Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định - Pdf 59

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017

Nghiên cứu Y học

TỶ LỆ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH ĐỊNH
Trương Thị Quỳnh Hoa*, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang**

TÓMTẮT
Đặt vấn đề: Đái tháo đường thai kỳ là một rối loạn chuyển hóa thường gặp, chiếm tỷ lệ 2 - 20% trong thai
kỳ, co xu hướng ngày càng nhiều tại Việt Nam. ĐTĐTK có liên quan đến việc gia tăng bệnh suất và tử suất ở cả
thai phụ và thai nhi trong và sau sanh.
Phương pháp : Nghiên cứu cắt ngang trên 369 sản phụ đơn thai từ 24 - 28 tuần đến khám thai tại bệnh viện
Đa khoa tỉnh Bình Định trong khoảng thời gian từ tháng 8/2015 đến tháng 3/2016. Tất cả sản phụ có làm xét
nghiệm dung nạp 75 gam glucose – 2 giờ theo tiêu chí chẩn đoán của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ năm 2015.
Kết quả: Tỷ lệ ĐTĐTK của thai phụ đến khám thai tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định là 20,9%; KTC
95% (0,16 – 0,25). Các yếu tố độc lập liên quan đến nguy cơ ĐTĐTK, trong mẫu nghiên cứu ghi nhận là: (1)Tiền
sử gia đình có người trực hệ bị ĐTĐ, làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐTK lên 2,08 lần, với OR = 2,0; KTC 95% (1,0 –
4,0); p= 0,03. (2) Tiền sử thai lưu làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐTK lên 15,1 lần, với OR = 15,1; KTC 95% (1,5 –
151,0); p= 0,02.
Kết luận: ĐTĐTK cần được quan tâm nhiều hơn để có thể phát hiện sớm, từ đó có kế hoạch quản lý để giảm
nguy cơ cho thai phụ và thai nhi.
Từ khóa: đái tháo đường thai kỳ, nghiên cứu cắt ngang, thử nghiệm dung nạp glucose đường uống.

ABSTRACT
PREVALENCE OF GESTATIONAL DIABETES MELLITUS AND ITS RISK FACTORS
AT GENERAL HOSPITAL IN BINH DINH PROVINCE
Truong Thi Quynh Hoa, Huynh Nguyen Khanh Trang
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement of Vol. 21 - No 1 - 2017: 74 - 79
Objective: Gestational diabetes mellitus (GDM) is a common metabolic disorder, accounting for 2-20%
during pregnancy. GDM can lead to adverse outcomes in pregnancy, associated with increased morbidity and

trên thế giới cho thấy tần suất ĐTĐTK thay đổi
từ 2%- 20%. Có sự khác nhau ở các quốc gia về tỷ
lệ ĐTĐTK tùy thuộc vào quần thể dân cư nghiên
cứu, tiêu chuẩn chẩn đoán và chiến lược tầm
soát được áp dụng. Theo Sacks (2012)(19) tỷ lệ
ĐTĐTK ở Mỹ 24,3%, Thái Lan 23%, Úc 15,3%,
trong khi đó ở Nhật 1,6%, Trung Quốc 6,8% và
Ấn Độ 17,7%.
Tại Việt Nam, mặc dù chưa có thống kê đầy
đủ về tỷ lệ mắc ĐTĐTK trên toàn quốc, nhưng
qua một số nghiên cứu từ 1997 đến nay cho thấy
tỷ lệ ĐTĐTK có chiều hướng gia tăng. Tỷ lệ này
tăng từ 2,1% đến 39% tùy thuộc vào cách tầm
soát, tiêu chuẩn chẩn đoán và dân số nghiên cứu
khác nhau(14).
Trong thời gian qua, mặc dù bệnh viện đã
thực hiện khá tốt công tác chăm sóc và quản lý
thai, tuy nhiên việc sàng lọc ĐTĐTK cho các
thai phụ cho đến nay vẫn chưa được thực
hiện. Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định
hằng năm số thai phụ đến sinh khoảng 7000
trường hợp, thực tế chúng tôi ghi nhận có một
tỷ lệ nhất định các thai phụ có mức đường
huyết cao ảnh hưởng xấu đến mẹ và con.
Nhưng thật sự tỷ lệ ĐTĐTK tại bệnh viện là
bao nhiêu thì vẫn chưa có câu trả lời.
Từ thực tế tại tỉnh Bình Định, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Tỷ lệ đái tháo đường
thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện đa
khoa tỉnh Bình Định” với câu hỏi: tỷ lệ đái tháo


Z (21  / 2 ) P(1  P)
d2

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu dẫn đường trong
30 bệnh nhân, có 5 trường hợp ĐTĐTK do đó giá trị
p = 16,7%. Với: α = 0,05, Z(1-α/2) = 1,96 (độ tin cậy
95%) với d = khoảng dao động chấp nhận được 4%
nên d = 0,04.

Tính ra N = 334.
Nghiên cứu được thực hiện trên 369 thai
phụ. Dùng tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK sau
thử nghiệm dung nạp glucose 75 gr – 2 giờ đánh
giá kết quả dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán của
Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ (ADA- 2015)(2).
Tiêu chuẩn nhận : Nhớ rõ ngày kinh cuối
hoặc được siêu âm trong 3 tháng đầu để xác
định tuổi thai. Tuổi thai từ 24 - 28 tuần. Đồng ý
tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ Thai phụ đã được chẩn
đoán là ĐTĐ. Đang mắc các bệnh: cường giáp,
suy giáp, bệnh lý nội khoa nặng, sử dụng các
thuốc: corticoid, salbutamol, estrogen, thiazide.
Thai phụ đủ tiêu chuẩn sẽ được làm thử
nghiệm 75 gram Glucose – 2 giờ. Tiêu chuẩn
chẩn đoán ĐTĐTK theo ADA 2105.
Kết quả được xử lý với phần mềm thống kê
STATA 13.0


Học vấn cấp 2 - 3
130
35,2
Học vấn
Cao đẳng
23
6,3
ĐH - SĐH
216
58,5
Công nhân viên chức
218
59,1
Công nhân
23
6,2
Nghề
nghiệp
Nội trợ
58
15,7
Nghề khác
70
19,0

56
15,2
Gia đình
có ĐTĐ
Không

1,4
Sinh con dị
tật
Không
364
98,6

1
0,3
Tiền sử
ĐTĐTK
Không
368
99,7

5
1,4
Không
364
98,6
Tiền sử
thai lưu
Con so
206
55,8
Con rạ
163
44,2
≥ 25
23

25
6,8
77
20,9

KTC (95%)
0,04 - 0,93
0,16 - 0,25

Thai phụ có ≥ 2 yếu tố nguy cơ có số chênh
mắc ĐTĐTK gấp 7,5 lần so với thai phụ không
có nguy cơ với p = 0,007; KTC 95% (1,73 32,37).

76

Số yếu tố
nguy cơ
Không
1 yếu tố
≥ 2 yếu tố

ĐTĐTK
OR KTC (95%) p
Có n (%) Không n (%)
52 (18,2) 234 (81,8)
1
20 (26,7) 55 (73,3)
1,6 (0,9 - 2,9) 0,1
5 (62,5)
3 (37,5)


2,0 (1,0 – 4,0)
15,1 (1,5 – 151,0)
1,3 (0,4- 3,5)
0,7 (0,4 - 1,5)

0,02
0,02
0,59
0,49

1,2 (0,4 - 3,1)

0,64

2,1 (0,5 - 8,0)
1,6 (0,2 - 11,4)
0,5 (0,1 - 2,8)

0,27
0,6
0,51

BÀN LUẬN
Thực hiện sàng lọc đại trà với tất cả các
thai phụ, bao gồm cả thai phụ có hay không có
các yếu tố nguy cơ với ĐTĐTK. Nếu chỉ chọn
đối tượng có yếu tố nguy cơ thì sẽ bỏ sót
khoảng 10% - 30% ĐTĐTK(4). Tổ chức Y tế Thế
giới cũng khuyến cáo nên sàng lọc đại trà cho

của Nguyễn Khoa Diệu Vân và cộng sự (2011,
2012), (39%)(14) tầm soát đại trà, thực hiện tại
Bệnh viện Bạch Mai. Theo Sack và cộng sự
(2012)(19) ghi nhận tỷ lệ ĐTĐTK theo tiêu chuẩn
chẩn đoán mới của Thái Lan (23%), Singapore
(25,1%) và ở Mỹ (24%).
Trong nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ ĐTĐTK ở
các thai phụ tăng theo số yếu tố nguy cơ, có 2
yếu tố nguy cơ trở lên cao hơn (62,5%) so với
nhóm thai phụ không có yếu tố nguy cơ (18,2%)
và 1 yếu tố nguy cơ (26,7%). Nghiên cứu của
Nguyễn Hoa Ngần (2010) tại Bệnh viện A Thái
Nguyên(12), cho thấy tỷ lệ ĐTĐTK tăng lần lượt
0%; 6,5%; 12,5% và 100% ở các nhóm thai phụ có
0, 1, 2, 3 và lớn hơn 3 yếu tố nguy cơ cao theo thứ
tự. Chính điều này lý giải tại sao tỷ lệ trong các
nghiên cứu có sự thay đổi từ 2 – 20%, là do đối
tượng nghiên cứu với số yếu tố nguy cơ có tỷ lệ
phân bố khác nhau trong các nghiên cứu.
Y văn ghi nhận các yếu tố liên quan đến
ĐTĐTK bao gồm: tuổi ≥ 25, béo phì, tiền sử gia
đình trực hệ có người đái tháo đường, tiền sử có
ĐTĐTK, tiền sử hội chứng buồng trứng đa nang,
tiền sử sản khoa bất thường như thai chết lưu
không rõ lý do, thai dị dạng, thai to ≥ 4000 gr(7).
Ngoài ra có nhiều yếu tố khác đang bàn cãi như
hút thuốc lá, sinh nhiều lần, tăng cân nhiều trong
thai kỳ, đường niệu dương tính, tình trạng kinh
tế, môi trường sống.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chưa ghi

ĐTĐ với OR = 3,84; KTC 95% (1,91 - 6,18) và p =
0,001. Tương tự nghiên cứu của tác giả Saad Siti
Rohana (2009)(18), nghiên cứu trên 674 thai phụ ở
quận Gombak, Malaysia (2008) thì ghi nhận
nguy cơ này tăng cao hơn với OR = 3,62; KTC
95% (2,44 - 5,36).
Trong nghiên cứu có ĐTĐTK ở những thai
phụ có tiền sử sinh con to chiếm 45,5% cao
hơn so với các thai phụ không có tiền sử sinh
con to (20,1%) nhưng sự khác biệt này không
có ý nghĩa thống kê và không có liên quan đến
ĐTĐTK với p = 0,057.
Sinh non là một bệnh lý sản khoa do nhiều
nguyên nhân trong đó đái tháo đường cũng góp
phần vào. Theo y văn, tỷ lệ sinh non ở thai phụ
có ĐTĐTK là 26%(7). Trong nghiên cứu của
chúng tôi tỷ lệ ĐTĐTK ở thai phụ có tiền sử sinh
non cao hơn (25%) so với các thai phụ không có
tiền sử sinh non (20,7%) nhưng sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê với p = 0,72 và chưa
ghi nhận có liên quan đến ĐTĐTK.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có sự gia tăng
tử suất của thai nhi là do sự kiểm soát đường
huyết không tốt. Theo Lapolla A (2009)(10), tìm

77


Nghiên cứu Y học


2. Các yếu tố độc lập liên quan đến nguy cơ
ĐTĐTK, trong mẫu nghiên cứu ghi nhận là:
(1) Tiền sử gia đình có người trực hệ bị ĐTĐ,
làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐTK lên 2,08 lần, với
OR = 2,0; KTC 95% (1,0 – 4,0); p= 0,03.
(2) Tiền sử thai lưu làm tăng nguy cơ mắc
ĐTĐTK lên 15,1 lần, với OR = 15,1; KTC 95% (1,5
– 151,0); p= 0,02.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.

2.
3.

4.
5.
6.
7.
8.

9.

10.

Hạn chế
Do là nghiên cứu cắt ngang, không chỉ ra
được mối liên quan nhân quả giữa ĐTĐTK và các
yếu tố nguy cơ. Tính đại diện cộng đồng cũng có
phần giới hạn do mẫu thực hiện chỉ trong bệnh

American Diabetes Association (2015), "Standards of Medical
Care in Diabetes-2015". Diabetes Care, 38(Suppl 1), tr1-94.
Coustan DR, Lowe LP, Metzger BE, Dyer AR (2010), "The
Hyperglycemia and Adverse Pregnancy Outcome (HAPO)
study: paving the way for new diagnostic criteria for
gestational diabetes mellitus". Am J Obstet Gynecol, 202(6),
654,e651-656.
Đỗ Trung Quân (2013), "Bệnh nội tiết chuyển hóa". NXBGD, tr.
274- 296; 527- 544.
Donald RC (2016), "Diabetes mellitus in pregnancy: Screen
and diagnosis". uptodate.
Galtier F (2010), "Definition, epidemiology, risk factors".
Diabetes Metab, 36(6), 628-651.
Gary FC (2014), "Diabetes Mellitus". Williams Obstetrics, 24th,
edition; Section XII, chapter 57.
Hillier TA (2008), "Screening for gestational diabetes mellitus:
a systematic review for the U.S. Preventive Services Task
Force." Ann Intern Med., 148(10):766-75.
Hirst JE, Thach ST, My An TD (2012), "Consequence of
gestational diabetes in an urban hospital in Viet Nam: A
prospective cohort study". Plod Med, 9 (7), e1001272.1001276.
Lapolla A, Dalfra MG, Fedele D (2009), "Management of
gestational diabetes mellitus". Diabetes Metab Syndr Obes, 2,
73-82.
Maryam R (2010), "Incidence of gestational diabetes mellitus
in pregnant women". Iranian Journal of Reproductive Medicine,
8(1), pp. 24-28
Ngô Thị Kim Phụng (2004), "Tầm soát đái tháo đường trong thai
kỳ tại quận 4 TP.Hồ Chí Minh". Luận án tiến sỹ Y học chuyên
nghành Sản phụ khoa, tr. 101-110.

Saad S R (2009), "Risk Factors of Gestational Diabetes Mellitus in
Gombak District, Selangor- A Case-control Study". 5th
International Casemix Conference Malaysia 2010.Kuala
Lumpur.
Sacks DA, Hadden DR, Maresh M, Deerochanawong C, Dyer
AR, Metzger BE, et al. (2012), "Frequency of Gestational
Diabetes Mellitus at Collaborating Centers Based on IADPSG

Sản Phụ Khoa

20.

Nghiên cứu Y học

Consensus Panel Recommended Criteria: The Hyperglycemia
and Adverse Pregnancy Outcome (HAPO) Study". Diabetes
Care, 35(3), 526-528.
Tô Thị Minh Nguyệt (2009), "Tỷ lệ đái tháo đường trong thai
kỳ và các yếu tố liên quan ở những thai phụ có nguy cơ cao tại
BV Từ Dũ". Y học TP. Hồ Chí Minh, 13 (1), tr. 92-93.

Ngày nhận bài báo:

18/11/2016

Ngày phản biện nhận xét bài báo:

09/12/2016

Ngày bài báo được đăng:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status