I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN PHNG THO
PHáP LUậT Về CạNH TRANH KHÔNG LàNH MạNH
TRONG LĩNH VựC Sở HữU CÔNG NGHIệP
ở VIệT NAM HIệN NAY
LUN N TIN S LUT HC
N
- 2019
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN P NG T O
PHáP LUậT Về CạNH TRANH KHÔNG LàNH MạNH
TRONG LĩNH VựC Sở HữU CÔNG NGHIệP
ở VIệT NAM HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Lut kinh t
Mó s: 9380101.05
LUN N TIN S LUT HC
N
Danh m c các biểu đồ
Danh m c các hình ảnh
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
C ƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN
ĐỀ L ÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI..................................................................9
1.1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu................................................................9
1.1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận pháp
luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp .....9
1.1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng pháp luật về cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam ....23
1.1.3.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến phƣơng hƣớng, giải pháp
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam .............27
1.1.4.
1.1.5.
1.1.6.
1.2.
1.2.1.
Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ...................................................28
Những vấn đề luận án sẽ kế thừa ................................................................30
Những vấn đề đặt ra cần tiếp t c nghiên cứu ..............................................31
Cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu..............32
Cơ sở lý thuyết ............................................................................................32
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu .............................................33
C ƢƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI
PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
LĨN VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM................................ 91
3.1.
Khái quát về quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về
cạnh tranh không lành mạn tron lĩn vực sở hữu công nghiệp ở
Việt Nam .....................................................................................................91
3.1.1. Giai đoạn trƣớc khi ban hành Luật cạnh tranh 2004 ...................................91
3.1.2. Giai đoạn từ khi ban hành Luật cạnh tranh 2004 đến nay ..........................92
3.2.
Pháp luật đ ều chỉnh và thực tiễn về cạnh tranh không lành mạnh
tron lĩn vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam ......................................95
3.2.1. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp ở Việt Nam ......................................................................................95
3.2.2. Chủ thể tham gia quan hệ cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp ...................................................................................122
3.2.3. Cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp ...................................................................................131
3.2.4. Các biện pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực sở hữu công nghiệp ............................................................................142
Kết luận ƣơn 3 .................................................................................................153
C ƢƠNG 4: P ƢƠNG ƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠN TRONG LĨN VỰC SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP Ở VIỆT NAM ..........................................................................156
4.1.1.
Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về các biện pháp xử lý hành
vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp .........170
4.3.
Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh không
lành mạn tron lĩn vực sở hữu công nghiệp .....................................175
Kết luận ƣơn 4 .................................................................................................178
KẾT LUẬN ............................................................................................................180
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN .....................................................................................................182
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................183
AN
MỤC C C CHỮ VIẾT TẮT
BLDS:
Bộ luật dân sự
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLTTDS:
Bộ luật tố t ng dân sự
Trade-Related Intellectual Property Rights Agreement
Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thƣơng mại
của quyền sở hữu trí tuệ
TTDS:
Tố t ng dân sự
TTHS:
Tố t ng hình sự
VNNIC:
Vietnam Internet Network Information Center
Trung tâm Internet Việt Nam
WIPO:
World Intellectual Property Organization
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
WTO:
World Trade Organization
Tổ chức thƣơng mại thế giới
AN
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 3.1 Mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh
124
Biểu đồ 3.2 Tham khảo pháp luật cạnh tranh khi xây dựng chính sách
kinh doanh
125
Biểu đồ 3.3 Sự nhận biết của doanh nghiệp về cơ quan cạnh tranh
127
Biểu đồ 3.4 Cách thức giải quyết tranh chấp
129
Biểu đồ 3.5 Lý do của việc ngƣ i tiêu dùng im lặng, bỏ qua v việc
129
AN
Số
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết củ đề tài nghiên cứu
Một trong những quy luật cơ ản của nền kinh tế thị trƣ ng là quy luật cạnh
tranh, theo đó các chủ thể có quyền tự do kinh doanh, quyền tự do cạnh tranh trong
khuôn khổ pháp luật. Nh đó, thị trƣ ng xuất hiện nhiều thành phần kinh tế khác
nhau cung ứng các hàng hóa, dịch v một cách đa dạng và phong phú Để thu hút
khách hàng sử d ng hàng hóa, dịch v do mình cung cấp, các chủ thể kinh doanh
phải sử d ng nhiều giải pháp khác nhau từ việc đẩy mạnh nghiên cứu, ứng d ng kỹ
thuật, công nghệ để ngày càng hoàn thiện hơn chất lƣợng sản phẩm, dịch v đến
việc truyền thông, quảng bá hình ảnh về sản phẩm, dịch v đến với ngƣ i tiêu dùng.
Trong bối cảnh các giao lƣu thƣơng mại trong nƣớc cũng nhƣ quốc tế phát triển nhƣ
hiện nay, các sản phẩm sáng tạo, các chỉ dẫn thƣơng mại để phân biệt sản phẩm và
dịch v ngày càng có ý nghĩa trong việc định hƣớng lựa chọn hàng hóa và dịch v
của khách hàng, thậm chí đã trở thành yếu tố cơ ản trong việc quyết định giá trị
lƣu thông của hàng hóa, dịch v , đồng th i góp phần quan trọng tạo ra lợi thế cạnh
tranh cho các chủ thể đang n m giữ và sử d ng chúng. Nhận thức đƣợc vai trò của
các sản phẩm sáng tạo, các chỉ dẫn thƣơng mại trong hoạt động kinh doanh, bên
cạnh các chủ thể kinh doanh lành mạnh đầu tƣ xây dựng các sản phẩm có hàm
lƣợng chất xám cao, các chỉ dẫn thƣơng mại độc đáo, chứa đựng uy tín và cam kết
của chủ thể hình thành một bộ phận không nhỏ các chủ thể kinh doanh không lành
mạnh, lợi d ng thành quả đầu tƣ của chủ thể khác để thu lợi bất chính. Do vậy, pháp
luật phải điều tiết cạnh tranh để kiểm soát hoạt động cạnh tranh trên thị trƣ ng đảm
bảo môi trƣ ng cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ ngƣ i tiêu dùng, đồng th i thúc đẩy
hội nhập về kinh tế theo xu hƣớng toàn cầu hóa.
Pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ (gọi t t là SHTT) là hai lĩnh
vực pháp luật đặc trƣng của nền kinh tế thị trƣ ng, đều ra đ i từ nền kinh tế trƣ ng
và nhằm m c đích phát triển nền kinh tế thị trƣ ng. Pháp luật SHTT trao cho chủ sở
hữu quyền bảo hộ độc quyền khai thác tài sản SHTT còn pháp luật cạnh tranh tạo
cơ hội công bằng cho các chủ thể kinh doanh tham gia thị trƣ ng Mặc dù vậy,
tranh 2004). Sau hơn 12 năm thực hiện, ngày 12/6/2018, Luật cạnh tranh số
23/2018/QH14 đã đƣợc Quốc hội thông qua, sẽ có hiệu lực vào ngày 1/7/2019 (gọi
t t là Luật cạnh tranh 2018) Trong lĩnh vực SHTT, mặc dù Việt Nam đã là thành
viên của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (gọi t t là WIPO) từ năm 1976, tham gia
các ĐƢQT nhƣ Công ƣớc Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (gọi t t là Công ƣớc
Paris) từ năm 1949 nhƣng đến năm 2005, lần đầu tiên một đạo luật có tính hệ thống,
2
điều chỉnh riêng về sở hữu trí tuệ mới đƣợc an hành Đó là Luật sở hữu trí tuệ số
50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 do Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam ban hành.
Luật này đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009 và đƣợc hợp nhất trong văn ản hợp nhất
số 19/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013 (gọi t t là Luật SHTT). Tuy vậy, Việt Nam
vẫn phải tiếp t c sửa đổi, hoàn thiện pháp luật cạnh tranh, pháp luật SHTT để các
cam kết đƣợc thực hiện trên thực tế.
Mặc dù đã có các văn ản pháp luật điều chỉnh nhƣng các quy định pháp luật
về CTKLM trong lĩnh vực SHCN vẫn còn tồn tại nhiều bất cập dẫn đến nhiều v
việc phát sinh chƣa có cơ sở giải quyết.
Thứ nhất, do pháp luật về CTKLM trong lĩnh vực SHCN chịu sự điều chỉnh
của nhiều văn ản pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau: pháp luật về cạnh tranh,
pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về thông tin và truyền thông, pháp luật doanh
nghiệp và thƣơng mại (liên quan đến tên thƣơng mại)… Những quy định pháp luật
này thƣ ng xuyên có sự thay đổi do yêu cầu của thực tiễn hoạt động kinh doanh. Do
đó, tồn tại tình trạng nếu một văn ản nào đó đƣợc sửa đổi, bổ sung nhƣng các văn
bản khác không đƣợc sửa đổi, bổ sung tƣơng ứng sẽ dẫn tới tình trạng phức tạp,
chồng chéo và mâu thuẫn giữa các văn ản pháp luật cùng quy định về một nội dung.
Có thể thấy trong quy định về hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh (gọi t t là
BMKD). Hành vi xâm phạm MK đƣợc coi là một loại hành vi CTKLM theo quy
định tại Điều 39 và Điều 41 của Luật cạnh tranh 2004 nhƣng không đƣợc quy định
trong các hành vi CTKLM theo Điều 130 Luật SHTT. Tuy nhiên, Nghị định
Luận án có m c đích nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật CTKLM
trong lĩnh vực SHCN, thực trạng pháp luật và thực tiễn hành vi CTKLM trong lĩnh
vực SHCN tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật CTKLM trong lĩnh vực SHCN ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận án phân tích và làm rõ các vấn đề lý luận về hành vi CTKLM trong
lĩnh vực SHCN và pháp luật về vấn đề này nhƣ: khái niệm, đặc điểm của các hành vi
CTKLM trong lĩnh vực SHCN; phân tích sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật
đối với hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN; khái niệm, đặc điểm và các yếu tố cấu
thành của pháp luật về CTKLM trong lĩnh vực SHCN.
- Luận án nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về CTKLM trong
lĩnh vực SHCN; phân tích, đánh giá thực trạng áp d ng pháp luật Việt Nam về hành
vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN và hoạt động xử lý hành vi này tại Việt Nam của
các cơ quan chức năng Trên cơ sở đó đánh giá những điểm chƣa phù hợp, bất cập
trong các quy định của pháp luật về CTKLM trong lĩnh vực SHCN ở Việt Nam.
4
- Luận án đƣa ra những định hƣớng hoàn thiện pháp luật cũng nhƣ những đề
xuất c thể cho việc sửa đổi pháp luật về CTKLM trong lĩnh vực SHCN và các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phòng và chống hành vi CTKLM trong lĩnh
vực SHCN (trong đó bao gồm cả quy định về các biện pháp xử lý, hình thức xử lý
đối với các chủ thể thực hiện hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN.)
3. Đố tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là những quy định của pháp luật Việt Nam
về CTKLM trong lĩnh vực SHCN và thực tiễn CTKLM trong lĩnh vực SHCN ở Việt
Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trọng tâm nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực trạng pháp
nƣớc có thẩm quyền giải quyết để làm cơ sở đánh giá tính hiệu quả của việc ban
hành pháp luật và áp d ng pháp luật.
Luận án cũng sử d ng các phƣơng pháp nghiên cứu đặc trƣng của khoa học
pháp lý nhƣ: phƣơng pháp phân loại pháp lý, phƣơng pháp phân tích quy phạm,
phƣơng pháp mô tả, phân tích tình huống, phƣơng pháp so sánh pháp luật…
Phƣơng pháp phân loại pháp lý đƣợc sử d ng trong việc xác định loại hành
vi CTKLM nói chung và hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN nói riêng.
Phƣơng pháp phân tích quy phạm đƣợc sử d ng xuyên suốt trong luận án. Các
quy phạm pháp luật nƣớc ngoài và các điều ƣớc quốc tế đƣợc phân tích trong phần lý
luận của luận án; các quy phạm pháp luật của Việt Nam đƣợc phân tích c thể trong
phần thực trạng pháp luật để hiểu rõ hơn ối cảnh ra đ i quy phạm pháp luật, các tình
huống vi phạm mà quy phạm hƣớng tới điều chỉnh và chế tài áp d ng Trên cơ sở đó,
luận án đề xuất những sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật cho phù hợp với thực
tiễn khách quan của Việt Nam và hiệu lực áp d ng của quy phạm pháp luật.
Phƣơng pháp mô tả, phân tích tình huống pháp lý nhằm làm rõ thực trạng
pháp luật CTKLM trong lĩnh vực SHCN, thực tiễn thực thi pháp luật CTKLM trong
lĩnh vực SHCN cũng đƣợc luận án sử d ng.
Ngoài ra, luận án sử d ng phƣơng pháp so sánh pháp luật để tìm hiểu quan
điểm tiếp cận của pháp luật CTKLM trong lĩnh vực SHCN từ thực tiễn điều chỉnh
pháp luật của nƣớc ngoài cũng nhƣ thấy đƣợc khía cạnh quốc tế của CTKLM trong
lĩnh vực SHCN, từ đó rút ra kinh nghiệm, bài học để hoàn thiện pháp luật Việt
Nam Phƣơng pháp so sánh cũng đƣợc sử d ng để so sánh pháp luật Việt Nam về
CTKLM trong lĩnh vực SHCN qua các th i kỳ phát triển, từ đó chỉ ra đƣợc những
điểm tiến bộ của pháp luật CTKLM trong lĩnh vực SHCN hiện nay ở Việt Nam.
6
5. Nhữn đón
óp mới về khoa học của luận án
7
Các kiến nghị đƣợc tác giả rút ra từ việc phân tích pháp luật và thực tiễn áp d ng
pháp luật về CTKLM trong lĩnh vực SHCN, đồng th i có sự so sánh với pháp luật và
thực tiễn quốc tế, vì vậy có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn.
6. Ý n
ĩ lý luận và thực tiễn của luận án
Các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung vào tri thức lý luận về pháp
luật về cạnh tranh nói chung và pháp luật về CTKLM trong lĩnh vực SHCN nói riêng.
Luận án đã đƣa ra các vấn đề pháp lý khoa học và đánh giá những ƣu điểm,
hạn chế, bất cập của pháp luật về CTKLM trong lĩnh vực SHCN. Kết quả của luận
án cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn có giá trị tham khảo cho quá trình
xây dựng và hoàn thiện pháp luật CTKLM trong lĩnh vực SHCN ở Việt Nam.
Luận án có thể đƣợc dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu,
giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo luật và nghề tƣ pháp, các cơ quan và
cán bộ thực thi quyền SHTT, các nhà làm luật.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh m c tài liệu tham khảo và các ph l c,
luận án gồm 4 chƣơng:
Chương 1:
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và các vấn đề liên quan
đến đề tài.
Chương 2:
Những vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu lý luận về cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Cạnh tranh không lành mạnh, quyền SHCN là những vấn đề đƣợc các học
giả ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣ ng phát triển nghiên cứu và có các công trình
khoa học đã đƣợc công bố từ thế kỷ trƣớc. Ở Việt Nam, các học giả b t đầu nghiên
cứu về những vấn đề này khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền
kinh tế thị trƣ ng
o đó, các công trình nghiên cứu chƣa nhiều, phần lớn đều công
nhận và kế thừa các vấn đề lý luận cơ ản đã đƣợc các học giả đi trƣớc xây dựng.
a. Các công trình nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của hành vi cạnh
tranh không lành mạnh
Sách “Concurrence déloyale et parasitisme” (Cạnh tranh không lành mạnh
và hành vi ăn ám) của Jean- Jacques Burst (1993) [110, p.9] nghiên cứu về các
dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung và hành vi CTKLM “ăn ám”
nói riêng. Tại trang 9, tác giả đƣa ra khái niệm “bị coi là hành vi CTKLM tất cả
những hành vi trái với xử sự trung thực trong thương mại” M c 2 Phần 1 của cuốn
sách tác giả phân tích 3 loại hành vi CTKLM trong 3 chƣơng: hành vi gây nhầm lẫn
(Chƣơng I), hành vi gièm pha, bôi nhọ (Chƣơng II) và hành vi gây rối hoạt động
9
của đối thủ cạnh tranh (Chƣơng III) Hành vi gây nhầm lẫn là hành vi CTKLM theo
đó “chủ thể cạnh tranh, một cách rất tự nhiên có xu hướng bằng cách lợi dụng
thành quả của đối thủ cạnh tranh tạo ra một sự nhầm lẫn trong suy nghĩ của khách
hàng” Sự nhầm lẫn này có thể tạo ra bởi các yếu tố khác nhau: nhầm lẫn về các dấu
hiệu có khả năng phân iệt nhƣ tên thƣơng mại, biển hiệu, nhãn hiệu…; nhầm lẫn
về sự giới thiệu sản phẩm do đối thủ cạnh tranh sao chép bao bì sản phẩm, nhãn
hàng hóa hoặc catalogue của sản phẩm; nhầm lẫn về chính các sản phẩm do việc
mục đích phát tán thông tin bôi nhọ, nói xấu về nhân thân đối thủ cạnh tranh, về
doanh nghiệp đối thủ hay sản phẩm của doanh nghiệp đối thủ” Hành vi gây nhầm
lẫn “có mục đích tạo ra sự nhầm lẫn trong suy nghĩ của công chúng” Sự nhầm lẫn này
có thể là về cá nhân, về doanh nghiệp hoặc về các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Hành vi gây rối nội bộ doanh nghiệp không tác động trực tiếp đến khách hàng của đối
thủ mà tác động vào sức mạnh của đối thủ cạnh tranh thông qua việc thực hiện các
hành vi nhƣ hành vi gián điệp công nghiệp, tiếp cận bí mật, bí quyết công nghệ, chiếm
những thông điệp dữ liệu hoặc xúi gi c ngƣ i lao động bỏ việc… Hành vi gây rối
chung trên thị trƣ ng, đó có thể là trƣ ng hợp một doanh nghiệp để trốn thuế và các
khoản trách nhiệm xã hội đã khai áo không trung thực về số nhân công thực tế sử
d ng. Nhƣ vậy, Yves Chaput cũng đứng trên quan điểm của các học giả Pháp, xác định
căn cứ giải quyết hành vi CTKLM là trên cơ sở trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
Tuy nhiên, nhóm hành vi thứ 4- hành vi gây rối chung trên thị trƣ ng, thông thƣ ng
chịu sự điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực khác nhƣ thuế, luật lao động hoặc hành
vi hạn chế cạnh tranh nhiều hơn là thuộc nhóm hành vi CTKLM.
Sách “Le droit francais de la concurrence” (Luật cạnh tranh của Pháp) của
tác giả Yves Serra (1993) [115] dành Chƣơng 2 để phân tích về CTKLM. Ông
khẳng định nguyên t c các chủ thể đƣợc tự do cạnh tranh, hoàn toàn hợp pháp khi
thu hút khách hàng của chủ thể khác nhƣng việc tìm kiếm khách hàng phải không
đƣợc thực hiện bằng những cách thức không lành mạnh và nếu các tòa án khẳng
định quyền tự do cho mỗi chủ thể kinh doanh đƣợc lôi kéo khách hàng của đối thủ
cạnh tranh, thì đó phải là quyền tự do với điều kiện “tuân thủ những tập quán lành
mạnh trong hoạt động thương mại” Yves Chaput phân tích các yếu tố cấu thành
của hành vi CTKLM: phải có hành vi mang yếu tố lỗi, có thiệt hại và có mối quan
hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại. Các dạng biểu hiện của hành vi CTKLM:
hành vi gây nhầm lẫn, hành vi gièm pha, hành vi gây rối hoạt động và cạnh tranh
“ăn ám”. Hành vi gây nhầm lẫn có thể là gây nhầm lẫn về bản thân doanh nghiệp
hoặc về sản phẩm của doanh nghiệp. Hành vi gièm pha là xử sự có thể gây thiệt hại
đến hình ảnh, danh tiếng của một doanh nghiệp hay một sản phẩm. Theo tác giả
11
Cuốn sách “Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không
lành mạnh ở Việt Nam” của tác giả Đặng Vũ Huân (2004) [20] là một trong những
12
công trình nghiên cứu trong giai đoạn ngay trƣớc khi Việt Nam ban hành Luật cạnh
tranh. Tác giả đã xây dựng khái niệm cạnh tranh nhƣng về CTKLM thì “khó có thể
đưa ra một khái niệm bao quát, chi tiết về CTKLM (do tính không triệt để xác định
về nội dung), song cần phải thừa nhận CTKLM là khái niệm phản ánh tổng hợp
những yếu tố mang tính quy tắc của xã hội học, kinh tế học, đạo đức học và luật học
trong một xã hội nhất định” Tác giả cũng phân loại CTKLM thành các nhóm: hành
vi gây nhầm lẫn “là hành vi có thể dẫn tới sự nhầm lẫn của khách hàng về nơi sản
xuất, sản phẩm hàng hóa, tên thương mại hoặc xuất xứ hàng hóa của một chủ thể
kinh doanh đối với đối thủ cạnh tranh khác”; hành vi lừa dối “là hành vi tạo ra một
ấn tượng giả về các sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ của một đối thủ cạnh tranh”;
hành vi làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh “là việc đưa ra một luận điệu lừa dối nào
đó nhằm gièm pha, bôi nhọ đối thủ cạnh tranh, làm tổn hại đến uy tín đối thủ cạnh
tranh cũng nhằm mê hoặc người tiêu dùng với những thông tin không đúng sự
thực.”; hành vi vi phạm bí mật kinh doanh; hành vi lợi d ng không chính đáng
thành quả trong kinh doanh của ngƣ i khác; quảng cáo so sánh; hành vi CTKLM
khác
Nhƣ vậy, tác giả Đặng Vũ Huân không xây dựng khái niệm về CTKLM mà
chỉ nêu các yếu tố chi phối đến quan niệm về hành vi CTKLM, các loại hành vi
CTKLM. Các loại hành vi CTKLM này đƣợc tác giả liệt kê c thể từng loại chứ
không phân nhóm.
Cuốn sách “Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam” của các tác giả Lê Danh
Vĩnh, Hoàng Xuân
ỉ, Tây
an Nha, Th y Sĩ, Hoa Kỳ và Luật
cạnh tranh Việt Nam để đƣa ra nhận xét “pháp luật cạnh tranh Việt Nam chẳng
những không đưa thêm được các tiêu chí đánh giá mà còn giản lược hơn khi chỉ đề
cập đến khái niệm đạo đức kinh doanh, gây khó khăn cho việc xem xét hành vi
CTKLM trên thực tế” Tác giả Đoàn Tích Tử Phƣớc cũng phân tích hành vi CTKLM
có các đặc điểm cơ ản: hành vi do các chủ thể kinh doanh trên thị trƣ ng thực
hiện; tính chất đối lập, đi ngƣợc lại các thông lệ tốt; cần phải ngăn chặn khi gây
thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho các đối tƣợng khác Các nhóm hành vi
CTKLM ao gồm: các hành vi mang tính chất lợi d ng, các hành vi mang tính chất
công kích, các hành vi lừa dối, lôi kéo khách hàng [77].
Qua những công trình cơ ản trên có thể thấy, các học giả không xây dựng
một khái niệm hành vi CTKLM chung, thống nhất mà chỉ đƣa ra các dấu hiệu, đặc
điểm của hành vi CTKLM: hành vi của chủ thể kinh doanh, nhằm m c đích lợi
nhuận, có lỗi, gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho chủ thể khác, trái với
các chuẩn mực của đạo đức kinh doanh. Các dạng hành vi CTKLM phổ biến trong
các nghiên cứu gồm: hành vi sử d ng chỉ dẫn gây nhầm lẫn, hành vi gièm pha, công
kích đối thủ, hành vi gây rối hoạt động kinh doanh.
14
b. Các công trình nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu
công nghiệp
Cuốn “Sở hữu trí tuệ công cụ đắc lực để phát triển kinh tế” của Kamin Idris
(2005) [22] do C c Sở hữu trí tuệ Việt Nam iên dịch, trang 7 định nghĩa “SHTT là
thuật ngữ mô tả những ý tưởng, sáng chế, công nghệ, tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc
và văn học, những cái vô hình khi tạo ra nhưng trở nên đáng giá dưới dạng sản