I/ LỜI NÓI ĐẦU.
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nư ớc.
Đảng khẳng định nguồn lực con người là yếu tố quyết định sự phát triển kinh
tế xã hội và con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế xã hội. Ở Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu: “… đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm đưa
đất nước thoát khỏi lạc hậu nghèo nàn trở thành một nước công nghiệp, bảo
vệ vững chắc độc lập dân tộc, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”. Đây là mục
tiêu của chiến lược cách mạng nước ta và là lợi ích trăm năm của dân tộc ta,
mà vì lợi ích ấy chúng ta phải chăm lo “ Sự nghiệp trồng người” như Bác Hồ
đã dạy. Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ngày nay,
tiềm năng trí tuệ trở thành động lực chính của sự tăng tốc và phát triển, giáo
dục đào tạo được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia
trên trường quốc tế và sự thành đạt của mỗi người trong cuộc sống của mình,
chính vì vậy mà Đảng và nhà nước ta luôn khẳng định “ Giáo dục là quốc sách
hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”. Mà như chúng ta đã
biết mục đích của giáo dục là “ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài”. Vì vậy vấn đề cấp bách hiện nay là phải thực hiện tốt
phương châm “ Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” “ Giáo dục và đào tạo
là sự nghiệp của toàn Đảng, của nhà nước và của toàn dân” . Quan niệm đó
luôn được thể hiện nhất quán trong các chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng về giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng cụ thể là ngày 23
tháng 6 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đó phê duyệt Đề án Phát triển giáo
dục mầm non(GDMN) kèm theo Quyết định số 149/2006/QĐTTg: Quyết
định“Phát triển GDMN giai đoạn 2006 2015” với quan điểm chỉ đạo là: “...
Đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để m ọi
tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục mầm non” .
Quan điểm chỉ đạo này hoàn toàn phù hợp với xu thế chung trên thế giới hiện
nhiệm của ngành giáo dục và đương nhiên là hiệu quả giáo dục thấp.
Từ vị trí và đối tượng của mình, giáo dục Mầm non có số lượng học
sinh ngoài công lập đông nhất và đóng vai trò quan trọng đối với việc phát
triển các bậc học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên trên thực
tế giáo dục mầm non vẫn còn nhiều hạn chế. Hiện nay, giáo dục mầm non
đang đứng trước những thách thức lớn đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển
giáo dục mầm non và ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục còn hạn chế,
chủ yếu đầu tư chỉ là tối thiểu và tập trung chính để chi lương cơ bản cho
giáo viên. Dù vậy mặt bằng lương của giáo viên mầm non vẫn ở mức quá
thấp, nhưng trách nhiệm, thời gian công sức lại quá nặng nề. Điều này tất
yếu dẫn đến tình trạng phát triển giáo dục mầm non hết sức khó khăn. Mặt
khác, đó là mâu thuẫn giữa một mặt là yêu cầu giáo dục phổ cập Tiểu học đòi
hỏi phát triển quy mô rộng lớn của Mẫu giáo 5 tuổi, đảm bảo cho 100% trẻ 5
tuổi được chuẩn bị vào Tiểu học với một mặt là không có đủ điều kiện để
phát triển, mà khó khăn trước hết là đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất chưa đáp
ứng được yêu cầu đổi mới. Từ những vấn đề đang đặt ra cho giáo dục mầm
non phương hướng phát triển của giáo dục mầm non trong giai đoạn tới là
phải thực hiện tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ trong
xã hội. Do vậy giáo dục mầm non cũng cần phải tiến hành XHH công tác giáo
dục. Vì vậy mà tôi chọn đề tài: “Kinh nghiệm thực hiện công tác Xã hội hóa
giáo dục ở trường mầm non Hà Châu huyện Hà Trung ”.
II/ THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1/ Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
a, Tình hình địa phương:
2
Xã Hà Châu với tổng dân 5430 người, sống chủ yếu là nông nghiệp, môi
ưởng không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng giáo dục. Trường còn 1 số
giáo viên năng lực hạn chế, nên tiếp cận ch ương trình đôỉ mới hình thức giáo
dục chậm. Phụ huynh học sinh chủ yếu là nghề nông nên thu nhập thấp, thời
gian quan tâm đến các cháu còn ít. Nhận thức của một số cán bộ, Đảng viên và
nhân dân trong địa phương về giáo dục mầm non còn hạn chế chưa đúng
mức.Chế độ chính sách của giáo viên mầm non ngoài biên chế còn thấp(do
ngân sách địa phương hỗ trợ còn thấp ), chưa tương xứng với công sức bỏ ra,
nên đời sống của giáo viên gặp rất nhiều khó khăn.
2/ Kết quả hiệu quả thực trạng:
3
Vào đầu năm học tôi khảo sát thực trạng kết quả như sau:
Đã có
Còn thiếu
T
T
Danh mục
Nội dung
SL
N
MG
T
85
84
Phòng học
Các phòng chức năng
Đồ chơi ngoài trời
Nhà VS học sinh
Nhà VS giáo viên
Tổng vốn
Doanh nghiệp
Cá nhân
Các đoàn thể
Phụ huynh
2
6
2
100
0
2
7
0
18 000 000
0
0
0
18 000 000
3
2,3
24,3
33
0
72,5 72,7
0
0
1
0
Về cơ sở vật chất: trường chúng tôi đã được đầu tư 7 phòng học với
tổng dự toán 7 phòng học là trên 2,1 tỷ đồng trong đó ngân sách nhà nước hỗ
trợ là 1,4 tỷ đồng, còn ngân sách xã đầu tư là trên 700 triệu đồng cho 7 phòng
học. Ngoài ra để xây dựng trường chuẩn nhà trường còn thiếu nhiều các
phòng chức năng như phòng hoạt động âm nhạc, văn phòng nhà trường, phòng
hiệu trưởng, phòng các phó hiệu trưởng, phòng nhân viên, phòng hành chính,
phòng y tế, nhà bếp, phòng chia ăn, kho để thực phẩm, khu chế biến, nhà vệ
sinh cán bộ giáo viên, phòng bảo vệ … ngoài ra còn phải xây hàng rào xung
quanh trường, cổng biển trường, đường đi lối lại, khuôn viên sân vườn, hệ
thống nước sạch, hệ thống nước thải.
Về trang thiết bị : còn thiếu các trang thiết bị phòng học như bàn ghế,
giá góc bảng từ giáo viên, các trang thiết bị các phòng chức năng như gương
múa, gióng múa, giường y tế, tủ thuốc… các loại bảng biểu, các trang thiết bị
tưởng mà thông thì mọi việc khó mấy cũng làm được. Vì vậy, phải tăng
cường công tác tuyên truyền, vận động cung cấp thông tin một cách đầy đủ
về đường lối, mục đích, chủ trương, yêu cầu, thuận lợi, khó khăn… nhằm
làm chuyển biến nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương,
các tổ chức xã hội, quần chúng nhân dân theo hướng tích cực về vị trí hàng
đầu của giáo dục, về bản chất, nghĩa vụ và quyền lợi của XHH giáo dục để
quần chúng có đủ hiểu biết, chủ động tham gia vào giáo dục. Nâng cao nhận
thức về XHH giáo dục cho mọi người có rất nhiều con đường, nhiều hình
thức tổng hợp. Để làm được điều này, tôi đó quan tâm tới các vấn đề sau:
+ Trước hết tham mưu với các đồng chí ở cấp uỷ Đảng, chính quyền
địa phương; quán triệt cho toàn cán bộ giáo viên trong trường. Kết hợp với
các ban ngành đoàn thể sau đó tuyên truyền đến toàn dân. Tổ chức học tập,
quán triệt các văn bản, nghị quyết, chỉ thị có liên quan đến giáo dục và xã hội
hoá sự nghiệp giáo dục để mọi người đều nắm vững chủ trương, đường lối,
chính sách vận dụng vào thực tiễn.
5
+ Thực hiện tốt các hình thức tuyên truyền: tuyên truyền bằng nhiều
hình thức như:
Thông qua các buổi họp phụ huynh. Thông qua các buổi tập huấn tập
trung, phối kết hợp với Hội phụ nữ xã, đoàn thanh niên…Thông qua các cuộc
họp giao ban bí thư chi bộ, cuộc họp liên tịch của xã. Thông qua các góc tại
trường, lớp. Thông qua hệ thống loa truyền thanh của xã. Thông qua họp phụ
huynh và đến tận gia đình trẻ.
+ Thực hiện tốt nội dung tuyên truyền:
Tuyên truyền về tầm quan trọng của việc đưa con đến trường đi học.
Tuyên truyền về phòng chống bệnh suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ và tầm
quan trọng của việc cho trẻ ăn bán trú tại trường. Tuyên truyền về việc đóng
góp kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác tổ chức ăn bán trú
biến trong nhận thức và hành động của nhân dân trong công tác tham gia XHH
giáo dục.
Tôi đã tuyên truyền bằng nhiều cách: như tổ chức Họp phụ huynh:
Họp đầu năm: thông báo cho gia đình kế hoạch của trường, nhóm lớp,
nội dung chương trình, thời gian học hàng ngày của trẻ và phương pháp, hình
thức giáo dục của nhà trường, những công việc mà cha mẹ học sinh cần thực
hiện ở nhà. Tuyên truyền để phụ huynh hiểu được cho con đi học là để con
mình được chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục theo khoa học, đó là mỗi lớp mỗi
giai đoạn có chương trình giáo dục riêng phù hợp, số trẻ ăn bán trú là để trẻ
ăn đủ chất, đổi chất, ăn hết tiêu chuẩn, ngủ đủ giờ, uống nước đầy đủ, từ đó
cơ thể trẻ khoẻ mạnh, cân đối là điều kiện để trí tuệ phát triển. Mặt khác
thông qua ăn ở bán trú trẻ được rèn nhiều thói quen tốt như vệ sinh răng
miệng, vệ sinh tay chân, mặt mũi. Tuyên truyền với phụ huynh về kế hoạch
xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia, vai trò của xây dựng trường chuẩn
Quốc gia trong đó có việc thực hiện tốt công tác XHH giáo dục nhằm hoàn
thiện các tiêu chí xây dựng trường chuẩn Quốc gia nâng cao chất lượng giaó
dục toàn diện. Về phía phụ huynh để thực hiện công tác XHH trong việc xây
dựng trường chuẩn. Cần phải lao động tạo khuôn viên, ủng hộ cây xanh, cây
cảnh, cây ăn quả …để hoàn thiện khuôn viên sân vườn. Mặt khác vận động
phụ huynh đóng góp kinh phí để mua sắm các trang thiết bị bán trú, lắp hệ
thống điện, nước để sử dụng. Với cách nói có lý, dễ hiểu, phụ huynh tự giác
cho con đi học, đa số trẻ ăn bán trú, phụ huynh đóng góp nhiều ngày công lao
động và ủng hộ nhiều cây xanh, cây cảnh, cây hoa có giá trị, cũng như đóng
góp kinh phí để mua sắm các trang thiết bị bán trú, lắp hệ thống điện, hệ
thống nước xong ngay từ cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 2010.
Họp giữa năm: Nhà trường thông báo tình hình sức khoẻ, học tập, vui
chơi của từng trẻ và toàn trường, những yêu cầu đối với gia đình trong thời
gian tới.
Họp cuối năm: Nhà trường tổng kết tình hình năm học, xây dựng mặt
dân xã thực hiện tốt kế họạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia
mức độ 1 và xây dựng công sở có nếp sống văn hoá cấp huyện.
2. Chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ:
Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ là tiền đề quan trọng để nhà trường
mầm non phát huy tầm ảnh hưởng của mình đến với cộng đồng. Chất lượng
nuôi dưỡng, giáo dục của nhà trường có đảm bảo, trẻ em có khoẻ mạnh và
phát triển tốt thì vai trò của nhà trường mới được phụ huynh và cộng đồng
thừa nhận. Vì vậy, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ phải là vấn đề
được quan tâm hàng đầu ở các trường mầm non.
Về công tác nuôi dưỡng: Sè nhãm líp tæ chøc ¨n đầu năm:7(NT:1;
MG:6); cuối năm là: 9(NT:3; MG:6); tăng 3 nhóm lớp so với đầu năm.
Số cháu ăn tại trường là 106 cháu/172 = 61,6%(NT:6; MG:100). Số
cháu ăn cuối năm là 170/180 = 94,4%(NT:36; MG:134). tăng 54 cháu và tăng
32,8% so với đầu năm, đạt 100% kế hoạch.
Mức ăn MG: 8000đ; NT: 7500đ; Năng lượng calo cung cấp đảm bảo cho
trẻ trong 1 ngày cụ thể: NT: 810 calo; MG: 900 calo.
Tình trạng phát triển thể lực của trẻ:
Số cháu được cân đo theo dõi thể lực bằng biểu đồ: 180 cháu = 100%.
Số cháu đạt kênh phát triển bình thường là 164/180 đạt 91,1% tăng 1,6%
so với năm học trước. Trong đó NT: 42 cháu= 93,3%; MG: 122 =90,3%.
Số cháu bị suy dinh dưỡng: 16 cháu = 8,9%, gỉam 1,6% so với năm học
trước. Trong đó NT: 3cháu =6,7%; MG: 13 cháu = 9,7%.
Số trẻ thấp còi là: 19 cháu chiếm 10,5%(NT:3; MG: 16).
100% số cháu đến trường được cân đo theo dõi thể lực bằng biểu đồ và
khám sức khoẻ theo định kỳ 2 lần/ năm. Trẻ được tiêm chủng các loại Vacxin
8
theo qui định của ngành y tế. 100% trẻ đến trường được đảm bảo an toàn tính
mạng.
tạo về quy định chăm sóc bảo vệ sức khoẻ và an toàn cho trẻ trong trường
mầm non như cân đo theo dõi thể lực của trẻ theo từng tháng, từng quý, phối
hợp với trạm y tế khám sức khoẻ cho trẻ 2 lần/ năm và chăm sóc sức khoẻ
hàng ngày cho trẻ, đảm bảo an toàn tuyệt đối với tính mạng của trẻ và thực
hiện tốt lịch vệ sinh hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. Đồ dùng vệ sinh cá
nhân của trẻ được ký hiệu riêng, được sử dụng vệ sinh thường xuyên, có đủ
nước chín cho trẻ uống hàng ngày, tổ chức cho trẻ ăn ngủ tại trường đảm bảo
có sạp nằm cho trẻ ấm về mùa đông, mát về mùa hè.
9
Chỉ đạo thực hiện nghiệm túc chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục trẻ ở các độ tuổi. Phân công giáo viên đúng người, đúng việc, đúng sở
trường để phát huy được năng lực của giáo viên. Tạo điều kiện cho CBGV
tham gia học tập bằng nhiều hình thức để nâng cao trình độ chuẩn về chuyên
môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, bồi dưỡng về tin học. Có kế hoạch cụ thể
để giáo dục trẻ khuyết tật.
Tích cực làm đồ dùng dạy học, phối kết hợp với các bậc phụ huynh để
mua sắm đồ dùng học tập cho trẻ, đồng thời trao đổi với phụ huynh về sức
khỏe, tình hình học tập của trẻ để có biện pháp chăm sóc giáo dục trẻ kịp
thời. Phát động các bạc phụ huynh thu lượm đồ dùng phế liệu để cải tiến làm
đồ dùng, đồ chơi cho các cháu.
Tổ chức tốt các hội thi như: hội thi giáo viên giỏi cấp trường, thi làm đồ
dùng dạy học, thi” bé với an toàn giao thông và bảo vệ môi trường cấp
trường, tham dự thi cấp. Thi huyện, thi văn nghệ có nội dung ca ngợi và học
tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Đổi mới phương pháp hình thức tổ chức giáo dục trẻ. Tham mưu với
địa phương và kết hợp với phụ huynh để tăng cường đầu tư thiết bị giáo dục,
tài liệu, học liệu, phương tiện cho các nhóm lớp để thực hiện chương trình
giáo dục mầm non mới, khuyến khích các giáo viên chủ động, sáng tạo trong
thanh niên: 6 đoàn viên.
Trong năm có 13 GV, NVđạt giỏi cấp trường, có 3 GV đạt giỏi cấp
huyện, 3 cán bộ quản lý đề nghị tặng danh hiệu CSTĐ cấp huyện. Có 2/3 bộ
đồ dùng dạy học đạt giải cấp huyện( 1 giải nhì, 1 giải ba cấp huyện); 100 %
CBGV viết SKKN trong đó có 6 SKKN đạt loại A cấp trường gửi cấp huyện,
kết quả có 4 SKKN được xếp loại cấp huyện( 1 loại A, 2 loại B, 1 loại C).
Tiếp tục thực hiện tốt chỉ thị 40/CTTW của Ban Bí thư về “ Xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”. Tôi đã
triển khai kế hoạch xây dựng đội ngũ CBGV, tham mưu để có đủ số lượng,
đảm bảo chất lượng và thực hiện tốt các giải pháp sau đây:
Thực hiện tốt việc nâng cao tư tưởng và nhận thức cho giáo viên:
Tổ chức lớp tập huấn vào cuối tháng 7 đầu tháng 8 kết hợp với học tập
bồi dưỡng chính trị cho toàn thể cán bộ giáo viên. Đầu năm học, nhà trường
tổ chức học tập nội dung các cuộc vận động như “ Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực” “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” Chủ đề năm học 20102011và nhiệm vụ năm học, học tập nội dung
quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, thông tư đánh giá xếp loại
giáo viên. Học tập các nghị quyết của Tỉnh, của Huyện, của xã, đường lối
chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, qui định của địa phương. Tổ
chức triển khai nhiệm vụ năm học mới của ngành, của huyện, của nhà
trường.
Xây dựng kỷ cương, quy chế thực hiện nhiệm vụ. Lấy chuyên đề lễ
giáo làm thước đo nhân cách cho giáo viên. Tuyên truyền những tấm gương
tiêu biểu trong trường, trong ngành, đặc biệt là “học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Phát động phong trào: giỏi việc trường, đảm
việc nhà, cho giáo viên đăng ký gia đình nhà giáo văn hóa. Động viên giáo viên
tăng cường đọc sách báo, rèn luyện năng lực về mọi mặt để có thể nắm vững
các chỉ thị nghị quyết của cấp trên để tham mưu đúng, trúng nội dung và mục
đích của công tác này. Với cách làm này cho thấy giáo viên có ý thức trách
nhiệm cao trong công tác XHH GD tại nơi cư trú cũng như trong cộng đồng
công nhiệm vụ trên cơ sở cho tự nhận nhiệm vụ sau đó thảo luận và cuối
cùng đã phân công phù hợp với hoàn cảnh và tay nghề của giáo viên nên
chị em làm việc hăng hái với công việc được giao.
Về bồi dưỡng giáo viên dạy giỏi các cấp.
Hàng năm, không năm nào nhà trường bỏ qua việc tổ chức phong
trào thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, giáo viên lên lớp 2 tiết và một hoạt
động vui chơi; đồng thời tổ chức thi lý thuyết cho giáo viên. Thực tế cho
thấy rằng việc tổ chức phong trào thi giáo viên dạy giỏi có tác dụng rất
lớn trong việc nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên; bởi vì khi tham
gia thi giáo viên dạy giỏi đòi hỏi giáo viên phải suy nghĩ nghiên cứu nội
dung chương trình kỹ hơn, tìm tòi những phương pháp, biện pháp lên lớp
thật linh hoạt, sáng tạo trong khi lên lớp, tạo những tình huống mới lạ để
trẻ tập trung chú ý hơn, hứng thú trong giò học. Tăng cường học chương
trình soạn giáo án điện tử, đó là thiết kế các tiết dạy có ứng dụng CNTT,
sau đó liên kết với trường Tiểu học trong xã mượn đèn chiếu, máy chiếu
để giáo viên được thao giảng đặc biệt là trong việc tham dự thi giáo viên
giỏi cấp huyện. Bên cạnh đó giáo viên đầu tư nhiều hơn về việc làm đồ
12
dùng dạy học, đồ chơi phục vụ cho hoạt động vui chơi, đồ dùng có nhiều
sáng tạo để tham gia dự thi đạt kết quả cao. Và một điều quan trọng hơn
đây là đợt sinh hoạt, giao lưu học hỏi, trao đổi về chuyên môn nghiệp vụ.
Cứ sau mỗi lần tổ chức thi, thì số giáo viên tham gia nhanh chóng nắm
vững chuyên môn, tạo được uy tín đối với đồng nghiệp với các bậc cha
mẹ các cháu.
Tổ chức chuyên đề theo kế hoạch đã đề ra. Tổ chức thao giảng toàn
trường. Góp ý, xếp loại công khai dân chủ. Xây dựng các tiết dạy mẫu hay
để chị em học tập. Tạo điều kiện để tất cả cán bộ giáo viên được tham
dự sinh hoạt chuyên môn cụm, cũng như thao giảng cho cụm dự giờ góp ý
tự đánh giá thi đua cụ thể cuối năm. Nhà trường kịp thời động viên khen
thưởng những cá nhân đạt thành tích xuất sắc.
Nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho giáo viên.
Tổ chức tốt hoạt động của công đoàn trong trường đẻ chăm lo đời
sống cho cán bộ giáo viên.Tích cực tham mưu với Đảng uỷ UBND chi hỗ
trợ lương cho giáo viên từ các nguồn kinh phí, quan tâm tới chế độ chính
sách cho giáo viên giúp cải thiện đời sống, để có điều kiện chăm lo cho
hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ được tốt hơn.
Nhà trường luôn giải quyết chế độ lương, các phụ cấp khác kịp
thời đầy đủ, công khai dân chủ; không để đội ngũ giáo viên gây nghi ngờ,
thắc mắc; đây là nguyên nhân xây dựng mối đoàn kết. Nhờ có sự quan
tâm đúng mức, kịp thời nên đội ngũ giáo viên yên tâm công tác, nhiệt tình
bám trường bám lớp, hoàn thành tốt công tác do cấp trên giao và nâng cao
chất lượng giảng dạy ở nhà trường. Tổ chức thực hiện kế hoạch chăm lo
đời sống tinh thần, vật chất cho cán bộ giáo viên. Xây dựng môi trường
giáo dục đoàn kết, lành mạnh; tổ chức thực hiện có hiệu quả các tiêu chí
của công sở có nếp sống văn hoá cấp huyện.
4.Huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng xã hội tham công tác
xã hội hoá giáo dục để hoàn thiện cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết
bị, tạo khuôn viên sân vườn, hoàn thiện tiêu chí xây dựng trường chuẩn
Quốc gia mức độ 1 và công sở có nếp sống văn hóa cấp huyện.
Để làm tốt công tác XHH giáo dục thì tôi đã chú trọng vào việc tổ chức
các hoạt động, các phong trào thi đua, các ngày hội để cộng đồng có cơ hội
thể hiện sự quan tâm của mình đối với giáo dục. Bằng việc tổ chức các hội
thi trong từng năm học như: Bé khỏe Bé ngoan, Bé khéo tay, tổ chức Trung
thu… chúng tôi đó thu hút được sự quan tâm đông đảo các lực lượng xã hội,
mọi thành phần kinh tế, mọi người dân ở địa phương. Trong các cuộc thi này
không chỉ đơn thuần có sự tham gia của cô và trò mà còn huy động được sự
ý nghĩa của cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng đồ chơi quan trọng với trẻ như
thế nào, đồ dùng đồ chơi là cầu nối giữa “học bằng chơi, chơi mà học”.
Vận động phụ huynh đóng góp để mua sắm các trang thiết bị bán trú,
trang thiết bị phục vụ các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Vận
động đóng góp của các nhà hảo tâm cũng như của con em địa phương để hoàn
thiện các tiêu chí của trường đạt chuẩn Quốc gia cũng như hoàn thiện khuôn
viên sân vườn.
Tôi đã chỉ đạo nhà trường đã đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục
thông qua việc tổ chức họp toàn thể CBGV để triển khai nội dung nhiệm vụ
xây dựng trường chuẩn Quốc gia trong đó có công tác XHH, vận động mỗi
CBGV ủng hộ cây cảnh, cây ăn quả có giá trị, sau đó BGH họp với ban đại
diện CMHS để phối kết hợp tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được
giao. Tôi đã bàn bạc trong Ban giám hiệu, Ban đại diện CMHS và thống nhất
thực hiện như sau:
Đối với các ban ngành đoàn thể trong xã đó là phối kết hợp với đoàn
thanh niên, hội phụ nữ xã, hội người cao tuổi, hội nông dân, hội cựu chiến
binh, mặt trận tổ quốc, ban công an xã, lao động tạo khuôn viên và ủng hộ
trên 180 ngày công lao động và một số cây cảnh, cây ăn quả.
Tôi chỉ đạo các đồng chí Ban giám hiệu có trách nhiệm vận động cán
bộ UBND xã ủng hộ các loại cây hoặc ủng hộ tiền để mua cây ăn quả.
Trường Tiểu học và Trung học cơ sở ủng hộ 2 khung ảnh trong phòng hoạt
động âm nhạc.
Tôi đã phân công cán bộ giáo viên đến tận gia đình để vận động phụ
huynh tham gia lao động, giáo viên phụ trách từng xóm để cùng phụ huynh lao
động, đến từng gia đình để xin hỗ trợ cây ăn quả, cây cảnh, cây hoa.
15
Tôi đã kết hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh vận động phụ huynh
thì tôi kết hợp nhờ một số phụ huynh làm và đã vận động phụ huynh đóng
góp trả vào đầu năm học mới. Tổng kinh phí vận động thực hiện công tác
XHH : xây dựng cơ sở vật chất mua sắm trang thiết bị, tạo khuôn viên sân
vườn ước tính khoảng trên 3 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước là 1,4 tỷ
còn trên 1,6 tỷ đồng là nguồn ngân sách xã và vận động nhân dân và phụ
huynh cùng đóng góp. Với sự cố gắng nỗ lực vươn lên của toàn thể CBGV,
các bậc phụ huynh, các ban ngành đoàn thể, các nhà hảo tâm, các doanh
nghiệp, các tổ chức... toàn thể nhân dân trong xã nên nhà trường đã được công
nhận và tổ chức đón bằng công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 và
công sở có nếp sỗng văn hóa cấp huyện.
16
5.Tăng cường công tác lănh chỉ đạo công tác XHHGD
Sau khi xây dựng kế hoạch cụ thể tôi tham mưu trực tiếp với cấp uỷ
chi bộ xin ý kiến chỉ đạo và thông qua ý kiến chỉ đạo của chi bộ tôi điều chỉnh
và bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch. Sau khi kế hoạch được thống nhất trong toàn
trường tôi tiếp tục tham mưu với lãnh đạo Đảng, chính quyền xã Hà Châu để
xin ý kiến chỉ đạo. Lãnh đạo địa phương thống nhất cao với kế hoạch tôi đã
trình bày và chỉ đạo tôi cần biết phát huy sức mạnh của các ban ngành đoàn
thể cũng như các bậc phụ huynh và nhân dân trong xã để thực hiện tốt kế
hoạch. Sau đó tôi đã báo cáo với chi bộ để chi bộ nắm bắt và có định hướng
đưa vào nghị quyết chỉ đạo các tổ chức thực hiện hàng tháng. Chi bộ giao cho
từng tổ chức ban ngành phối kết hợp thực hiện và ban chỉ đạo bám sát kế
hoạch đôn đốc thực hiện đảm bảo đạt hiệu quả. Sau khi hoàn chỉnh kế hoạch
về công tác XHHGD, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chi bộ, các đoàn thể thống
nhất đưa vào kế hoạch thực hiện đồng bộ: Công đoànĐoàn thanh niên Hội
cha mẹ học sinh và phối hợp với các ban ngành đoàn thể trong xã, các nhà hảo
tâm để thực hiện tốt kế hoạch với nguyên tắc tự nguyện, không ép buộc, tập
trung dân chủ. Với cách làm như trên mà công tác XHHGD của chúng tôi đạt
trong xã hội, sử dụng đúng người, đúng việc thì ở đó nhà trường phát triển
mạnh mẽ và công tác xã hội hoá giáo dục cũng thu được nhiều kết quả tốt
đẹp.
PHẦN III.KẾT LUẬN
I/ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
Như chúng ta đã biết thực hiện XHHGD là con đường cơ bản để phát
triển giáo dục nói chung, phát triển giáo dục mầm non nói riêng. Xã hội hóa sự
nghiệp giáo dục mầm non là một bài học thành công trong quá trình xây dựng
và phát triển hệ thống Giáo dục Mầm non (GDMN) của nước ta. Đây cũng là
một tư tưởng giáo dục lớn của Đảng và chủ trương của Nhà nước nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để giáo dục tạo ra lớp
người lao động mới phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo để đáp ứng đòi
hỏi của nền công nghiệp hóa nước ta vào năm 2020 vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VII và IX đã nêu ra.
Những năm qua, xã hội hóa công tác GDMN đã trở thành quan niệm
phổ biến và rộng rãi trong toàn xã hội, nhất là những ai làm công tác quản lý
trực tiếp giáo dục trẻ thơ. Song trong thực tế, vẫn còn nhiều điều phải bàn để
làm sáng tỏ phạm trù khái niệm và cách tiếp cận thực tiễn cho đúng nhằm
biến chủ trương này của Đảng và Nhà nước thành hiện thực.
Cùng với sự phát triển của ngành học mầm non, quá trình XHH GDMN
ở trường mầm non Hà Châu đã đạt được những thành công nhất định, song
cũng còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Để đẩy mạnh hơn nữa quá trình
XHHGDMN, cần thực hiện một cách đồng bộ hàng loạt các giải pháp, mà
trước hết là phải phát huy được tác dụng của trường mầm non vào trong đời
sống cộng đồng. Muốn vậy, trường mầm non phải không ngừng nâng cao
chất lượng nuôi dạy trẻ, bồi dưỡng kiến thức về chăm sóc giáo dục trẻ cho
các bậc phụ huynh. Để bồi dưỡng kiến thức cho các bậc cha mẹ, trường
mầm non cần chủ động phối hợp với ngành Y tế, Văn hóa Thông tin và các
việc tham mưu cho cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương về công tác XXH
giáo dục tại địa phương, Đảng uỷ đã có nghị quyết về XXH giáo dục tại địa
phương do vậy mà công tác XXH giáo dục của nhà trường đạt được những
thành thành quả đáng khích lệ đó là:
Nội dung
Kết quả cuối năm học 20102011( tháng Ghi
3/2011)
chú
1/ Tỷ lệ huy động trẻ đến NT: 45/126= 35,7% ; MG : 135/135=100%
trường
2/ Chất lượng CSNDGD
Cháu bán trú
170/180= 94,4%
Kênh PTBT
164/180= 91,1 %
Kênh suy DD
16//180=8.9%
Vệ sinh loại tốt
155/180=86,1
Nề nếp thói quen
160/180=88,8%
Theo dõi biểu đồ
180/180=100%
Khám sức khoẻ định kỳ
180/180=100%
Cháu đạt yêu cầu
180/180=100%
Cháu khá giỏi
C.trường 144/180=80%;C.huyện: 5; 1XS
19
9( KC: 8,cấp 4: 1 )
Các phòng chức năng
5
Đồ chơi ngoài trời
5
Nhà VS học sinh
7
Nhà VS giáo viên
1
5/XHH GD
Tổng vốn
1 792 000 000đ
Ngân sách xã
1 450 000 000đ
Doanh nghiệp, tập thể
10 000 000đ
Cá nhân
25 000 000đ
Các đoàn thể
7 000 000đ
Phụ huynh
150 000 000đ
Nhân dân đóng góp
150 000 000đ
Qua kết quả trên cho ta thấy tất cả các mặt hoạt động của nhà trường
có tiến bộ rõ rệt. Có được kết quả đó là do công sức của toàn bộ đội ngũ giáo
viên, và sự nhiệt tình sáng tạo của ban giám hiệu, trực tiếp là sự chỉ đạo của
người hiệu trưởng.
Tuy nhiên với những kết quả đáng kể như vậy nhà trường vẫn còn một
số hạn chế đó là một số trang thiết bị đồ dùng đồ chơi vẫn còn thiếu, vườn
mỗi người thực hiện quyền được học và học tập suốt đời cũng như vì sự phát
triển của cả cộng đồng trong tương lai.
II/ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT.
Đề nghị các cấp có thẩm quyền nâng mức lương hỗ trợ ngân sách nhà
nước cho CBGV hợp đồng theo quyết định 2480 của Chủ tịch UBND tỉnh( Vì
giáo viên phải tự đóng 30,5 % các loại BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ)
Đề nghị UBND huyện có kế hoạch chuyển đổi trường MN bán công
sang trường MN công lập. Biên chế cho các trường MN 1 nhân viên kế toán và
1 nhân viên y tế.
Hà Châu, ngày 10 tháng 03 năm 2011
DUYỆT CỦA TIỂU BAN KHOA HỌC NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN
NHÀ TRƯỜNG
Nguyễn Thị Hiền
21
22
23
Trước hết: Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đỡnh và
cỏc lực lượng xó hội trong việc tổ chức tham gia cựng làm giỏo dục
Để huy động được tiềm năng của cộng đồng hỗ trợ cho quá trỡmh tổ
chức giỏo dục cần phải xõy dựng mối quan hệ giữa nhà trường với gia đỡnh
và cỏc lực lượng xó hội. Gia đỡnh là nơi đem đến cho trẻ những bài học đầu
đầu tư vào giáo dục; Các ban ngành đoàn thể, các lực lượng xó hội và cỏ nhõn
đều có trách nhiệm góp phần xây dựng giáo dục. Tùy thuộc vào chức năng,
nhiệm vụ, trỡnh độ, sự tự nguyện, khả năng và điều kiện mà các lực lượng
này tham gia trong cơ chế dưới sự điều hành của các cấp chính quyền địa
phương.
25