ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------
NGUYỄN THỊ NHÀN
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CÁN BỘ CẤP XÃ
TẠI HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o--------NGUYỄN THỊ NHÀN
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CÁN BỘ CẤP XÃ
TẠI HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. LÊ QUỐC HỘI
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CÁN BỘ CẤP XÃ....................................................................1
TẠI HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN......................................................................................1
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CÁN BỘ CẤP XÃ....................................................................2
TẠI HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN......................................................................................2
MỤC LỤC...................................................................................................................................5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.....................................................................................................i
DANH MỤC BẢNG BIỂU............................................................................................................ii
DANH MỤC HÌNH......................................................................................................................ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ................................................................................................................iii
LỜI NÓI ĐẦU..............................................................................................................................4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
NĂNG LỰC QUẢN LÍ CÁN BỘ CẤP XÃ.....................................................................................................9
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................................30
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÍ CÁN BỘ CẤP XÃ HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH
HƯNG YÊN............................................................................................................................................34
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÍ CÁN BỘ CẤP XÃ HUYỆN PHÙ CỪ,
TỈNH HƯNG YÊN...................................................................................................................................61
KẾT LUẬN.................................................................................................................................75
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................................76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Bảng
Nội dung
1
Bảng 2.1
2
Bảng 2.2
3
Bảng 3.1
Số lượng, cơ cấu giới tính của cán bộ quản lý cấp xã
39
4
Bảng 3.2
Cơ cấu cán bộ quản lý cấp xã theo độ tuổi
42
43
DANH MỤC HÌNH
STT
Hình
1
Hình 2.1
Nội dung
Bản đồ hành chính huyện Phù Cừ (2014)
ii
Trang
36
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
Biểu đồ
Nội dung
Đánh giá của người dân và cán bộ về năng lực xây
7
Biểu đồ 3.7
8
Biểu đồ 3.8
9
Biểu đồ 3.9
10
Biểu đồ 3.10
11
Biểu đồ 3.11
án cấp xã
Đánh giá của người dân và cán bộ về năng lực ứng dụng
khoa học công nghệ vào quản lý nhà nước ở cấp xã
Đánh giá của người dân và cán bộ về năng lực tổ chức
cuộc họp, điều hành và ra nghị quyết
Đánh giá của người dân và cán bộ về năng lực tuyên
truyền, phổ biến pháp luật, thi hành và áp dụng pháp
luật trong quản lý nhà nước
Đánh giá của người dân và cán bộ về năng lực tạo động lực
cho nhân viên và sự liên kết giữa các cá nhân trong tổ chức
52
53
54
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong đổi mới nhằm phát triển nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế, quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước cấp xã,
phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với
phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX (Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18/3/2002) về đổi mới
và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn đã nhấn
mạnh: “Các cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh
sống. Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức vận
động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động
mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư”.
Trong hệ thống chính trị ở cơ sở thì đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã là một
trong những nhân tố quan trọng, quyết định việc hoàn thành chức năng, nhiệm vụ,
bảo đảm hiệu lực của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương. Đội ngũ cán bộ
cấp xã là những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế - xã
hội, đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến
mọi người dân, thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của nhân dân, trực tiếp giải quyết
những vướng mắc của nhân dân. Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, đội ngũ
cán bộ quản lý cấp xã ở nước ta đã từng bước xây dựng và ngày càng trưởng thành
qua thực tiễn công tác, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới, góp phần ổn định chính trị,
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt nông thôn ở từng địa
Mặc dù đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề này, song tại riêng địa bàn
huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên thì chưa có nghiên cứu nào được thực hiện. Xuất
phát từ những thực tế trên, em chọn đề tài “Nâng cao năng lực quản lý cán bộ cấp
xã tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” làm đề tài nghiên cứu của Luận văn thạc sỹ
với mong muốn được đóng góp một phần công sức trong việc xây dựng và nâng cao
5
chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã trên địa bàn huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng
Yên ngày một tốt hơn.
2. Câu hỏi nghiên cứu
Thế nào là năng lực quản lý cán bộ cấp xã? Những tiêu chí nào để đánh giá
năng lực quản lý cán bộ cấp xã?
Thực trạng năng lực quản lý cán bộ cấp xã tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên
như thế nào? Đâu là những ưu điểm và hạn chế trong trong năng lực quản lý cán bộ
cấp xã tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên? Nguyên nhân của những hạn chế đó là gì?
Làm thế nào để nâng cao năng lực quản lý cán bộ cấp xã tại huyện Phù Cừ,
tỉnh Hưng Yên?
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã tại huyện Phù Cừ, tỉnh
Hưng Yên đáp ứng yêu, cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
3.2. Nhiệm vụ
- Khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về năng lực quản lý cán
bộ cấp xã.
- Phân tích thực trạng năng lực quản lý cán bộ cấp xã tại huyện Phù Cừ, tỉnh
Hưng Yên, từ đó tìm ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý cán bộ cấp xã tại
huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
tác giả đề xuất là phù hợp. Các yếu tố cấu thành năng lực quản lí của cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp xã đều ảnh hưởng đến kết quả điều hành hoạt động của tổ chức.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy năng lực quản lí của cán bộ lãnh đạo quản lí
chủ chốt cấp xã tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên chưa đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi
của tình hình mới, nhất là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng.
Các nhóm tiêu chí về năng lực quản lí được xây dựng trong luân văn sẽ cung
cấp thêm cơ sở cho các cán bộ lãnh đạo quản lí cấp xã đối chiếu với năng lực quản
lí của mình, kết hợp với tham khảo các giải pháp được trình bày trong luận văn
nhằm nâng cao năng lực quản lí, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để các cơ quan quản lí cấp trên hoạch định chính
7
sách liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo
quản lí chủ chốt tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn có kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận và thực tiễn
về năng lực quản lí cán bộ cấp xã.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng về năng lực quản lí cán bộ cấp xã tại huyện Phù
Cừ, tỉnh Hưng Yên.
Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực quản lí cán bộ cấp xã tại huyện
Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN
độ năng lực thực tế của cán bộ cơ sở tại Phú Thọ. Vì thế một số giải pháp đưa ra
còn chung chung, chưa bám sát với mục đích nâng cao năng lực cán bộ.
Hoàng Hải Bằng, Nguyễn Ngọc Long (2006): “Bản lĩnh chính trị với năng
lực của cán bộ lãnh đạo, quản lí trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay” đã chỉ
ra cấu trúc và biểu hiện các loại năng lực của người cán bộ lãnh đạo quản lí. Tuy
nhiên các tác giả chưa bàn đến năng lực thực tiễn của người cán bộ lãnh đạo, quản lí
trong hệ thống chính trị ở nước ta.
Lại Đức Vượng (2014): “Năng lực của đội ngũ cán bộ công chức – cơ sở cho
việc phân cấp quản lý” chủ yếu đưa ra khái niệm về phân cấp quản lí và thảo luận vấn đề
quản lí quá trình phân cấp. Tác giả có đề cập đến 3 nhóm năng lực của đội ngũ cán bộ
công chức là: năng lực lãnh đạo và quản lí, năng lực thực thi công vụ và năng lực nhóm,
song chưa bàn đến năng lực lãnh đạo và quản lí của cán bộ công chức cấp xã.
Trần Ánh Dương (2007): “Nâng cao năng lực quản lí nhà nước của cán bộ,
công chức, chính quyền cấp xã ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” đã thảo luận chi tiết năng
lực quản lí cần thiết của cán bộ công chức cấp xã cũng như một số tiêu chí nhất
định để đánh giá năng lực quản lí của họ. Tuy nhiên những tiêu chí đưa ra chưa thực
sự điển hình, đặc thù để đánh giá năng lực quản lí. Khi đánh giá về thực trạng đội
ngũ cán bộ công chức trên phương diện kỹ năng và phương pháp quản lí thì còn đơn
giản, chưa chỉ ra những số liệu cụ thể.
Các công trình trên chủ yếu tập trung đánh giá về chất lượng cán bộ như
phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ học vấn, chuyên môn.... chưa đánh giá sâu
sắc về năng lực quản lý của người cán bộ quản lý cấp xã. Hoặc có đánh giá về năng
lực quản lý nhưng chưa gắn với những tiêu chí đặc trưng của quản lý, chưa gắn với
hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, với yêu cầu xây dựng Nhà nước.
Việc nghiên cứu nâng cao năng lực quản lý nhà nước của cán bộ quản lý cấp
xã ở Huyện Phù Cừ, một huyện nông nghiệp nhưng giàu tiềm năng khai thác ở tỉnh
Hưng Yên hiện nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách hệ thống. Cho nên, tác
giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này, với mong muốn góp phần nhỏ bé vào công tác
cán bộ của huyện nhà.
10
Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật CBCC 2008: Cán bộ xã, phường, thị
11
trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ
theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư,
Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.
Tại khoản 2, điều 61, chương V của Luật này cũng nói rõ: Cán bộ cấp xã có
các chức vụ sau đây:
a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Họ là cán bộ chuyên trách ở cấp xã có chế độ làm việc và được hưởng chính
sách chế độ về cơ bản như cán bộ, công chức nhà nước.
Như vậy, trong vai trò quản lý và lãnh đạo, cán bộ cấp xã là công dân Việt
Nam trong biên chế; được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, gồm những người
được bầu giữ chức vụ Bí thư, phó bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch,
Phó Chủ tịch UBND có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND theo quy định của Hiến pháp và pháp luật,
bảo đảm phát triển kinh tế -xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa
bàn xã, phường, thị trấn.
1.2.3. Vai trò của cán bộ cấp xã
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ là dây chuyền của bộ máy. Nếu
dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê
Đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng
làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa công dân với Nhà nước. Họ là những cán
bộ trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn dân cư,
giải quyết mọi nhu cầu của dân cư, bảo đảm sự phát triển kinh tế của địa phương,
13
duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã. Họ vừa giải quyết những
công việc hàng ngày, vừa phải quán triệt các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên, lại
phải nắm tình hình thực tiễn ở địa phương để từ đó đề ra kế hoạch, chủ trương, biện
pháp đúng đắn, thiết thực, phù hợp. Vai trò của họ có tính then chốt xét cả trong
quan hệ giữa Đảng với dân, giữa công dân với Nhà nước, trong việc phát huy sức
mạnh của hệ thống chính trị, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Sức mạnh của hệ thống chính trị, sự ổn
định của xã hội luôn gắn liền với năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ
này. Họ có khả năng tổ chức, tập hợp và huy động mọi nguồn lực ở địa phương để
thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ
sở. Họ giữ vai trò quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng, năng lực lãnh đạo và quản lý của chính quyền cơ sở.
Thực tế quá trình đổi mới hiện nay cho thấy, nơi nào cán bộ lãnh đạo quản lý có đủ
phẩm chất, năng lực trí tuệ, thì ở nơi đó kinh tế, xã hội phát triển, đời sống nhân dân
được cải thiện, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị được nâng lên, niềm tin của
dân đối với Đảng được củng cố. Ngược lại, ở đâu cán bộ lãnh đạo quản ly với năng lực
trí tuệ hạn chế, thì ở đó kinh tế, xã hội kém phát triển, đời sống nhân dân khó khăn, hệ
thống chính trị rệu rã, nội bộ mất đoàn kết, lòng tin của dân đối với Đảng giảm sút.
Những hạn chế về năng lực, yếu kém về phẩm chất đạo đức của cán bộ lãnh đạo quản lý
cấp xã khiến họ bị động và lúng túng trước những vấn đề mới đặt ra, trước việc giải
quyết các tình huống, vụ việc phức tạp trong đời sống, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến
việc thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở cơ sở.
hành vi và thái độ được cá nhân tích luỹ và sử dụng để đạt được kết quả theo yêu
cầu công việc”.
Keen (2000) cho rằng: Từ “năng lực” có nguồn gốc từ tiếng la tinh
“competentia” có nghĩa là sự nhất trí, hòa hợp hiểu theo nghĩa nhất trí, hòa hợp giữa
tình hình, kết quả thực hiện, nhiệm vụ và khả năng. Cụ thể hơn, năng lực là khả
năng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Batal (2002) cho rằng: Năng lực làm việc được hiểu là kiến thức, kỹ năng và
hành vi – thái độ cần huy động để có thể thực hiện đúng đắn các hoạt động riêng
của từng vị trí làm việc. Kiến thức bao gồm hiểu biết chung và hiểu biết chuyên
15
ngành về một lĩnh vực cụ thể. Kỹ năng là khả năng áp dụng các kỹ thuật, phương
pháp và công cụ để giải quyết công việc. Thái độ - hành vi: thái độ, hành vi của bản
thân người làm việc.
Chương trình giáo dục phổ thông của Quebec (Canada) đưa ra khái niệm năng
lực như sau: “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ
năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một
yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”. Với cách hiểu này thì
chỉ có kiến thức, kĩ năng và thái độ không được xem như là có năng lực mà cả ba
yếu tố này phải được vận dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển
thành năng lực.
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng Nxb giáo dục ấn hành thì năng lực được
hiểu là "khả năng làm việc tốt".
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì năng lực có thể được hiểu
theo hai nét nghĩa: (1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một
hoạt động nào đó. Tức là năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua
việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó. (2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo
cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao.
Nghĩa là năng lực là sẵn có ở dạng tiềm năng của người học có thể giúp họ giải quyết
lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng
tất cả các nguồn nhân lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.”
Fayel (1998) "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh
nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo,
điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều
chỉnh và kiểm soát ấy”.
Koont (2001): "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con
người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định".
Các Mác: "Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của
quá trình lao động" [44, tr.29, 30].
Theo giáo trình Nhà nước và pháp luật của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh thì: Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức, điều hành các hoạt động
nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan.
17
Quản lý, mà ở đây là quản lý nhà nước, là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh
mang tính quyền lực Nhà nước, thông qua hoạt động của bộ máy Nhà nước bằng
phương tiện, công cụ, cách thức tác động của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời
sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
theo đường lối, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ
máy Nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động tổ chức của quyền lực Nhà nước trên
các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước
được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ".
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành
trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội và
hoạt động của con người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu,
nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các cơ quan Nhà nước nói chung cần thực
Thường vụ và tổ chức chỉ đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết đó, thay mặt Đảng ủy,
Ban Thường vụ Đảng ủy ký các nghị quyết và văn bản quan trọng của Đảng ủy, Ban
Thường vụ.
+ Năng lực tổ chức việc thông tin tình hình và chủ trương của Ban Chấp
hành, Ban Thường vụ cho các ủy viên Ban Chấp hành và tổ chức đảng trực thuộc.
+ Năng lực kiểm tra các tổ chức chính trị, xã hội và giải quyết các công việc
của Đảng ủy
+ Năng lực điều hòa sự hoạt động và mối quan hệ giữa các chi bộ, các ngành,
đoàn thể để việc thực hiện nghị quyết của cấp ủy được thống nhất.
- Năng lực của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã thể hiện:
+ Năng lực triệu tập, chủ toạ các kỳ họp, năng lực chủ trì tham gia xây dựng nghị
quyết, năng lực giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của HĐND.
+ Năng lực tiếp xúc cử tri, lấy ý kiến cử tri, tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra
việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
+ Năng lực quan hệ với đại biểu HĐND và phối hợp công tác với Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, năng lực báo cáo công tác với các cơ quan hữu quan.
+ Năng lực chủ trì và phối hợp với UBND trong việc quyết định đưa ra bãi nhiệm
đại biểu HĐND theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
- Năng lực của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã thể hiện:
19
+ Năng lực triệu tập, chủ toạ các phiên họp UBND, năng lực quyết định các
vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch, Phó Chủ tịch, tham gia quyết định các vấn
đề thuộc thẩm quyền của UBND, năng lực tổ chức chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc
thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên, Nghị quyết của
HĐND và các quyết định của UBND cấp xã.
+ Năng lực tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công
dân, năng lực giải quyết và trả lời các kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể ở xã, phường, thị trấn.