cà Mau cho thấy năng suất lượng rơi là 9.719,9 kg/ha/năm, riêng lá
chiếm 79,71%. Hàng năm, rừng đước Cà Mau cung cấp cho hệ sinh thái RNM ở đây
8.400 – 12.000 kg lá/ha/năm (tính theo trọng lượng khô) (Trí, Hồng, 1984).
Quanh năm lá rơi xuống kênh rạch và trên sàn rừng, rồi lại được nước triều
mang đi; quá trình phân hủy cũng diễn ra liên tục, kể cả mùa khô, mùa mưa.
Khi lá còn ở trên cây đã có một số loài nấm sống trên đó, một số chui sâu vào biểu
bì, một số sống trên mặt lá. Khi lá rụng xuống, sau 24 giờ ngập nước triều đầu tiên, lá đã
bị các vi sinh vật phân hủy, lúc đầu là chi Phytophora thuộc lớp Nấm tảo (Phycomycetes),
rồi đến Fusarium và Penicillium thuộc lớp Nấm bất toàn (Fungi imperfecti). Sau tuần thứ
2 và thứ 3 các nấm tảo nhường chỗ cho các loài vi sinh vật khác như nấm phân huỷ
xenlulô (Zelerion và Lulnorthia). Tất cả các mô xốp được phân huỷ nhanh nhất, còn các
hợp chất xenlulô và lignin bị phân huỷ cuối cùng. Trong quá trình phân huỷ, lượng đạm
trên các mẩu lá tăng 2 – 3 lần so với ban đầu (Kaushik và Hynes, 1971). Năm 1977,
Untawale và cs. ở Viện Hải dương học Ấn Độ đã nghiên cứu sự biến đổi của các thành
phần hoá học của lá mấm lưỡi đòng (Avicennia officilalis) từ khi còn non cho tới khi lá bị
phân huỷ, thấy hàm lượng protein tăng lên rất cao.
Khi phân tích, so sánh các loại acid amin có trong lá tươi và lá phân huỷ,
Casagrade (1970) đã thấy sự tăng tổng số các acid amin có protein và không protein trên
bề mặt lá và trong thành phần lá phân hủy cao hơn hẳn lá tươi. Một số acid amin không
protein như α – aminobyturic, α, γ diaminnobutyric và α, ε diamino pimonic cùng các
6
loại acid citruline, ortrithine, cysteic là các sản phẩm được tạo ra trong quá trình trao
đổi chất của vi sinh vật.
Nghiên cứu thành phần và vai trò của vi sinh vật trong RNM huyện Giao Thủy và
Nghĩa Hưng (Nam Định), các cán bộ của MERC và Bộ môn Công nghệ sinh học và vi
sinh - Đại học Sư phạm Hà Nội (2002) cũng đã tìm ra nhiều chủng vi sinh vật phân
RNM không những là nguồn cung cấp thức ăn mà còn là nơi cư trú, nuôi dưỡng con
non của nhiều loài thủy sản có giá trị, đặc biệt là các loài tôm sú, tôm biển xuất khẩu.
Trong vòng đời của một số lớn các loài cá, tôm, cua… có một hoặc nhiều giai đoạn bắt
buộc phải sống trong các vùng nước nông, cửa sông có RNM. Ví dụ điển hình là vòng đời
của loài tôm thẻ (Penaeus merguiensis). Loài tôm này có tập tính đẻ ở biển, cách xa bờ
chừng 12 km (Ong và cs., 1980), do tác động của dòng nước và thay đổi của nước triều,
sau khi trứng thụ tinh, ấu trùng chuyển vào vùng nước ven bờ, bơi dần vào cửa sông theo
nước triều lên, thường tìm những vùng nước nông có giá bám như bụi cỏ, rễ cây…, sau đó
đi sâu vào kênh rạch RNM. Chúng sinh trưởng và phát triển ở đó cho tới khi thành thục,
thường từ 3 – 4 tháng. Ở giai đoạn trưởng thành thì chúng lại bắt đầu di cư ra biển để đẻ.
RNM ở đây vừa là nơi bảo vệ vừa là nơi nuôi dưỡng con non.
Cá đối cũng có tập tính đẻ ngoài biển, sau đó con non theo nước triều đi vào
kênh rạch RNM, thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ phân hủy từ cây RNM. Người ta
thường gặp từng đàn cá đối, có khi với số lượng rất lớn trong các kênh rạch RNM.
Jeyaseelan (1998) đã điều tra, nghiên cứu, mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái,
phân bố địa lý và nơi đánh bắt của 57 loài cá đẻ trứng và có ấu trùng sống trong vùng
kênh rạch RNM châu Á, trong số đó chúng tôi đã liệt kê được 39 loài tìm thấy ở Việt
Nam (Hồng (chủ biên), 1999).
Với vai trò vừa là nơi bảo vệ, nuôi dưỡng con non, con giống vừa cung cấp thức
ăn, RNM đóng góp một cách đáng kể vào sản lượng thủy sản.
Hệ sinh thái RNM được coi là hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao, đặc biệt
là nguồn lợi thủy sản. Người ta ước tính trên mỗi hecta RNM năng suất hàng năm là
91kg thủy sản (Snedaker, 1975). Riêng đối với các loài tôm, cá, cua… sống trong
RNM, hàng năm thu hoạch khoảng 750.000 tấn. Trong năm 1978, Indonesia đánh bắt
được 550.000 tấn cá trực tiếp có quan hệ với RNM cửa sông (Salm, 1981).
Những nghiên cứu mới đây ở Indonesia cũng cho thấy mối quan hệ mật thiết
giữa những vùng cửa sông có RNM và sản lượng đánh bắt tôm thẻ xuất khẩu ở ven
biển. Người ta tính bình quân trên mỗi hecta đầm lầy RNM cho năng suất hàng năm là
160 kg tôm xuất khẩu (Chan, 1986).
nguyên vật liệu xây dựng làm nơi ở cho làng đánh cá. Có thể nói RNM đã cung cấp
những cơ sở tối thiểu từ đầu đến cuối cho ngành đánh cá ở vùng ven biển.
Trước đây, nhiều người nuôi hải sản cho là cây ngập mặn gây hại cho các đầm
tôm, cá vì lá cây làm thối nước (trong khi nguyên nhân thực là do ít cống, không thay
9
được nước triều đều) nên họ đã chặt phá cây ngập mặn không thương tiếc. Hậu quả là
nhiều bờ đầm bị vỡ khi có sóng gió mạnh, năng suất giảm nhanh. Đến nay, qua thực tế
và công tác truyền thông của Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn
(MERC), nhận thức của những người nuôi ở một số tỉnh ven biển miền Bắc Việt Nam
về tác dụng của RNM đã được nâng lên đáng kể.
Điều mà không ai phủ nhận được là RNM đã bảo vệ rất có hiệu quả các đầm
nuôi tôm, cua. Có thể lấy 1 ví dụ: Tháng 8 năm 1996, khi cơn bão số 2 đổ bộ vào Thái
Bình, các đầm tôm, đầm cua của Thuỵ Hải, Thuỵ Xuân và Thuỵ Trường được bảo vệ
tốt nhờ có RNM, trong lúc hầu hết các đầm ở Nam Phú, Nam Thịnh, Nam Hưng thuộc
huyện Tiền Hải đều bị sạt lở bờ, có một số đầm vỡ bờ và người nuôi tôm mất hết vốn
do RNM bị phá.
Sức khoẻ của tôm ở những đầm tôm quảng canh gần RNM hoặc trồng cây ngập
mặn ở xung quanh bờ tốt hơn các đầm trống trải vì cây ngập mặn che bóng cho một
phần đầm nên khi trời nắng nóng nhiệt độ nước không quá cao, lượng nước bốc hơi
cũng ít hơn đầm không có cây. Nhờ đó mà độ mặn không tăng nhiều gây sốc cho tôm.
Các hàng cây này cũng cung cấp một lượng đáng kể mùn bã hữu cơ cho các động vật
sống trong đầm.
Những hộ nuôi cua ở ven biển Bắc Bộ đều có một nhận định chung là từ khi có
RNM trồng, nguồn cua giống vào nhiều nên rất thuận lợi cho việc thả cua trong các
đầm nuôi và giá hạ chỉ còn bằng 1/2-1/3 so với giá mua trước đó.
Đối với các đầm nuôi bán thâm canh và thâm canh, tuy sử dụng con giống nhân
tạo nhưng nguồn tôm, bố mẹ đều có quan hệ mật thiết với RNM. Trong vòng đời của
chuyển ra các bãi nuôi.
2. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng thực vật ngập mặn ở Việt Nam
2.1. Diện tích rừng ngập mặn Việt Nam
Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc (theo Quyết định số 03/2001/QĐ/TTg của
Thủ tướng Chính phủ ký ngày 5/1/2001) công bố tháng 7/2001 do Viện Điều tra Quy
hoạch Rừng tiến hành, diện tích rừng ngập mặn (RNM) Việt Nam tính đến ngày
21/12/1999 là 156.608ha. Trong đó, diện tích RNM tự nhiên là 59.732ha chiếm 38,1%
và diện tích RNM trồng là 96.876ha chiếm 61,95%. Trong số diện tích RNM trồng ở
Việt Nam, rừng đước (Rhizophora apiculata) trồng chiếm 80.000ha (82,6%), còn lại
11
16.876ha là rừng trồng trang (Kandelia obovata), bần chua (Sonneratia caseolaris) và
các loại cây ngập mặn trồng khác (17,4%) (Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, 2001).
Cho đến nay, các số liệu thống kê về diện tích RNM ở Việt Nam không thống
nhất. Kết quả thống kê diện tích rừng ngập mặn từ các tỉnh ven biển Việt Nam tập hợp
lại (Sâm và cs. 2005), tính đến tháng 12/2001 thì Việt Nam có tổng diện tích RNM
khoảng 155.290ha, chênh lệch 1.318ha so với số liệu kiểm kê rừng toàn quốc tháng
12/1999 (156.608ha). Trong đó, diện tích RNM tự nhiên chỉ có 32.402ha chiếm 21%,
diện tích RNM trồng 122.892ha chiếm 79%.
2.2. Phân bố địa lý rừng ngập mặn ven biển
Dựa vào các yếu tố địa lý, khảo sát thực địa và một phần kết quả ảnh viễn thám,
Phan Nguyên Hồng (1991) đã chia RNM Việt Nam ra làm 4 khu vực và 12 tiểu khu.
-
Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn
-
-
Tiểu khu 2: Từ cửa sông Văn Úc đến cửa Lạch Trường, nằm trong khu vực bồi tụ
của hệ sông Hồng
Khu vực III: được chia thành 3 tiểu khu:
-
Tiểu khu 1: Từ Lạch Trường đến Mũi Ròn
12
-
Tiểu khu 2: Từ mũi Ròn đến mũi đèo Hải Vân
-
Tiểu khu 3: Từ mũi đèo Hải Vân đến mũi Vũng Tàu
Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ được chia thành 4 tiểu khu:
-
Tiểu khu 1: từ mũi Vũng Tàu đến cửa sông Soài Rạp (ven biển đông Nam Bộ)
-
Tiểu khu 2: Từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thanh (ven biển đồng bằng
sông Cửu Long)
họ phân bố trong rừng ngập mặn huyện Nga Sơn, trong đó có 8 loài cây ngập mặn chủ
13
yếu (thực sự) và 18 loài là cây tham gia rừng ngập mặn. Thống kê các loài thực vật
huyện Diễn Châu, xác định 40 loài thuộc 37 chi trong 23 họ thực vật có mạch trong đó
có 9 loài cây ngập mặn chủ yếu (thực sự) và 31 loài là cây tham gia và di cư vào rừng
ngập mặn.
2.4. Các nguyên nhân chủ yếu gây suy thoái rừng ngập mặn
2.4.1. Đắp đầm nuôi, trồng hải sản
Việc giao đất, giao rừng để nuôi trồng thuỷ sản trong những năm trước đây được
thực hiện một cách ồ ạt không có quy hoạch có thể được xem là nguyên nhân chính
làm suy thoái hệ sinh thái RNM cả về diện tích và chất lượng của rừng. Việc phá rừng
ngập mặn làm đầm tôm trước mắt có thể đem lại lợi nhuận hàng trăm tỉ đồng mỗi năm,
nhưng hậu quả thì rất khó đánh giá. Mất rừng ngập mặn sẽ đẩy mạnh sự xâm nhập
nước mặn vào đất liền, thúc đẩy quá trình xói lở, gây ô nhiễm đất và nguồn nước. Mặt
khác, do đặc điểm của đất một số vùng sau những năm đầu đầm có năng suất cao
nhưng sau một thời gian đầm bị thoái hóa, chủ yếu do hết dần thức ăn nên đầm bị bỏ
hoang. Điều này phát triển đặc biệt mạnh ở các tỉnh đổng bằng sông Cửu Long, chỉ
riêng tỉnh Cà Mau, giai đoạn 1983 đến năm 1999 đã có hơn 53.000 ha RNM bị mất để
đắp đầm nuôi trồng thủy sản
2.4.2. Quai đê lấn biển
Quai đê lấn biển là một hoạt động kinh tế thường xuyên của các tỉnh ven biển châu
thổ Sông Hồng. Khi châu thổ tiến ra biển, vùng đất chân đê ngày một nâng cao, biển càng
ngày càng lùi xa. Nông dân vùng châu thổ lại đắp thêm một vòng đê để mở mang diện tích
đất nông nghiệp. Trước đây đã có những đợt đắp đê lấn biển lớn như Nguyễn Công Trứ
thực hiện vào những năm 1820 của thế kỷ 19 lập nên các huyện Tiền Hải (Thái Bình),
Kim Sơn (Ninh Bình) nổi tiếng trong lịch sử. Tuy nhiên, trước đây việc quai đê lấn biển
xảy ra từ từ khi điều kiện đã chín muồi thì nay do áp lực tăng dân số, việc quai đê lấn biển
RNM bị suy thoái. Trong đó, đáng chú ý hơn cả là:
- Khai thác mật ong tự nhiên: Đồng bào Nam bộ có thói quen đến mùa là vào
RNM, rừng tràm "gác kèo" để ong về làm tổ. Sau một thời gian họ trở lại để khai thác.
Việc nuôi ong mang lại nhiều lợi ích cho cây ngập mặn, giúp cho cây thụ phấn hoa. Tuy
nhiên, khi khai thác người ta thường đốt lửa để xua ong, khi không cẩn thận thường
gây ra cháy rừng. Những đợt cháy rừng như vậy gây tác hại rất lớn cho rừng nói chung
và RNM nói riêng.
- Khai thác Sá sùng, Bông thùa: Việc khai thác Sá sùng, Bông thùa thường phải đào
bới trong RNM. Việc đào bới đó sẽ làm đứt rễ cây ngập mặn làm cho cây phát triển kém.
Nhiều nơi còn đào cả cây ngập mặn lên để dễ thu Sá sùng. Ngoài Sá sùng, Bông
15
thùa, một số đối tượng khác cũng sống trong các hang, hốc trong RNM như cá Nhệch
cũng bị khai thác như vậy đã góp phần làm suy thoái RNM.
2.4.6. Ảnh hưởng do ô nhiễm nguồn nước
Vấn đề quan trọng hiện nay và trong tương lai là ô nhiễm nguồn nước đối với hệ
sinh thái vùng triều ở Việt Nam, trong đó có rừng ngập mặn đáng để chúng ta quan
tâm. Hằng năm theo các hệ thống sông, có hàng ngàn tấn chất thải được đổ ra các vùng
biển Việt Nam, gây ra bồi tụ trầm tích, cây chết do tắc nghẽn rễ, gây đảo lộn trầm tích
trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, tích lũy cát ở cửa sông, nạo vét làm biến dạng điều
kiện gây ảnh hưởng tới RNM, sự ô nhiễm nặng nề cho vùng biển ven bờ, ảnh hưởng
nghiêm trọng tới ngành nuôi trồng thủy hải sản.
Thải lượng do các hệ thống sông của Việt Nam đổ ra biển hàng năm được đề tài
cấp Nhà nước KT.03.07 thống kê cho thấy cho thấy, ở các tỉnh phía nam có hệ thống
sông Sài Gòn - Đồng Nai và Mê Kông là có thải lượng lớn, đặc biệt là các thông số về
NO3; PO4 và Cu. Với thải lượng như vậy thì không chỉ RNM mà còn các đối tượng
khác trong các hệ sinh thái ven biển cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ. Và các thải lượng
Vũ, Báo Lao động, số 190 ngày 9-7-2003). Tháng 8-2001 gần 6.000 lồng nuôi tôm
hùm ngoài khơi làng Xuân Tú (Khánh Hoà) bị chết do các đầm nuôi tôm sú gần đó
thải nước có hoá chất độc.
2.4.7. Sức ép dân số gia tăng
Hiện nay có khoảng 80% dân số thế giới sống ở vùng ven biển và 60% sống trực
tiếp ở các vùng cửa sông. Việc phá hủy cả rừng ngập mặn và đầm lầy thủy triều để nâng
cao đất xây dựng các khu đô thị, dân cư, bến cảng, sân bay, dịch vụ, v.v. phục vụ cho nhu
cầu phát triển dân cư ven biển là điều gây ảnh hưởng không nhỏ tới hệ sinh thái rừng ngập
mặn và dẫn đến nhiều hậu quả xấu như xói lở, ngập lụt, ô nhiễm môi trường, khai thác cạn
kiệt nguồn lợi hải sản cũng như suy giảm chất lượng nước trong vùng.
Ở nước ta hiện nay có tới 14% cộng đồng dân cư các huyện ven biển, tức khoảng
gần 2 triệu dân ở 208 xã, vẫn đang ở mức nghèo đói. Chính vì vậy, đa số dân cư sống
ven biển nói chung và ven rừng ngập mặn nói riêng không đủ điều kiện kinh tế và kỹ
thuật để thực hiện việc nuôi trồng, khai thác nguồn lợi theo phương thức đảm bảo phát
triển bền vững, cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường, nguồn lợi mà họ luôn
luôn phải nghĩ đến lợi ích kinh tế trước mắt, phục vụ cho nhu cầu sinh nhai hàng ngày của
gia đình, do đó việc dùng các hình thức khai thác hủy diệt như xung điện, hóa chất, lưới
mành, cào mé, te, xiệp, lú bát quái, chặt phá rừng khai thác gỗ, củi, đốt than...
17
để khai thác nguồn lợi sẵn có trong môi trường và RNM là không thể tránh khỏi, gây áp
lực lớn lên hệ sinh thái RNM nói riêng và nguồn lợi và môi trường ven biển nói chung.
2.4.8. Áp lực và ảnh hưởng từ các tai biến tự nhiên
Hàng năm các hiện tượng tai biến tự nhiên cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hệ sinh
thái rừng ngập mặn, đặc biệt hiện nay vấn đề biến đổi khí hậu đang ngày càng làm gia
tăng các hiện tượng thiên tai và chúng ta có thể kể tới các hiện tượng như bảo lũ, xói