i
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tính cấp thiết của đề tài
Phân tích tài chính đơn thuần không chỉ cung cấp thông tin phục vụ báo
cáo mà còn là một công cụ quản lý hữu hiệu. Tuy nhiên trên thực tế công tác này
không mấy được coi trọng trong các doanh nghiệp nói chung và các công ty
thuộc Tổng công ty dược nói riêng, chưa đóng vai trò, vị trí quan trọng trong
việc sử dụng và phân tích các thông tin tài chính liên quan tới doanh nghiệp, vì
thế nên công tác phân tích tài chính doanh nghiệp ngày càng yêu cầu, đòi hỏi
phải hoàn thiện hơn nữa.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của công tác phân tích báo cáo tài
chính trong các doanh nghiệp và thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại các
doanh nghiệp dược phẩm thuộc Tổng Công ty dược Việt Nam, tác giả đã lựa chọn
đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ là "Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính
trong các doanh nghiệp dược phẩm thuộc Tổng Công ty dược Việt Nam ".
Mục đích của đề tài nghiên cứu
Đề tài khái quát hoá những lý luận chung về công tác phân tích tình tình tài
chính, bên cạnh đó là những đánh giá về thực trạng công tác phân tích tình hình tài
chính trong các doanh nghiệp Dược phẩm thuộc Tổng công ty dược Việt Nam. Từ
đó luận văn đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác phân tích tình
hình tài chính trong các doanh nghiệp này.
Đối tượng, phạm vi và các phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thực tế công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp dược
phẩm thuộc Tổng công ty Dược Việt Nam: Công ty TNHH một thành viên Dược
phẩm trung ương 1 và Công ty cổ phần dược Trung ương (Mediplantex).
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài đã vận dụng các phương pháp luận và quan điểm của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp phân tích tổng hợp, so
sánh, thống kê để trình bày các quan điểm, giải pháp để đạt được mục đích nghiên
quan tâm đưa ra những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp và có
iii
những quyết định đầu tư sáng suốt.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu cơ bản trong tài chính doanh
nghiệp, có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp. Phân tích tài
chính là sử dụng tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử
lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài
chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp
1.2. Nguồn thông tin phục vụ phân tích tài chính
Công tác phân tích tài chính được tạo lập trên nền tảng cơ bản là hệ thống báo
cáo tài chính, bao gồm các báo cáo tổng hợp, phản ánh tổng quát bằng các các chỉ
tiêu giá trị về tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản theo kết cấu, kết quả hoạt
động kinh doanh tại một thời điểm nhất định bao gồm các loại sau: Bảng cấn đối kế
toán, báo cáo KQHĐKD, BCLCTT, TMBCTC, các thông tin TC và phi TC khác.
1.3. Công tác tổ chức phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Tổ chức phân tích tài chính trong doanh nghiệp là việc thiết lập trình tự các
bước công việc cần tiến hành trong quá trình phân tích tài chính: Lập kế hoạch phân
tích, Giai đoạn tiến hành phân tích, Giai đoạn kết thúc.
1.4. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích báo cáo tài chính kế toán là một hệ thống các công cụ,
biện pháp, các kỹ thuật và cách thức nhằm tiếp cận, nghiên cứu các hiện tượng và
các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, các luồng tiền chuyển dịch và biến đổi tài
chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính
của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Từ đó giúp các đối tượng sử
dụng báo cáo tài chính kế toán có các quyết định phù hợp tuỳ theo mục đích và yêu
cầu của từng đối tượng. Trong phân tích người ta sử dụng các phương pháp sau: so
dng h thng ch tiờu phự hp, bao gm cỏc ch tiờu tng hp khỏi quỏt v cỏc ch
tiờu c th . Cỏc ch tiờu ú phn ỏnh c sc sn xut, sut hao phớ cng nh sc
sinh li ca tng yu t.
Phõn tớch ri ro ti chớnh
Hot ng kinh doanh ca doanh nghip thng xuyờn phi ng u vi
v
nhiều rủi ro trên nhiều phương diện. Qua phân tích tài chính, các nhà quản lý dự báo
được những rủi ro tiềm ẩn về tài chính trên khía cạnh thanh toán, thậm chí cả rủi ro
về phá sản mà doanh nghiệp có thể phải đương đầu. Từ đó, các nhà quản lý sẽ đề ra
các kế sách, các quyết định kịp thời, hợp lý để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro cho
doanh nghiệp. Để phân tích rủi ro tài chính, các nhà phân tích sử dụng một số chỉ
tiêu đánh giá sau: Đòn bẩy tài chính; Đòn bẩy tài chính; Hệ số thanh toán lãi vay.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DƯỢC PHẨM THUỘC TỔNG CÔNG TY
DƯỢC VIỆT NAM
2.1. Khái quát chung về các doanh nghiệp dược phẩm thuộc Tổng công ty
Dược Việt Nam
Tổng công ty Dược được thành lập tháng 5 năm 1971 trên cơ sở sáp nhập 3
cục: Cục phân phối dược phẩm, cục dược liệu, cục sản xuất. Năm 1982 được đổi tên
thành Liên Hiệp các xí nghiệp Dược Việt Nam.
Luận văn giới thiệu một cách khái quát nhất về các doanh nghiệp dược phẩm
thuộc Tổng công ty dược Việt Nam, cụ thể là Công ty TNHH 1TV Dược phẩm
Trung Ương 1 và Công ty Cổ phần Dược Trung ương (Mediplantex) về cả lịch sử
hình thành và phát triển; tổ chức bộ máy quản lý của Công ty; đặc điểm tổ chức sản
xuất kinh doanh và đặc điểm tổ chức công tác kế toán.
2.2. Thực trạng phân tích tình hình tài chính trong các doanh nghiệp dược
Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp thông qua việc phân tích giá trị và cơ cấu
tài sản, nguồn vốn; Phân tích khả năng đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh; Phân tích công nợ và khả năng thanh toán; Phân tích hiệu quả hoạt
đông kinh doanh của các doanh nghiệp thông qua việc phân tích các chỉ tiêu khái
quát hiệu quả kinh doanh, các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất và sức sinh lời.
2.3. Đánh giá thực trạng phân tích tình hình tài chính trong các doanh nghiệp
dược phẩm thuộc Tổng công ty Dược Việt Nam
*Những kết quả đạt được:
Trong phần này luận văn cũng chỉ ra được các kết quả đạt được trong công
tác phân tích của các doanh nghiệp là có đóng góp to lớn của ban lãnh đạo các
doanh nghiệp dược phẩm đó.
Luận văn cũng chỉ ra được các ưu điểm trong phương pháp phân tích tài chính
vii
sử dụng: các công ty đã sử dụng nhuần nhuyễn phương pháp phân tích so sánh và
đội ngũ phân tích (chủ yếu là các kế toán) đã tính toán hầu hết các chỉ tiêu phân
tích, phản ánh các nội dung cơ bản về tình hình tài chính của công ty. Các kết luận
đưa ra đã đáp ứng một phần yêu cầu của công tác quản trị tài chính doanh nghiệp
*Những tồn tại:
Ngoài những ưu điểm mà các doanh nghiệp đã có, trong công tác phân tích tài
chính của mình, các công ty cũng còn một số hạn chế như:
Nguồn thông tin sử dụng phân tích chủ yếu lấy từ các báo cáo tài chính và sổ
kế toán tổng hợp chưa đi sâu vào các góc độ chi tiết.
Phương pháp phân tích chủ yếu là phương pháp so sánh, các số liệu chỉ mới
được đem ra so sánh theo chiều ngang, so sánh số thực tế với kế hoạch hoặc năm
nay so với năm trước.
Nội dung phân tích tài chính của các công ty dược chưa được thực hiện một
cách đầy đủ, toàn diện.
12-15 USD/ người/năm; có 1,5 dược sĩ đại học/10.000 dân;
Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, các
nguồn vốn hợp tác song phương và đa phương của các tổ chức phi chính phủ
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát không chỉ đối với hoạt động đầu tư của các
công ty trong ngành mà còn đối với đại lý và các khối cửa hàng kinh doanh được
phẩm
Từng bước hiện đại hoá trang thiết bị, kho tàng đưa công ty có trình độ chuyên
môn cao trong lĩnh vực phân phối thuốc.
Tiến tới đào tạo và đào tạo nâng cao cho các cán bộ quản lý về trình độ chuyên
môn đưa ngành dược Việt Nam ngày càng vững vàng, phát triển và tiến bộ.
* Sự cần thiết phải hoàn thiện:
Phân tích tình hình tài chính là một nội dung quan trọng giúp cho các đối
tượng quan tâm đến tình hình tài chính cũng như hoạt động của doanh nghiệp đưa
ra các quyết sách, quyết định chính xác, kịp thời và hiệu quả. Với sự phát triển của
nền kinh tế theo xu hướng hội nhập quốc tế và khu vực, đặc biệt với sự phát triển
của thị trường chứng khoán thì ngày càng có nhiều đối tượng quan tâm đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời việc Việt Nam chính thức trở thành
thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã đặt các doanh nghiệp trong
nước vào một sân chơi mới, một sân chơi hội nhập và bình đẳng. Điều này đã tạo
ix
cho các doanh nghiệp rất nhiều thuận lợi, cơ hội nhưng cũng tạo ra cho doanh
nghiệp không ít các khó khăn đặc biệt là vấn đề cạnh tranh. Một trong các nội dung
cơ bản giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, các doanh nghiệp dược
phẩm nói riêng có thể đứng vững trong cạnh tranh đó là phải thường xuyên phân
tích hoạt động tài chính để từ đó giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp có các
quyết định đúng đắn, hợp lý nhất. Chính vì vậy hoàn thiện công tác phân tích tài
chính là một trong những yêu cầu đối với các doanh nghiệp nói chung và các doanh
phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp, phân tích khả năng thanh toán thông qua
phân tích dòng tiền của doanh nghiệp phân tích hiệu quả kinh doanh qua hiệu quả
sử dụng chi phí và phân tích rủi ro tài chính.
3.3. Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện
Thứ nhất: Các điều kiện về phía Nhà nước như: hoàn thiện chế độ kế toán,
chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán, quy định về quản lý tài chính và chính
sách pháp luật theo hướng tiếp cận và phù hợp với thông lệ quốc tế; Có những quy
định rõ ràng về nội dung đối với việc lập báo cáo phân tích tài chính của các doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp đã niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán ; Bộ tài chính kết hợp với các bộ ban ngành xây dựng hệ thống các chỉ tiêu
phân tích cơ bản cho từng ngành...
Thứ hai: Các điều kiện về phía doanh nghiệp như: Lựa chọn hệ thống chỉ
tiêu phân tích tài chính phù hợp; nâng cao trình độ cho cán bộ lãnh đạo và cán bộ
quản lý kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, tiến hành sắp xếp và bố trí hợp lý đội
ngũ cán bộ quản lý và nhân viên hiện có, cần phát hiện người có năng lực, bố trí họ
vào những công việc phù hợp với ngành nghề, trình độ và năng lực sở trường; Tạo
sự gắn bó về quyền lợi và trách nhiệm của người lao động với doanh nghiệp bằng
các chính sách như: đầu tư cho đào tạo, bảo đảm việc làm ổn định cho người lao
động kể cả khi có biến động, xây dựng chế độ tiền lương và thưởng theo hướng
khuyến khích người lao động có những đóng gíp tích cực cho sự phát triển của
doanh nghiệp; Đa dạng hoá các kỹ năng và đảm bảo khả năng thích ứng của người
lao động khi cần có sự điều chỉnh lao động trong nội bộ doanh nghiệp; Áp dụng cơ
chế bổ sung và đào thải nhân lực để duy trì độ ngũ cán bộ nhân viên tinh thông
nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh của thị trường.