SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục vệ sinh và bảo vệ môi trường cho trẻ 3 - 4 tuổi - Pdf 58

1. PHẦN MỞ ĐẦU
Trong   mỗi   chúng   ta,   ai   ai   cũng   từng   cắp   sách   tới   trường   học.   Ngôi 
trường thân yêu trong mỗi ký  ức chúng ta luôn là những kỷ niệm đẹp đẽ  khó 
quên. Để những ký ức đẹp đó mãi mãi không phai nhạt, để học sinh ngày càng  
yêu mến trường lớp và để giáo dục kiến thức, nhân cách con người hoàn thiện 
trên một tầm cao mới, năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động phong 
trào: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Đây là một phong 
trào có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo nước  
nhà. Một trong những tiêu chí của phong trào trên là xây dựng trường học “ 
Xanh­ sạch  ­ đẹp ­ an toàn”. Trường học xanh­ sạch ­ đẹp ­ an toàn sẽ  tạo 
ra một môi trường học tập, sinh hoạt, vui chơi an toàn hấp dẫn học sinh, giúp  
học sinh yêu trường lớp, yêu thầy cô, yêu bạn bè và tích cực học tập. Hơn thế 
nữa, ngôi trường xanh ­ sạch ­ đẹp còn có ý nghĩa giáo dục học sinh ý thức,  
thói quen giữ gìn và bảo vệ môi trường sống cho hôm nay và cho tương lai mai  
sau. Theo   dõi   trên   các   phương   tiện   thông   tin   đại   chúng   hàng   ngày,   chúng 
ta không khỏi băn khoăn, bức xúc trước tình trạng ô nhiễm môi trường, vấn đề 
rác thải, tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của các công trình vệ  sinh công  
cộng, khói bụi và tiếng  ồn... mà nguyên nhân chủ  yếu  ở  đây là do ý thức con 
người. Trường học là nơi đào tạo thế  hệ  trẻ, chủ  nhân tương lai cho  đất 
nước. Nhưng vấn đề  vệ  sinh môi trường  ở  trường học cũng là những điểm 
nóng làm cho các cấp lãnh đạo đau đầu, các bậc phụ huynh băn khoăn lo lắng, 
học sinh thì phải chịu cảnh sinh hoạt học tập trong môi trường không đảm 
bảo vệ sinh.  Từ những nguyên nhân trên dẫn đến bệnh học đường, bệnh lây 
nhiễm trong trường học ngày càng gia tăng đến mức báo động, gây ảnh hưởng 
không tốt đến sức khoẻ học sinh. Như chúng ta đã biết con người là vốn quý 
nhất của xã hội, sức khỏe là vốn quý nhất của con người. Vấn đề  vệ  sinh 
trường học là một vấn đề  ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ của học sinh,  ảnh  
hưởng việc học tập và ảnh hưởng tới giống nòi tương lai đất nước. Chính vì 
thế phát động đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng “Trường học thân thiện, 
học sinh tích cực”, xây dựng trường lớp “ Xanh ­ sạch ­ đẹp ­ an toàn” là một 
phong trào có ý nghĩa thiết thực trong công tác giáo dục, bảo vệ sức khoẻ học 

thiếu được trong chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ ở bậc học Mầm non.  
Chính vì thế mà tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất  
lượng giáo dục vệ  sinh và bảo vệ  môi trường cho trẻ  3 ­ 4 tuổi ” để  làm 
sáng kiến kinh nghiệm. Tôi hy vọng sự  đóng góp nhỏ  nhoi của mình sẽ  giúp 
cho trẻ  tự ý thức được về  vệ  sinh và biết bảo vệ  môi trường sống của mình 
một cách lành mạnh, đảm bảo cho trẻ  có một sức khoẻ  tốt, phát triển một  
cách toàn diện hơn.
1.2. Phạm vi áp dụng của đề tài sáng kiến: 
* Điểm mới của  đề tài.
Trên thực tế  có rất nhiều đồng nghiệp đã viết về  đề  tài này, tuy nhiên 
mỗi đề  tài đề  cập đến những khía cạnh khác nhau của việc  giáo dục trẻ  kỹ 
2


năng sống cho trẻ  3­ 4 tuổi ,  phù hợp với tình hình thực tế  của từng trường.  
Đối với sáng kiến này, điểm mới của đề  tài là đó sử  dụng một số  biện pháp 
mới có tính khả thi cao, phù hợp với tình hình của nhà trường, tác động và có  
hiệu quả rất lớn trong việc giáo dục vệ sinh bảo vệ môi trường cho trẻ 3 ­ 4 
tuổi trong trường mầm non. Đề tài tập trung vào những mặt đã làm được, đề 
xuất những quan điểm phù hợp cho quá trình hoạt động ở trường mầm non có 
hiệu quả.
* Phạm vi áp dụng đề tài.
Nội dung đề tài viết trên tinh thần tập hợp những kinh nghiệm đúc kết 
được của bản thân, chủ  yếu là những giải pháp trong việc  giáo dục kỹ  năng 
sống cho trẻ  tại trường mầm non nơi tôi đang công tác. Đề  tài này có thể  áp 
dụng rộng răi, có hiệu quả  đối với các trường mầm non trên địa bàn huyện, 
tỉnh nói riêng và có thể  áp dụng rộng rãi đối với các trường mầm non trong  
tỉnh và trên toàn quốc nói chung.
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Thực trạng của đề tài 

luôn có tấm lòng bao dung, rộng mở yêu thương chăm sóc trẻ bằng tâm huyết 
của mình, say sưa nghiên cứu bài dạy, sáng tạo nhiều cái mới trong giảng dạy, 
cố  gắng rèn luyện bản thân về  chuẩn mực đạo đức, nhân cách, hành vi, tác  
phong của một nhà giáo làm tấm gương sáng cho trẻ noi theo. 
     b. Khó khăn: 
         Trường  thuộc xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên cơ sở vật  
chất còn hạn chế, phần lớn là con em của những gia đình nông nghiệp, cuộc  
sống con vất vã, lam lũ. Việc chăm sóc giáo dục trẻ  chưa được quan tâm và 
coi trọng. Nhất là hoạt động giáo dục vệ  sinh và bảo vệ  môi trường. Nhiều  
trẻ đến trường chân tay, mặt mũi còn bẩn, trẻ chưa có ý thức cho môi trường 
sạch sẽ, vứt rác bừa bãi. 
Dưới sự tác động của môi trường xung quanh diễn ra rất phức tạp, mặt  
khác đội ngủ giáo viên chưa được đào tạo cơ  bản về  bảo vệ  môi trường nên 
kiến thức còn hạn chế  nên chưa đi sâu vào giáo dục vệ  sinh và bảo vệ  môi  
trường cho trẻ, chính vì điều đó mà sự tự ý thức của trẻ chưa cao như: vứt rác  
bừa bãi, hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra trên quy mô 
rộng, tầng ozôn đang bị chúng ta hủy hoại, sự biến đổi về khí hậu và tần xuất  
thiên tai thì ngày càng gia tăng.
Kiến thức và kinh nghiệm của giáo viên còn hạn chế. 
Nhận thức của một số phụ huynh trong việc giáo dục vệ sinh và bảo vệ 
môi trường chưa cao, chưa biết phối hợp với cô giáo để thực hiện.
         Một khó khăn nữa là trẻ trong lớp có cùng một độ tuổi nhưng có trẻ sinh  
đầu năm, có trẻ sinh cuối năm nên sự tiếp thu của trẻ không đồng đều.
* Điều tra thực tế đầu năm:
STT

Thành phần gia 

TS 


Gia đình cán bộ viên 
chức
Gia đình nông 
nghiệp
Gia đình kinh doanh

Tỷ  

học
TS
Tỷ  

TS

Tỷ  

5

2

lệ %
40

3

lệ %
60

2



Khảo sát trẻ vệ sinh có ý thức vệ sinh cá nhân
­ Tổng số trẻ trong lớp : 32 cháu
­ Biết thực hiện thao tác vệ sinh: 16 cháu, tỷ lệ: 50%
­ Trẻ  biết vệ sinh đồ  dùng đồ  chơi trong và ngoài lớp học: 19 cháu, tỷ 
lệ: 59,4%.
­ Trẻ biết vệ sinh trong ăn uống: 21 cháu, đạt tỷ lệ: 65,6%
Vậy làm thế  nào để  trẻ  có một bữa ăn ngon, cho trẻ  có một giấc ngủ 
say, có một sức khoẻ  tốt để  vui chơi và học hành thì trước hết phải có một 
môi trường giáo dục vệ  sinh lành mạnh và an toàn; đó cũng chính là điều mà 
tôi luôn băn khoăn và trăn trở để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhất để làm 
sao giáo dục có hiệu quả về giáo dục vệ sinh và bảo vệ môi trường và tôi đã  
mạnh dạn đưa ra một số biện pháp sau:
2.2 Các biện pháp thực hiện.
2.2.1. Luôn tự  học tập, bồi dưỡng kiến thức kỹ  năng về  giáo dục vệ  
sinh và bảo vệ môi  trường. 
Học tập và nghiên cứu các văn bản và chỉ  thị  cấp trên về  giáo dục vệ 
sinh và bảo vệ môi trường.
Tham gia tốt các đợt  tập huấn do phòng và nhà trường tổ  chức. Trong 
đó chú trọng về  giáo dục vệ  sinh và bảo vệ  môi trường trong trường mầm  
non.
Thường xuyên tìm tòi sách báo, nghiên cứu và tìm hiểu thêm về  vai trò 
và tầm quan trọng của giáo dục vệ sinh và bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo  
sự phát triển lành mạnh về cơ thể và trí tuệ cho trẻ. 
Tham gia tốt các đợt thao giảng dự  giờ  để  học hỏi thêm kinh nghiệm  
cho bản thân. Thường xuyên đưa giáo dục vệ sinh và bảo vệ môi  trường vào  
các hoạt động hằng ngày.
5



Mặt khác thông qua các hoạt động còn giúp trẻ nhận biết con người, cây 
cối, con vật không thể tồn tại nếu không có đất, cần sử dụng đất hợp lý bảo  
vệ đất không ô nhiễm. Sử dụng nước tiết kiệm và đúng mục đích. 
Giáo dục trẻ  có nề  nếp ăn uống sạch sẽ  như  : Rửa tay sạch trước khi  
ăn, biết lấy tay che miệng, quay chỗ khác khi hắt xì hơi, không bốc thức ăn từ 
bát này sang bát khác. 
Vệ sinh lớp học, đồ dùng đồ chơi sạch sẽ, gọn gàng. 
6


Đặt thùng rác ở nhiều chổ để phụ huynh và trẻ bỏ rác thuận tiện, thùng  
đựng rác phải có nắp đậy và được đổ rác thường xuyên, thay sạch hằng ngày
­ Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ  mầm non cần được tiến hành qua 
các hoạt động giáo dục.
* Hoạt động vui  chơi
­ Hoạt động vui chơi được coi là hoạt động chủ  đạo của trẻ  mẫu giáo. 
Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường có thể được thực hiện qua các trò chơi 
sau của trẻ:
+ Trò chơi đóng vai theo chủ đề: Trẻ đóng vai và thể hiện các công việc 
của người làm công tác bảo vệ môi trường.
+ Trò chơi học tập: Phân nhóm, phân loại, tìm hiểu về  các hiện tượng  
trong môi trường (các hành vi tốt hay xấu đối với môi trường sạch và môi 
trường bẩn, động vật và điều kiện sống).
+ Trò chơi ngôn ngữ: Đặt và giải các câu đố về môi trường (các loài động  
vật khác nhau, các loại cây)
+ Trò chơi vận động: Về giữ gìn, bảo vệ môi trường, hành vi của các con 
vật (tiếng kêu, vận động)
* Hoạt động học tập
+ Qua các môn học:
­ Tạo hình: Tổ  chức cho trẻ  vẽ, nặn, cắt dán các sản phẩm tạo hình ca  

biết lau tay và rửa tay khi tay bẩn. Biết cùng cô lau chùi bàn ăn và xếp gọn bàn 
ghế cùng các bạn. 
2.2.4. Cho trẻ làm quen ở mọi lúc mọi nơi.
Đây là một hình thức quan trọng, nó hỗ trợ và làm giàu vốn biểu tượng  
phong phú cho trẻ. Do vậy, ở mọi lúc mọi nơi cô giáo phải biết tận dụng mọi  
điều kiện tốt nhất, thường xuyên tổ chức cho trẻ thực hành vệ sinh và bảo vệ 
môi trường.
Đồng thời, sưu tầm tranh ảnh để tạo môi trường trong và ngoài lớp học. 
Cho xem băng đĩa về giáo dục môi trường thông qua hoạt động chiều gồm các 
nội dung gần gũi như tổ chức bữa ăn, chăm sóc trồng cây xanh.Thông qua đó,  
trẻ có thể quan sát, tìm hiểu được cái tốt và cái chưa tốt. Quá trình quan sát và 
tìm hiểu trẻ rút ra được kinh nghiệm cho bản thân.
2.2.5. Phối kết hợp với phụ huynh và cộng đồng dân cư. 
Để  việc giáo dục trẻ  đem lại hiệu quả, công tác phối hợp với phụ 
huynh đóng vai trò hết sức quan trọng. Qua những lúc đón, trả trẻ những buổi 
họp phụ  huynh tôi trao đổi với phụ  huynh về  tầm quan trọng của việc giáo  
dục vệ sinh và bảo vệ môi trường, cho phụ huynh xem các nội dung giáo dục 
vệ sinh và bảo vệ môi trường.
Hướng dẫn phụ  huynh các thao tác vệ  sinh cá nhân của trẻ  để  phụ 
huynh biết kết hợp hướng dẫn hàng ngày như  đánh răng, rửa tay bằng xà 
phòng dưới vòi nước sạch đúng các thời điểm trong ngày, biết lau mặt đúng 
quy trình.
Tổ chức các hoạt động cụ  thể để  phụ  huynh cùng tham gia: Ngày nông 
thôn mới, tổng vệ sinh xóm làng, thu gom rác thải, trồng cây quanh trường. Từ 
8


đó phụ  huynh sẽ  nhận thức được ý nghĩa của việc vệ  sinh và bảo vệ  môi 
trường nhằm đem lại cho trẻ một sức khoẻ tốt.
Tôi luôn kết hợp với chính quyền địa phương trong việc cải tạo môi 

Gia đình cán bộ viên 
chức
Gia đình nông 
nghiệp
Gia đình kinh doanh

TS 
cháu

Có ý thức vệ 

Có ý thức vệ 

Có ý thức bảo 

sinh cá nhân

sinh trong và 

vệ môi trường

TS

ngoài lớp học
Tỷ   lệ   TS
Tỷ   lệ   TS

Tỷ   lệ  

%


90,9

6

6

100

4

83,3

4

83,3

Khảo sát trẻ vệ sinh có ý thức vệ sinh cá nhân
­ Tổng số trẻ trong lớp : 32 cháu
9


­ Biết thực hiện thao tác vệ sinh: 31 cháu, tỷ lệ: 96,8%
­ Trẻ biết vệ sinh đồ  dựng đồ  chơi trong và ngoài lớp học: 31 cháu, tỷ 
lệ: 96,8%.
­ Trẻ biết vệ sinh trong ăn uống: 32 cháu, đạt tỷ lệ: 100%
* Đối với giáo viên:
Giáo viên đó nắm chắc nội dung giáo dục vệ sinh và bảo vệ môi trường, 
vận dụng được các phương pháp phù hợp gắn với cuộc sống thực tế của trẻ.  
Hình thành cho trẻ những hành vi thái độ đúng đắn bảo vệ môi trường.

trẻ có làm được những điều trên thì hoạt động giáo dục vệ sinh và bảo vệ môi 
trường mới đạt hiệu quả cao.
 3. PHẦN KẾT LUẬN.
         3.1. Ý nghĩa đề tài: 
Sáng kiến kinh nghi ệm v ề   một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo 
dục vệ sinh và bảo vệ môi trường cho trẻ 3­4 tuổi  mang một ý nghĩa rất quan 
trọng và là việc làm hết sức cần thiết, bởi le tr
̃ ẻ sẽ học bài một cách hứng  
thú hơn.  Qua đó, giúp trẻ  hứng thú và biết tầm quan trọng trong khi vệ sinh  
bảo vệ  môi trường, để  trẻ  hoàn thiện hơn và phát triển một cách toàn diện, 
trẻ sẽ tích cực tham gia các hoạt động mang ý nghĩa cộng đồng, hòa đồng, thân 
ái, đồng cảm chia sẻ với mọi người xung quanh, hơn hết là trẻ sống tốt, sống 
có ý nghĩa và có một niềm tin thiết tha hơn về cuộc sống hiện tại.
Qua quá trình thực hiện và áp dụng những biện pháp trên tôi đã thu được 
kết quả đáng phấn khởi.
Khuôn viên của nhà trường ngày càng “Xanh ­ sạch ­ đẹp” và an toàn  
thoáng mát, đã góp phần rất lớn thu hút các bậc phụ huynh đưa trẻ đến trường  
ngày một đông hơn.   Thông qua giáo dục vệ  sinh và bảo vệ  môi trường trẻ 
biết chăm sóc giữ gìn sức khoẻ cho bản thân. Biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ 
sinh lớp học, biết cất đồ dùng và vật liệu gọn gàng, đúng chỗ. Trẻ biết chăm 
sóc cây cảnh, tưới góc thiên nhiên. Có ý thức tốt bảo vệ  môi trường của lớp,  
của trường luôn xinh, luôn đẹp. Trẻ  có những ý thức tốt bảo vệ  môi trường  
như nhặt rác bỏ vào thùng, không khạc nhổ bừa bải, không làm rơi vải , không 
bỏ  thừa thức ăn, ăn xong đánh răng biết tiết kiệm nước. Biết cùng cô làm đồ 
dùng đồ chơi từ các nguyên vật liệu phế thải, chia sẻ hợp tác với bạn bè, cha 
mẹ. Trẻ có hiểu biết về môi trường sống của con người. 
         3.2. Kiến nghị, đề xuất:
* Đối với giáo viên:
  
­ Cần có lòng yêu nghề  mến trẻ, kiên trì, nhẫn nại theo dõi từng bước 

yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay.
                                   Xin chân thành cảm ơn./.

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status