ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
NGUYỄN THỊ NHÀNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN GIA LỘC (TỈNH HẢI DƯƠNG)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
NGUYỄN THỊ NHÀNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN GIA LỘC (TỈNH HẢI DƯƠNG)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60220315
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đình Lê
Hà Nội - 2019
Hà Nội, ngày 05 tháng 08 năm 2019
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Nhàng
MỤC LỤ
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề............................................................................4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................7
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu...............................8
6. Đóng góp của luận văn................................................................................10
7. Kết cấu của luận văn...................................................................................10
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN
GIA LỘC (TỈNH HẢI DƯƠNG) VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾTỪ NĂM
2005 ĐẾN NĂM 2010....................................................................................11
1.1. Những yếu tố tác động và chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ
huyện Gia Lộc.................................................................................................11
1.1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ
huyện Gia Lộc.................................................................................................11
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện Gia Lộc (2005-2010).........................32
1.2. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Gia Lộc (2005-2010)...................39
1.2.1. Về nguồn lực cho phát triển kinh tế nông nghiệp..................................39
1.2.2. Về trồng trọt..........................................................................................41
1.2.3. Về chăn nuôi..........................................................................................44
Tiểu kết Chương 1...........................................................................................47
Chương 2. SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN GIA LỘC (TỈNH HẢI
DƯƠNG) VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2010 ĐẾN
3- HTXDVNN: Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
4- GTSX: Giá trị sản xuất
5 - KT - XH : Kinh tế - Xã hội.
6- XHCN: Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng nông nghiệp......44
qua các năm 2005 - 2010.................................................................................44
Bảng 1.2 Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm....................................45
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa qua các năm 2011 - 2015.........62
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô qua các năm 2011 - 2015.......62
Bảng 2.3. Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm 2011 - 2015...............65
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế nông nghiệp là một trong những bộ phận quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Để đảm bảo vững chắc lương thực quốc gia, cung cấp
nguồn nguyên liệu cho công nghiệp và tạo việc làm cho người dân thì tất yếu
nước ta cần phải phát triển nền kinh tế nông nghiệp. Trong công cuộc đổi
mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã chủ
trương: "Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư, tập trung thực
hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu. Các chương trình đó là sự cụ thể hóa nội dung chính
của công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường đầu"[23, tr. 459,460]. Đại hội
VI đã mở ra một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội (CNXH).
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn bổ sung, phát triển từng bước hoàn thiện
đường lối đổi mới, lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu của thời kỳ đẩy
nàn, lạc hậu, và còn gặp nhiều thách thức to lớn như: sự cạnh tranh quyết liệt
của hàng nông sản, các hàng rào phi thuế quan, sự bất đồng về giá cả không
có nguồn tiêu thụ. Đặc biệt, do không có nguồn tiêu thụ nên nhiều người nông
dân đã phải đổ bỏ đi rất nhiều loại rau, củ, quả…
Tại Hải Dương vào đầu năm 2018 su hào bị rớt giá, người nông dân phải
tự tay phá bỏ cả đồng rau. Trong khi đó, trong thị trường Việt Nam vẫn tồn tại
những loại rau, củ, quả của Trung Quốc kém chất lượng. Tất cả những điều đó
đã tạo khó khăn rất lớn đến nền kinh tế nông nghiệp của nước ta ngày càng
nghiêm trọng hơn…
Trong điều kiện khó khăn đó, Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã vận dụng chủ
trương của Trung ương để chỉ đạo sát sao xây dựng kinh tế - xã hội các huyện
thị phát triển, trong đó có Gia Lộc, nơi có khá nhiều thành tích trong công
cuộc xây dựng phát triển kinh tế - xã hội toàn diện, nhất là trong lĩnh vực
nông nghiệp.
2
Gia Lộc là một huyện nằm ở phía tây nam của tỉnh Hải Dương với tổng
diện tích tự nhiên toàn huyện 122,15 km² và dân số 152.989 người (năm
2006). Địa hình huyện Gia Lộc là đồng bằng, đất nông nghiệp chiếm tới 67%
diện tích. Đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp.
Gia Lộc là một trong những huyện có truyền thống hiếu học và là mảnh đất
địa linh nhân kiệt, có nhiều di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng như: Đền Đươi
thờ Nguyên phi Thái hậu Ỷ Lan là một ngôi đền cổ được xây dựng từ thời nhà
Lý vào thế kỷ thứ XI và được mệnh danh là một trong những " danh lam Cổ
Tự", là khu di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia xếp hạng năm 1991; ngoài ra,
có Đền Quát thờ Yết Kiêu, một gia thần của Trần Hưng Đạo và ông đã có
công lớn trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước, có biệt tài thủy chiến.
Huyện Gia Lộc có vị trí giao thông thuận lợi cho phát triển kinh tế, có
nhất và hết sức thu hút từ thời xa xưa cho tới nay, đó là kinh tế nông nghiệp. Cho
tới hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp. Tuy
nhiên, mỗi nhà nghiên cứu sẽ có những kết quả khác nhau với nhiều góc độ tiếp
cận khác nhau. Có thể phân chia thành hai nhóm nghiên cứu sau:
Nhóm 1. Các công trình nghiên cứu, bài viết về kinh tế nông nghiệp,
nông nghiệp, có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau đây:
- PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ
đổi mới ( 1986 - 2002), Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003. Tác giả của cuốn sách
khẳng định sau 15 năm đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt
Nam đã đạt nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh, những thành tựu,
nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam cũng đã xuất hiện những vấn
đề nổi cộm, những khó khăn và những thách thức mới như vấn đề ruộng đất ở
nông thôn, vấn đề lao động, việc làm của nông dân, vấn đề thu nhập và đời
sống của nông dân, khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị gia
tăng, vấn đề phương thức sản xuất nông nghiệp, tiêu thụ nông sản hàng hóa
cho nông dân…. Những vấn đề đó cần được nghiên cứu và đưa ra giải pháp
phù hợp với tình hình hiện tại.
4
- Nguyễn Kế Tuấn, CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam con
đường và bước đi, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2006. Theo tác giả thì
sau hơn 20 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam có sự chuyển biến vượt bậc,
đời sống xã hội ở nông thôn đã có những chuyển biến quan trọng trên con
đường hình thành và phát triển. Để tiếp tục quá trình đổi mới, bước đi của
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam phải từng bước giải quyết
những hệ lụy, nảy sinh trong quá trình CNH - HĐH như chất lượng, hiệu quả
tăng trưởng kinh tế nông nghiệp thấp, năng lực cạnh tranh quốc tế….
- PGS. TS Trương Thị Tiến, Đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp ở Việt
bộ địa phương, trong đó có Đảng bộ Hải Dương. Các công trình cũng đã nêu
lên những thành tựu, hạn chế của Đảng trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về Đảng bộ
huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ
2005 đến năm 2015. Vì vậy, với đề tài: Đảng bộ huyện Gia Lộc, tỉnh Hải
Dương lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015,
nhằm vẽ lên bức tranh hoàn mỹ hơn về tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp
huyện, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Từ
đó, rút ra những bài học kinh nghiệp lịch sử nhằm phát huy những thành tựu và
khắc phục những hạn chế cho hiện tại và tương lai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Gia Lộc về phát
triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015; từ đó rút ra những kinh
nghiệm lịch sử góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ huyện Gia
Lộc, nhằm vận dụng phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện trong hiện tại
và tương lai.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, luận văn cần phải giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Tập hợp và hệ thống lại các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
6
- Làm rõ những nhân tố, điều kiện tác động, chi phối sự lãnh đạo Đảng
bộ huyện Gia Lộc (tỉnh Hải Dương) trên lĩnh vực phát triển kinh tế nông
nghiệp từ 2005 - 2015.
- Làm rõ vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển của đất nước nói
9
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Giá trị về mặt lý luận
- Hệ thống hóa những chủ trương, chính sách về nông nghiệp của Đảng;
Đảng bộ tỉnh Hải Dương và áp dụng vào địa phương một cách phù hợp với
tình hình thực tế.
- Luận văn đã nêu lên những ưu điểm và hạn chế của huyện Gia Lộc, tỉnh
Hải Dương trong chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến 2015.
6.2. Giá trị về mặt thực tiễn
Luận văn là nguồn tài liệu để các cấp địa phương có thể tham khảo, qua
đó phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình trong quá trình thực hiện lãnh đạo
phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn có thể góp phần vào việc tuyên truyền phổ biến để nhân dân
thấy được đường lối đúng đắn của Đảng bộ huyện Gia Lộc trong lĩnh vực
phát triển kinh tế nông nghiệp.
Từ những kinh nghiệm thực tiễn mà Đảng bộ huyện Gia Lộc, chỉ đạo
phát triển kinh tế nông nghiệp đạt được những thành tựu sẽ để lại những kinh
nghiệm quý báu cho quá trình phát triển nền nông nghiệp địa phương ở những
giai đoạn tiếp theo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
luận văn được bố cục làm 3 chương:
Chương 1:Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Gia Lộc (tỉnh
Hải Dương) về phát triển kinh tế nông nghiệptừ năm 2005 đến năm 2010
Chương 2: Sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Gia Lộc (tỉnh Hải Dương)
về phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2010 đến năm 2015
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
mùa lạnh: mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh bắt đầu từ
tháng 11 đến tháng 4. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C; lượng mưa
trung bình năm từ 1.400-1.600mm. Trước đây, do điều kiện thuỷ lợi chưa phát
11
triển, phần lớn diện tích đất chỉ cấy lúa được một vụ, những năm thời tiết mưa
thuận gió hoà, có một số nơi cấy được hai vụ, nhưng rất vất vả phải tát nước
2-3 bậc.
Mùa xuân nhiều mưa, mùa hè nhiều nắng, mùa thu lộng gió đông nam,
mùa đông rét nhiều, mức thủy triều cũng như các huyện, mỗi tháng 2 kỳ.
+ Sông ngòi:Gia Lộc có nhiều sông chảy qua. Phía Bắc huyện có sông
Kẻ Sặt là đường phân định địa giới tự nhiên giữa Gia Lộc và thành phố Hải
Dương… phía Tây và Tây Nam có sông Đĩnh Đào bắt nguồn từ cống Bá
Thuỷ chạy từ Tây Bắc xuống Tây Nam và Nam rồi đổ ra sông Thaí Bình dài
37km, đoạn chảy qua Gia Lộc dài khoảng 27km. Sông Đồng Tràng bắt nguồn
từ sông Cống Câu chảy ra Cống Cầu Xe (Tứ Kỳ).
Các con sông nói trên, tàu thuyền hàng trăm tấn có thể đi lại dễ dàng.
Bên cạnh những con sông lớn, Gia Lộc còn có nhiều sông ngòi, mương lạch
nhỏ thuận tiện cho việc tưới, tiêu, canh tác và sinh hoạt của nhân dân.
Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên của các dòng sông, trước đây về mùa
mưa lũ, thường có lụt lội làm thiệt hại nhiều tài sản, hoa màu, ảnh hưởng đến
sản xuất và đời sống của nhân dân.
Trong huyện không có núi, có dòng sông từ Kênh Lỗ huyện Cẩm Giàng
chảy qua Tỉnh lỵ đến xã Cao Dương dài 24 dặm. Trong đó:
+ Đoạn sông từ Tỉnh lỵ đến Kênh Lỗ dài 15 dặm, rộng trên dưới 17
trượng, triều lên sâu 1 trượng 5 thước, triều xuống sâu 1 trượng.
+ Đoạn từ Tỉnh lỵ đến xã Cao Dương dài 9 dặm, rộng trên dưới 9 trượng,
triều lên sâu 1 trượng, triều xuống sâu 5 thước.
tr 6].
+ Đơn vị hành chính: Huyện có 1 thị trấn Gia Lộc và gồm 22 xã: Đoàn
Thượng, Đồng Quang, Đức Xương, Gia Hòa, Gia Khánh, Gia Lương, Gia
Tân, Gia Xuyên, Hoàng Diệu, Hồng Hưng, Lê Lợi, Liên Hồng, Nhật Tân,
Phạm Trấn, Phương Hưng, Quang Minh, Tân Tiến, Thống Kênh, Thống Nhất,
Toàn Thắng, Trùng Khánh, Yết Kiêu.
13
+ Hệ thống giao thông:"Gia Lộc có nhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ
chạy qua. Đường 17A chạy từ Lục Ngạn (Bắc Giang) qua huyện Chí Linh,
Nam Sách, thành phố Hải Dương, huyện Gia Lộc về tới thị trấn Ninh Giang.
Đoạn qua huyện Gia Lộc dài khoảng 14km (chạy qua các xã Thạch Khôi, Gia
Xuyên, Gia Tân, Thị trấn Gia Lộc, xã Hoàng Diêu, Hồng Hưng). Đường 38
(trong kháng chiến chống Pháp là đường 192) được bắt đầu từ ngã 3 thị trấn
Gia Lộc đi qua thị trấn Thanh Miện sang tỉnh Hưng Yên, tỉnh Thái Bình.
Đoạn qua Gia Lộc dài 11km (chạy qua thị trấn Gia Lộc, các xã Phương Hưng,
Toàn Thắng, Đoàn Thượng, Đồng Quang, Đức Xương, Quang Minh). Đường
20 đi từ Kẻ Sặt huyện Bình Giang, qua Thanh Miện tới Ninh Giang, đoạn qua
3 xã Nhật Tân, Quang Minh, Đức Xương dài 8km. Đường 62 m nối quốc lộ
5A đến ngã ba Gia Lộc. Ngoài ba con đường chính nói trên, Gia Lộc còn một
số con đường khác như 39C, 39D, 191D" [32 tr 8].
Giao thông ở Gia Lộc là các tuyến đường liên xã được bê tông hoá và rải
nhựa. Rất thuận lợi cho việc giao thương và di chuyển. Có nhiều tuyến đường
quan trọng chạy qua như đường 5B mới nối Hải Phòng và Hà Nội (là đường
cao tốc chỉ dành cho xe Ô to). Đường Quốc lộ 38B nối Hải Dương với Ninh
Bình đi qua các xã Quang Minh, Đồng Quang, Đoàn Thượng, Toàn Thắng và
thị trấn Gia Lộc. Đường Quốc lộ 37 chạy từ cảng Diêm Điền (Thái Thụy, Thái
Bình) nối huyện Gia Lộc với khu đô thị phí tây Thành phố Hải Dương và nối
nhiều công trình kiến trúc độc đáo, to đẹp là nơi để nhân dân thờ cúng, đình
đám, hội hè. Cho đến nay, Gia Lộc đã có 22 công trình được Bộ Văn hoá Thông tin và UBND Tỉnh xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá và lịch sử cách
mạng là: Đến Quát (Yết Kiêu), khu di tích Nguyễn Chế Nghĩa, đình Phương
Điếm (thị trấn Gia Lộc), đình Đồng Bào, đền Vàng (Gia Xuyên), đình An
Tân, đình Lãng Xuyên, đình Phúc Tân (Gia Tân), chùa Dâu (Nhật Tân), đình
Liễu Tràng (Tân Hưng), đình Đồng Tái, đình Đồng Đội (Thống Kênh), đình
Quán Đào (Tân Tiến), đình Vo, Đền Đươi (Thống Nhất), đình Trình Xá (Gia
Lương), miếu Thượng Cốc, đình Cao Dương (Gia Khánh), chùa Hậu Bổng ,
đình Hậu Bổng (Quang Minh), đình Bùi Hạ (Lê Lợi), miếu Lai Cầu (Hoàng
15
Diệu), đình Phú Thọ (Thạch Khôi)… Đây là niềm vinh dự và tự hào của
người dân Gia Lộc [32, tr 10].
Các di tích lịch sử văn hoá của huyện, mặc dù đã trải qua hàng trăm
năm, bị thiên tai, giặc giã tàn phá, bị tiêu thổ trong kháng chiến chống Pháp,
hoặc do những nhận thức chưa đầy đủ trong việc giữ gìn, tôn tạo đã làm mất
đi nhiều di tích quý hiếm, nhưng những dấu ấn tốt đẹp vẫn được đọng lại, lưu
truyền trong ký ức của người dân nơi đây.
Đời sống văn hoá tinh thần của người dân Gia Lộc rất phong phú, đa
dạng như: Bơi chải (Yết Kiêu), múa rối nước (Lê Lợi), vật, đánh pháo đất
(Đức Xương), đánh thó (Phương Hưng, Thị trấn Gia Lộc), hát tuồng (Gia
Lương), hát đúm, hát ả đào, ca trù, hát chèo, các ca khúc cách mạng, nhiều
câu lạc bộ thơ của người cao tuổi… Các địa phương hàng năm đều tổ chức lễ
hội thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. ươc, sáng tạo, hiếu học,
Gia Lộc còn có truyền thống chống giặc ngoại xâm, có nhiều danh tướng tài
giỏi, tiêu biểu như danh tướng Yết Kiêu, Nguyễn Chế Nghĩa đã có công giúp
nhà Trần đánh thắng quân Nguyên Mông, Đỗ Quang trong những ngày đầu
chống thực dân Pháp…góp phần quan trọng cùng nhân dân cả nước đánh
con là liệt sĩ và có 10 bà mẹ có 2 con đều là liệt sĩ. Gia Lộc có 4 anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân (liệt sĩ Đặng Bá Hát xã Thống Kênh, đồng chí Phạm
Văn Cờ xã Thống Nhất, liệt sĩ Phạm Thanh Bình xã Trùng Khánh, liệt sĩ Lê
Gia Đỉnh xã Hoàng Diệu) và 3 anh hùng lao động (đồng chí Phạm Văn Tươi,
Đặng Quang Thuần, Vũ Văn Đính). Xã Toàn Thắng, xã Nhật Tân, xã Tân
Tiến, thị trấn Gia Lộc được phong tặng anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân. Xã Thạch Khôi được phong tặng danh hiệu anh hùng lao động thời kỳ
đổi mới. Nhân dân và Đảng bộ huyện Gia Lộc được Nhà nước phong tặng
danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Đó là
niềm vinh dự và tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong huyện
[32, tr 11].
Những đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân Gia Lộc đã được Đảng
và Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý như huân chương, huy
17