Tìm hiểu thực trạng quản lý và
khai thác thông tin - tư liệu tại Thư
viện Trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề
xuất các giải pháp cải tiến
Lê Quỳnh Chi
PHẦN MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài
- Trong thời đại ngày nay, công tác thông tin nói chung và thông tin thư
viện nói riêng có một tầm quan trọng đặc biệt và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi lónh
vực của đời sống xã hội, trong đó có lónh vực giáo dục và đào tạo. Sự phát triển
giao lưu văn hoá, thông tin, khoa học kỹ thuật và nhất là việc khai thác hiệu quả
thông tin đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia nào. Do sự phát triển của công
nghệ, kiến thức của con người được bảo quản lâu dài và được truyền bá một cách
nhanh chóng, thông tin được cập nhật không ngừng để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của người sử dụng. Thư viện là chiếc cầu nối giữa thông tin và người
đọc.
- Trường đại học là nơi sản sinh ra tri thức cập nhật nhất của xã hội, vì nơi
đây tập trung được một đội ngũ trí thức đông đảo, ưu việt và chuẩn mực nhất.
Đây cũng là môi trường sáng tạo tri thức ít bò chi phối bởi những áp lực ngoài
khoa học như kinh tế, chính trò, quân sự, tôn giáo….Trong ba điều kiện để sản
sinh tri thức: đội ngũ cán bộ, cơ sở thực nghiệm và tính kế thừa khoa học kỹ thuật
thì yếu tố sau cùng có tầm quan trọng đặc biệt vì sách báo, thông tin là phương
tiện cho phép kế thừa kiến thức ưu việt hơn cả. Chính vì lý do đó, thư viện luôn
giữ vò trí là một bộ phận trọng yếu trong hoạt động của các trường đại học, là yếu
tố căn bản, quan trọng để lượng giá vai trò, chức năng, nhiệm vụ và hiệu quả đào
¾ Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thông tin - tư liệu tại
Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Nhiệm vụ
¾ Xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
¾ Tìm hiểu thực tiễn đào tạo, giảng dạy, học tập và việc đầu tư, quản lý và
khai thác thông tin tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
¾ Tìm hiểu thực trạng việc quản lý và khai thác thông tin - tư liệu của Thư
viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
¾ Đề xuất một vài giải pháp nâng cao hiệu quả việc quản lý thông tin - tư
liệu tại Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
4/ Đối tượng, khách thể nghiên cứu
¾ Đối tượng: Hoạt động quản lý và khai thác thông tin - tư liệu trong Thư
viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
¾ Khách thể : Cán bộ và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh.
5/ Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu bằng những phương pháp sau:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin để xây dựng cơ sở lý
luận của vấn đề nghiên cứu.
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến : sử dụng bảng câu hỏi về
hoạt động thông tin - tư liệu tại Thư viện :
• Lần thứ nhất: Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến với 08 câu hỏi, trong đó có
05 câu hỏi hoàn toàn mở để thu nhận những ý kiến của bạn đọc xung
quanh việc quản lý, khai thác thông tin - tư liệu. Tổng số phiếu phát ra là
300, thu về 245 phiếu (81.66%).
• Lần thứ hai: Xây dựng phiếu trưng cầu chủ yếu bằng phương pháp trắc
¾ Xây dựng đề cương, nộp đề cương cho phòng Khoa học và công nghệ Sau đại học (Tháng 8/2003)
¾ Nhận nhiệm vụ nghiên cứu (Tháng 10/2003 )
¾ Lập phiếu trưng cầu ý kiến, xin ý kiến hướng dẫn (Tháng 11/2003)
¾ Tiến hành phát phiếu trưng cầu ý kiến lần 1(Tháng 12/2003)
¾ Thu thập, phân tích và xử lý số liệu (Tháng 2/2004)
¾ Chọn mẫu nghiên cứu. Tiến hành phát phiếu trưng cầu ý kiến lần 2
(Tháng 4/2004).
¾ Thu thập, phân tích và xử lý số liệu (Tháng 6/2004)
¾ Viết và trình kết quả nghiên cứu (Từ tháng 6 đến tháng 9/2004)
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1/ Lòch sử vấn đề nghiên cứu
Sự phát triển và tiến bộ xã hội đặt ra những nhu cầu, đòi hỏi mới cho hoạt
động thông tin, đồng thời cũng là điều kiện và tiền đề phát triển thông tin.
Thông tin đã trở thành một khái niệm khoa học có tính thời sự và ngày càng trở
thành yếu tố quan trọng hàng đầu trong các lónh vực hoạt động của con người.
Tại các nước phát triển, thông tin được đánh giá là nguồn tài nguyên quan trọng
và cần thiết nhất. Thông tin trở thành tài sản và sức mạnh của mỗi quốc gia.
“Thế kỷ thông tin”, “ bùng nổ thông tin”, “ chiến tranh thông tin”… là đặc trưng
cơ bản trong sự phát triển của thời đại ngày nay. Với khối lượng thông tin khổng
lồ đó, các cơ quan quản lý thông tin, thư viện phải tìm kiếm, sưu tập, xử lý, lưu
trữ thông tin một cách khoa học và hướng dẫn người sử dụng lựa chọn những
thông tin phù hợp, có chất lượng tốt nhất.
Chính vì tính thời sự và tầm quan trọng của công tác thông tin và quản lý
thông tin, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đề tài này. Chúng tôi xin nêu một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
-
Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động thông tin –
thư viện ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
tăng cường hiệu quả hoạt động của Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
-
Luận văn Thạc só Thông tin – Thư viện của Nguyễn Thò Nghóa “Tăng
cường hoạt động thông tin – thư viện ở Học viện Tài chính trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Hà Nội, năm 2003.
Tác giả đã phân tích vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Học viện Tài chính nói
chung và Trung tâm thông tin thư viện Học viện tài chính nói riêng, đồng thời
nêu rõ vò trí, tầm quan trọng của hoạt động thông tin. Tác giả cũng tìm hiểu
những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm thông tin, từ đó
đề xuất một số biện pháp căn bản để nâng cao hiệu quả phục vụ của Trung tâm
thông tin thư viện.
Nhìn chung, những cuốn sách, bài viết, đề tài nghiên cứu nói trên đã nêu bật
được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động thông tin hiện nay trên mọi lónh vực
của đời sống xã hội, phân tích được một số nguyên nhân chính ảnh hưởng đến
chất lượng các dòch vụ, sản phẩm thông tin tại Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có đề
tài nào nghiên cứu về việc quản lý và khai thác thông tin - tư liệu tại Trường Đại
học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tìm hiểu sâu về vai trò và những đóng góp
của hoạt động quản lý thông tin - tư liệu dưới góc độ quản lý giáo dục, góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phương pháp dạy – học tại trường đại học .
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ là cơ sở để các nhà quản lý giáo dục
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tăng cường sự quan tâm đến
hoạt động thông tin - tư liệu tại Trường, từ đó có chủ trương phát triển phù hợp
đối với mảng hoạt động này nhằm thúc đẩy, kích thích việc nghiên cứu, học tập
của cán bộ và sinh viên, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng với nhu cầu ngày
quản lý trang thiết bò, tài liệu và đánh giá kết quả hoạt động. Trong đó, yếu tố
quản lý nhân sự đóng vai trò quan trọng nhất [20; 30].
Quản lý nhân sự là loại quản lý phức tạp đòi hỏi người quản lý phải hiểu biết
kỹ về các thành viên dưới quyền quản lý của mình, về trình độ, khả năng chuyên
môn, ngoại ngữ, tin học… và hoàn cảnh gia đình để phân công, điều động công
việc và có chế độ đãi ngộ hợp lý. Quản lý cán bộ là công việc đòi hỏi không
những chuyên môn mà còn phải hiểu tâm lý và có phương pháp sư phạm.
Quản lý vốn tài liệu là phải có chính sách bảo quản và phát triển vốn tài liệu
tốt sao cho phù hợp với nhu cầu người đọc. Mục đích cuối cùng của quản lý thư
viện là đạt được hiệu quả phục vụ tốt nhất, bảo quản tốt vốn tài liệu và các trang
thiết bò.
1.2.3. Quản lý thông tin
Thông tin:
Thông tin là một khái niệm rộng, được dùng một cách phổ biến nhưng rất khó
xác đònh bằng một đònh nghóa tổng quát. Quan niệm thông thường nhất hiện nay
thông tin được hiểu như là những tin tức thông báo về thế giới xung quanh cùng
với những quá trình diễn ra trong đó được tiếp nhận bởi con người hoặc bởi các
cấu trúc đặc biệt. Thông tin là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong hoạt động
nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người. Từ điển bách khoa về
giáo dục coi “thông tin là điều người ta đánh giá hoặc nói đến, là tri thức, là tin
tức”.
Trong một hệ thống thông tin cần tìm hiểu sự khác nhau giữa thông tin và dữ
liệu. Dữ liệu là nguyên liệu gốc, là đầu vào của một hệ thống thông tin. Dữ liệu
có các đặc tính như lưu giữ các sự kiện, mang tính bò động và được thu thập từ
nhiều nguồn khác nhau. Trong khi đó thông tin có các đặc tính là cung cấp các sự
kiện, mang tính hoạt động và được xử lý, biến đổi từ dữ liệu.
Như vậy có thể hiểu dữ liệu mang tính ổn đònh và bò động, trong khi đó thông
tin mang tính bất đònh. Thông tin là kết quả được xử lý từ dữ liệu thông qua trí
“ tư liệu là những tài liệu sử dụng cho việc nghiên cứu và học tập”.
Vốn tài liệu của thư viện ngày nay không chỉ đơn thuần là sách, báo, tạp
chí, microfilm và thủ bản quý hiếm nữa mà còn có thêm những tài liệu ở dạng
đặc biệt khác như băng nghe, nhìn, đóa từ, đóa quang… và các cơ sở dữ liệu
điện tử.
Quản lý tư liệu :
Quản lý tư liệu là việc giữ gìn, bảo quản và sắp xếp tài liệu theo một hệ
thống khoa học sao cho người sử dụng dễ dàng tìm kiếm và tiếp cận tài liệu
cần nghiên cứu một cách tiện lợi nhất; đồng thời phải phát triển nguồn tư liệu
cho đầy đủ và có chất lượng nhằm phục vụ tốt nhu cầu người sử dụng.
Quản lý tư liệu được phân chia làm nhiều giai đoạn. Giai đoạn quản lý tư
liệu được bắt đầu từ khi những thư viện đầu tiên xuất hiện trên hành tinh này
vào khoảng 2.750 năm trước công nguyên với tính chất là nơi tàng trữ mọi văn
tự từ thời cổ đại. Quản lý tư liệu trải qua một thời gian dài và phát triển mạnh
khi ngành in ra đời vào thế kỷ XV. Ở giai đoạn này, mỗi thư viện là một kho
sách độc lập, thủ thư thụ động ngồi chờ độc giả tới sử dụng thư viện. Trong
chế độ phong kiến nước ta, thư viện chỉ dành riêng phục vụ vua quan, giai cấp
quý tộc với chức năng chính là tàng trữ, bảo quản tư liệu. Ngày nay, quản lý
tư liệu bao gồm cả công việc tổ chức tư liệu một cách khoa học, phát triển
nguồn tài liệu hợp lý và hướng dẫn người sử dụng.
Quản lý tư liệu là quản lý vật chất, người quản lý thư viện luôn quan tâm
đến qui mô, không gian, bảo quản của tài liệu trong phạm vi thư viện mình
quản lý. Quyền sở hữu tư liệu được đặt nặng. Quản lý thông tin là quản lý phi
vật chất, người ta quan tâm đến sự nhanh chóng, tiện lợi, hiệu quả…của tài
liệu. Người quản lý không chỉ quan tâm những thông tin trong thư viện mình
mà còn cả những thông tin bên ngoài thông qua sự liên kết với các thư viện,
trung tâm thông tin khác. Trong giai đoạn hiện nay, việc ứng dụng thành tựu
của công nghệ thông tin đã giúp cho thư viện đạt được hiệu quả phục vụ cao.
học cần phải được khẳng đònh. Thư viện cần được đầu tư đúng mức để trở thành
một trung tâm thông tin, không chỉ thu thập thông tin mà còn phải biết xử lý các
dạng thông tin theo hướng tích cực, giúp độc giả tiếp cận tri thức một cách nhanh
nhất, chính xác nhất, thỏa mãn yêu cầu ngày càng cao của người tìm tin.
Thư viện đại học có 3 vai trò chủ yếu sau:
- Là nguồn cung cấp thông tin quan trọng nhất của trường đại học.
- Là môi trường tiếp cận giữa nhu cầu tin và nguồn tin.
- Là động lực góp phần vào việc đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng
đào tạo, tạo môi trường rèn luyện và phát huy năng lực độc lập tư duy sáng
tạo của sinh viên.
1.3.1. Thư viện là nguồn cung cấp thông tin quan trọng nhất của trường đại học
Nguồn lực thông tin trong trường đại học đến từ 4 nguồn sau: Đội ngũ giảng
viên, thư viện, các cơ sở thực nghiệm và các cơ sở thực tập, tham quan, khảo sát
ngoài xã hội. Trong những nguồn thông tin này, thư viện được xem là nguồn
thông tin quan trọng nhất.
- Thư viện có nguồn thông tin phong phú, đa dạng nhất:
Vốn tài liệu của thư viện được tích tụ từ nhiều thời kỳ, từ các quốc gia và từ
nhiều cá nhân ưu việt của xã hội. Nguồn lực thông tin trong thư viện đại học còn
có tính độc đáo vì ngoài dạng thông tin “ ngoại sinh” - tức thông tin đến từ nguồn
xuất bản công khai, thư viện đại học còn sở hữu được một dạng thông tin “nội
sinh” rất quan trọng mà không có ở bất kỳ đâu, đó là nguồn thông tin hình thành
từ các công trình nghiên cứu, các cuộc hội nghò, hội thảo khoa học trong nhà
trường. Nguồn thông tin này không chỉ quan trọng đối với giảng viên, sinh viên
trong trường mà còn là nguồn thông tin quý giá, độc đáo đối với người nghiên
cứu ngoài xã hội. Trong thời đại ngày nay, với sự trợ giúp của công nghệ thông
tin, nguồn thông tin của thư viện đại học trở nên phong phú hơn bởi các dạng
thông tin “vô thể”, được truy cập từ các mạng thông tin, từ các thư viện lớn trên
thế giới.
quy mô cực lớn những tri thức mới. Hiện tượng này dẫn đến các hệ quả sau
đây:
- Sự khủng hoảng ấn phẩm : Một tri thức mới sau khi rời khỏi bộ não của các
nhà khoa học và các cơ sở thực nghiệm thường được công bố trên các tài liệu
chữ viết. Hiện tượng bùng nổ thông tin của xã hội ngày nay tất yếu sẽ kéo
theo một khối lượng các ấn phẩm được xuất bản ào ạt, đôi khi vượt khỏi tầm
kiểm soát của con người. Đó chính là sự khủng hoảng ấn phẩm mới được xuất
bản hàng ngày.
- Tốc độ lạc hậu nhanh chóng của thông tin: Một trong hai quy luật phát triển
khoa học kỹ thuật là quy luật phủ đònh. Một thông tin mới ra đời lập tức một
thông tin cùng loại trước đó sẽ mất đi giá trò của nó. Tốc độ xuất hiện của
thông tin mới càng nhanh thì tốc độ lạc hậu của thông tin cũ cũng sẽ nhanh
tương ứng. Kết quả là sẽ có một số thông tin không được biết đến trước khi nó
mất hết giá trò.
- Hiện tượng phân tán thông tin : Do hệ quả của sự thâm nhập vào nhau giữa
các ngành khoa học, thông tin cũng sẽ không tập trung như trước. Theo Brad
Ford, nhà thư viện học người Mỹ, người ta chỉ có thể có được 30% thông tin tại
các tài liệu chuyên ngành, 30% tại các tài liệu thuộc các ngành có liên quan và
40% còn lại phải tìm tại các tài liệu khác. Với sự gia tăng thông tin như hiện nay,
không một cơ quan thông tin, thư viện nào có đủ khả năng sở hữu đầy đủ mọi
thông tin. Sự phân tán thông tin dẫn đến việc tiếp cận, khai thác thông tin của
người sử dụng trở nên khó khăn và tốn kém.
Hiện tượng bùng nổ nhu cầu thông tin:
Đặc trưng của một xã hội thông tin đó là con người sản xuất ra thông tin và sử
dụng thông tin vào mọi lónh vực của cuộc sống. Trường đại học là một môi trường
mà nhu cầu thông tin hiện hữu một cách mãnh liệt và bức bách nhất. Nhu cầu
thông tin của xã hội nói chung và của trường đại học nói riêng không chỉ gia tăng
về quy mô, số lượng mà quan trọng hơn, đó là sự gia tăng về yêu cầu chất lượng
đã nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục-đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng
bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình
dạy - học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” [33;
29].
Ở trường đại học, phương pháp truyền đạt của người thầy và tính đònh hướng
của nội dung chương trình giảng dạy đóng vai trò chủ đạo. Hay nói cách khác, vai
trò của người dạy thay đổi, chuyển dần từ vai trò người truyền thụ kiến thức sang
vai trò “hướng dẫn”, “hỗ trợ”, còn có thể gọi là vai trò “cố vấn”. Người dạy phải
nắm bắt được nhu cầu của người học và tổ chức để họ tích cực tham gia vào quá
trình này, khi cần thiết biết phê phán, chỉ dẫn và giúp đỡ họ phát triển kỹ năng
học tập và nghiên cứu độc lập. Cụ thể là đổi mới cách dạy để phát huy nội lực tự
học, tự đào tạo, từ bỏ lối dạy truyền thụ một chiều - thầy dạy, trò ghi nhớ, để trở
về với chức năng mới của mình là “người dạy cách học”, “người phát huy nội lực
của người học”. Từ đó rút ngắn thời gian giảng dạy lý thuyết trên cơ sở sinh viên
được cung cấp nguồn thông tin dồi dào trước khi lên lớp, tăng thời gian tự học của
sinh viên với sự trợ giúp của thư viện. Và cùng với học trò, người thầy lại tiếp thu
những kiến thức mà chính mình đang giảng dạy, nhìn nhận chúng qua lăng kính
của người học. Có thể nói đó là quá trình truyền thụ – tiếp thu kiến thức một cách
chủ động và có tính sáng tạo. Chính vì vậy, để thực hiện tốt sứ mệnh của mình,
người thầy không thể không đọc tài liệu, cập nhật và sử dụng thông tin. Cũng có
thể nói rằng, trường đại học sẽ không thể làm tốt nhiệm vụ đào tạo của mình nếu
không có vai trò đóng góp của thư viện.
Thư viện đại học hỗ trợ việc thay đổi phương pháp học tập ở bậc đại học nhằm
“phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi
dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” và “ biến quá trình
sáng tạo thành quá trình tự sáng tạo” [36; 9]
Khác với cách học ở trường phổ thông, hoạt động học tập của sinh viên ở
cách phát huy nội lực”. Phương pháp dạy và học như vậy sẽ xóa bỏ lối học thụ
động để đưa đến một nền giáo dục đại học phù hợp với nhu cầu phát triển của
một xã hội hiện đại.
Áp dụng phương pháp dạy học mới này, vai trò của thư viện là vô cùng cần
thiết và quan trọng trong việc cung cấp những tài liệu không chỉ là giáo trình mà
còn là những thông tin tham khảo có giá trò khác cho người đọc. Nhận thức rõ
điều đó, trong những năm qua, nhiều trường đại học đã tập trung đầu tư mạnh
vào việc nâng cấp thư viện, tăng cường kho tư liệu và các phương tiện kỹ thuật
cho phép tạo nguồn tư liệu mới. Các tư liệu online (internet, intranet với mạng
ảo, thu từ vệ tinh, website...) và tư liệu vật chất (sách, báo, tạp chí, CD-ROM,
băng cassettes, video ...) được khai thác triệt để, đã tạo ra tiền đề để thay đổi căn
bản phương pháp giảng dạy – học tập.
Thư viện đại học đã góp phần làm thay đổi phương cách vận dụng tri thức của
người học trong việc nghiên cứu khoa học.
Luật giáo dục Việt Nam đã nhấn mạnh: “Phương pháp giáo dục đại học phải
coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người
học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu,
thực nghiệm, ứng dụng” [36; 26]
Nghiên cứu khoa học chỉ tồn tại ở các cấp đào tạo từ đại học trở lên. Những
bài giảng trên lớp giúp sinh viên lónh hội tri thức, còn thư viện giúp sinh viên phát
triển tư duy, hình thành thói quen nghiên cứu khoa học thông qua việc cung cấp
thông tin - tư liệu.
Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học là tạo điều kiện để học đi đôi với hành,
gắn hiệu quả của giáo dục với cuộc sống. Nghiên cứu khoa học giúp người học
và người dạy phát triển tư duy khoa học và hình thành hệ thống phương pháp
luận, đồng nghóa với quá trình độc lập sáng tạo, thúc đẩy quá trình ứng dụng hiểu
biết vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể.
Để quá trình nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên hiệu quả thì vai
5.231 sinh viên chính qui tại Trường và 2.742 sinh viên chính qui tại đòa phương;
9.039 sinh viên tại chức, chuyên tu). Tỉ lệ sinh viên hệ chính qui tập trung tại
Trường trung bình các năm từ 1998 đến nay: nam 29.5%, nữ 70.5%; thành phố
35.7%, nông thôn 64.3% [32; 8].
Trường có 18 khoa cơ bản, 2 tổ chuyên môn, 7 trung tâm , 7 Phòng ban, Viện
nghiên cứu giáo dục, Thư viện và Ký túc xá.
Nhiệm vụ của Trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Hội nghò lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
(khóa VIII) đã xác đònh một trong những giải pháp chủ yếu để thực hiện nhiệm
vụ và mục tiêu phát triển giáo dục là “Củng cố và tập trung đầu tư nâng cấp các
trường sư phạm. Xây dựng một số trường đại học sư phạm trọng điểm để vừa đào
tạo giáo viên có chất lượng cao vừa nghiên cứu khoa học giáo dục đạt trình độ
tiên tiến”[33; 201]. Hiện nay, Trường có nhiệm vụ đào tạo giáo viên, cán bộ quản
lý có trình độ cử nhân khoa học và bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung
học phổ thông, tạo nguồn cho các tỉnh vùng sâu, vùng xa, đào tạo Thạc sỹ với 21
chuyên ngành, 6 chuyên ngành đào tạo bậc Tiến só. Những nhiệm vụ chính bao
gồm :
- Đào tạo chuẩn mực, chất lượng cao giáo viên có trình độ đại học cho tất
cả các cấp học, ngành học, cung cấp nguồn nhân lực cho các trường trong hệ
thống giáo dục quốc dân từ mẫu giáo tới trung học phổ thông.
- Đào tạo những người có trình độ sau đại học để bổ sung và tăng cường
chất lượng cho đội ngũ cán bộ của Trường đồng thời cung cấp cán bộ và giảng
viên nòng cốt cho các cơ quan quản lý giáo dục, các trường sư phạm và phổ
thông đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội.