1
1
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Phùng Việt Hà
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo của trường
Đại Học Thương Mại đã trang bị cho em những kiến thức trong 4 năm học vừa qua.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Cô giáo - TS. Phùng Việt Hà, người đã trực
tiếp giảng dạy, truyền đạt kiến thức và nhiệt tình hướng dẫn để em có thể hoàn
thành khóa luận “Mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại Cổ phần
Xuất nhập khẩu Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng”
Em cũng xin cảm ơn gia đình, các bạn trong lớp cũng như những anh chị đang
làm việc tại phòng khách hàng cá nhân, phòng kế toán của Ngân hàng thương mại
Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng đã giúp đỡ em trong quá
trình tìm hiểu và hoàn thành đề tài này.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 4 năm 2016
SVTH: Phan Thị Vi
Lớp: K48H2
2
2
CN
CTBL
CVTD
EIB
Eximbank
GDP
HDQT
IMF
KCN
KH
KHCN
Maritimebank
NH
NHNN
NHTM
OECD
Cụm từ đầy đủ
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Chỉ số giá tiêu dùng
Chi nhánh
Công ty bán lẻ
Cho vay tiêu dùng
Vietnam Export Import Commercial Joint Stock Bank
Ngân hàng thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam
Tổng sản phẩm quốc nội
Hội đồng quản trị
Quỹ tiền tệ quốc tế
Ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Ngân hàng thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam
World Bank - Ngân hàng Thế giới
SVTH: Phan Thị Vi
Lớp: K48H2
4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Phùng Việt Hà
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Hiện nay, thị trường tài chính tiêu dùng đang phát triển một cách sôi động, đáp
ứng nhu cầu của một bộ phận rất đông người dân cần các khoản chi tiêu nhỏ nhưng
khó tiếp cận vốn ngân hàng bởi thủ tục liên quan và những điều kiện về tài sản thế
chấp. Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại, công ty tài chính có xu hướng đẩy
mạnh cho vay tiêu dùng với ngày càng nhiều các gói tài chính được đưa ra nhằm hỗ
trợ nhu cầu sinh hoạt, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Áp lực cạnh
tranh giữa các chủ thể cho vay do đó tăng lên đáng kể, đòi hỏi các tổ chức này cần
có những phương án mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng về cả quy mô, phạm vi
khách hàng.
Theo xu thế chung, Ngân hàng thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam
đã cung cấp sản phẩm cho vay tiêu dùng từ tháng 12 năm 2004. Chi nhánh của ngân
hàng tại Hải Phòng thành lập năm 2008, ngay từ ngày đầu đã cung cấp cho người
Mục tiêu cụ thể:
Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng Ngân hàng thương mại Cổ
phần Xuất nhập khẩu Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng.
Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân
hàng thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương
mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng.
Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: từ năm 2013 đến năm 2015
- Không gian: tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam Chi nhánh Hải Phòng.
4. Nội dung nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng của Eximbank Hải
Phòng, phân tích các yếu tố đạt được và chưa đạt được trong giai đoạn 2013-2015,
nhưng thuận lợi và khó khăn đặt ra, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng hoạt
động này tại ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng
trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sản phẩm nghiên cứu áp dụng một số phương pháp như:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, so sánh, tổng hợp, kế thừa kết quả
nghiên cứu từ các công trình khoa học đã công bố có liên quan, nghiên cứu hệ thống
các văn bản, chính sách, các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan. Từ đó, thực hiện
SVTH: Phan Thị Vi
Lớp: K48H2
6
7
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Phùng Việt Hà
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
a.1.
Cơ sơ lý luận về cho vay tiêu dùng
a.1.1. Sự hình thành và phát triển
a.1.1.1.
Các quan điểm về cho vay tiêu dùng
Hiện nay, cho vay tiêu dùng là một dịch vụ ngân hàng được quan tâm đặc biệt
không chỉ bởi những tổ chức tín dụng mà cả những ngưởi tiêu dùng trên thị trường.
Trên thế giới, có rất nhiều quan điểm khác nhau về cho vay tiêu dùng. Dưới đây là
một số quan điểm về cho vay tiêu dùng.
Theo giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại (1998) của tác giả Lê Thẩm
Dương và cộng sự, cho vay tiêu dùng là hình thức tín dụng tài trợ cho chi tiêu của
hộ tiêu dùng (cá nhân và hộ tiêu dùng) với các chi phí về vật chất và dịch vụ (nhà
cửa, đồ dùng, xe cộ, giáo dục y tế, du lịch).
Cho vay tiêu dùng còn được hiểu là hoạt động cung cấp các khoản vay cho
cá nhân để mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho các mục đích tiêu dùng của cá
nhân và hộ gia đình, phân biệt với hoạt động cho vay thương mại nhằm hướng
đến mục đích sản xuất, kinh doanh. - TS. Nguyễn Thị Kim Thanh, nguyên Viện
trưởng Viện Chiến lược NHNN, Ủy viên HĐQT Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Cho vay tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng
và phát triển của nền kinh tế, được thể hiện qua một số khía cạnh như sau:
Thứ nhất, cho vay tiêu dùng là một công cụ quan trọng giúp kích cầu tiêu
dùng bằng cách hỗ trợ người tiêu dùng chi tiêu ở hiện tại nhưng chi trả trong tương
lai, làm gia tăng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ trong dân cư, cải thiện và nâng cao
chất lượng cuộc sống của người dân.
Thứ hai, cho vay tiêu dùng giải quyết vấn đề việc làm và góp phần nâng cao
thu nhập cho người dân. Để đáp ứng cho nhu cầu ngày một tăng lên, các doanh
nghiệp, nhà máy mở rộng sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng về mẫu mã,
chủng loại với chất lượng ngày càng cao. Từ đó, giảm thiểu tỷ lệ người thất nghiệp
trong xã hội, tạo thu nhập cho người lao động.
Thứ ba, cho vay tiêu dùng góp phần làm tăng tốc độ luân chuyển hàng hóa và
dịch vụ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội.
a.1.2.2.
Đối với ngân hàng
Đối với ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay tiêu dùng mang lại nhiều
lợi ích cho ngân hàng, bao gồm lợi ích kinh tế và lợi ích phi kinh tế.
Thứ nhất, cho vay tiêu dùng giúp tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng với
các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác bằng cách nâng cao và mở rộng mạng
lưới, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng.
Thứ hai, cho vay tiêu dùng là một công cụ marketing hiệu quả, giúp ngân hàng
mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động tiền gửi hay
các sản phẩm đi kèm khác.
Thứ ba, dựa vào sự đa dạng và phong phú của các sản phẩm cho vay tiêu dùng
ngân hàng thương mại có điều kiện đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh, tăng lợi
nhuận và phân tán rủi ro cho ngân hàng.
Thứ tư, CVTD giúp cho đội ngũ nhân viên ngân hàng hoàn thiện kiến thức nghiệp
vụ và kỹ năng giao tiếp với khách hàng, giúp tăng uy tín và hình ảnh của ngân hàng.
(đặc biệt là những người dân có thu nhập thấp, không có lịch sử tín dụng – đây là
nhóm khách hàng dưới chuẩn thường bị từ chối bởi các NHTM truyền thống), và
giúp cho các kế hoạch tiêu dùng diễn ra suôn sẻ giữa các chu kỳ biến động của thu
nhập, do vậy góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và gia tăng công bằng xã hội.
Thứ ba, góp phần gia tăng sự hiểu biết về tài chính cho các nhóm khách hàng
mới, tầng lớp dân cư ít tiếp cận các dịch vụ ngân hàng, vì vậy giúp họ quản lý tốt
hơn các giao dịch tài chính cá nhân, cũng như tạo nền tảng để họ có thể sẵn sàng sử
dụng các dịch vụ tài chính khác bao gồm các dịch vụ ngân hàng truyền thống.
Thứ tư, làm giảm nhu cầu đối với các dịch vụ tín dụng phi chính thức, hạn chế
cho vay nặng lãi, “tín dụng đen”.
SVTH: Phan Thị Vi
Lớp: K48H2
10
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Phùng Việt Hà
a.1.3. Đặc điểm
a.1.3.1.
Đối tượng cho vay
Đối tượng cho vay tiêu dùng là các cá nhân và các hộ gia đình. Hiện nay, có
nhiều cách để phân loại đối tượng cho vay tiêu dùng, cách phổ biến nhất là chia
nhóm đối tượng dựa trên khả năng tài chính của khách hàng.
Bảng 1.1. Phân loại đối tượng khách hàng dựa trên khả năng tài chính của
việc cho vay với những quy định về tỷ lệ cho vay, tài sản đảm bảo, khả năng trả nợ
vay đối với những đối tượng có nhu cầu vay tiêu dùng.
a.1.3.3.
Lãi suất
SVTH: Phan Thị Vi
Lớp: K48H2
11
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Phùng Việt Hà
Trong thực tế, mức lãi suất áp dụng đối với những khoản CVTD được đánh
giá là cao hơn những khoản cho vay thông thường.
Lãi suất CVTD cao hơn bởi các nguyên nhân như sau:
-
Đối tượng khách hàng của các khoản vay tiêu dùng là cá nhân, hộ gia đình. Quy mô
vay tiêu dùng thường nhỏ (phù hợp với giá cả của hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng), kỳ
hạn khoản vay thường là ngắn hạn và trung hạn.
-
Phần lớn các khoản vay tiêu dùng được cung cấp dưới hình thức cho vay trả góp và
12
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Phùng Việt Hà
thương mại 2 đến 5 lần. Rủi ro tín dụng của các khoản vay tiêu dùng cũng cao hơn
cho vay thương mại, làm cho chi phí bù rủi ro có thể rất lớn. Đối với các công ty tài
chính CVTD, chi phí cho các khoản CVTD còn cao hơn của các NHTM, bởi chi phí
đầu vào lớn hơn và đôi khi cũng có thể bao hàm cả chi phí cho các dịch vụ khác
như phí chuyển khoản qua ngân hàng, phí bảo hiểm…
Ngân hàng phải huy động rất nhiều nhân lực cho hoạt động tín dụng nói chung
và cho vay tiêu dùng nói riêng, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng,
quyết định cho vay, giải ngân cũng như kiểm soát và thu nợ đối với khách hàng sau
khi cho vay. Bên cạnh đó, đặc điểm của khách hàng là rất đông và phân tán, khó tìm
kiếm thông tin về khả năng tài chính hơn là nhóm khách hàng doanh nghiệp, khoản
tiền vay có quy mô nhỏ với số lượng lớn nên chi phí cho vay tiêu dùng là cao hơn
a.1.3.5.
cho vay thông thường.
Mức độ rủi ro
Rủi ro tín dụng của các khoản vay tiêu dùng cũng cao hơn cho vay thương
mại, các giai đoạn trước, trong và sau vay đều có khả năng xảy ra rủi ro. Tình hình
tài chính của các cá nhân và các hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo
tình trạng của công việc và yếu tố sức khỏe. Vì vậy, rủi ro trong cho vay tiêu dùng
của ngân hàng thương mại là không thể tránh khỏi. Nhiều ngân hàng đã áp dụng
giải pháp trích lập quỹ dự phòng cho vay tiêu dùng để chuyên theo dõi các khoản
vay tiêu dùng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho vay tiêu dùng đối với các ngân hàng
a.1.3.6.
đang trên đà phát triển và giảm xuống khi nền kinh tế rơi vào suy thoái. Khi tiêu
dùng, người tiêu dùng thường quan tâm đến số tiền họ phải trả hàng tháng hơn là lãi
suất. Mức thu nhập và trình độ dân trí tác động rất lớn đến nhu cầu vay vốn của
người tiêu dùng. Những ngưởi có mức thu nhập cao thường có nhu cầu vay tiêu
dùng nhiều hơn vì chi phí bỏ ra thấp hơn việc họ sử dụng chính những khoản tiền
tiết kiệm để chi tiêu. Hơn nữa, những khoản tiền của họ sẽ có tỷ lệ sinh lời cao hơn
nếu họ đem đầu tư trung và dài hạn.
Trái lại, những người có thu nhập thấp hơn thì nhu cầu vay khá nhỏ do tâm lý
e ngại về khả năng hoàn trả nợ của mình, họ chỉ vay khi nhu cầu quá cấp thiết.
a.1.4. Phân loại
Các khoản cho vay tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng có thể sử dụng hàng
hóa và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có thể có một mức sống
cao hơn. Những khoản cho vay này được thực hiện vào nhiều mục đích khác nhau,
bao gồm mua nhà ở, mua xe, mua đồ dùng sinh hoạt, du học, các dịch vụ y tế,....
Sau đây là một số cách phân loại cho vay tiêu dùng.
Theo mục đích vay
Dựa vào mục đích vay, cho vay tiêu dùng bao gồm cho vay tiêu dùng cư trú và
a.1.4.1.
-
cho vay tiêu dùng phi cư trú:
Cho vay tiêu dùng cư trú: các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm,
-
xây dựng hoặc cải tạo nhà cho khách hàng là các cá nhân và hộ gia đình.
của người đi vay không thể thanh
toán hết một lần số nợ vay
Áp dụng cho các nhu cầu vay
nhỏ và thời hạn không dài
Áp dụng với các đối tượng vay
tổng hợp, có tính thường xuyên
CVTD tuần
hoàn
a.1.4.3.
Đặc điểm
Người đi vay trả nợ (gốc và lãi) cho ngân
hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất
định trong thời hạn cho vay.
Tiền vay chỉ được thanh toán một lần khi
đến hạn
NH cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín
dụng hoặc phát hành loại séc cho phép
thấu chi dựa trên số tiền trên tài khoản
vãng lai. Trong thời hạn tín dụng được
thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi
tiêu và thu nhập từng kỳ, khách hàng
được NH cho phép thực hiện vay và trả
nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo
một hạn mức tín dụng.
Theo hình thức bảo đảm nợ vay
Căn cứ vào hình thức đảm bảo nợ vay, cho vay tiêu dùng bao gồm: cho vay
Ngân hàng trực tiếp tiếp xúc, xét cho vay và trực tiếp thu nợ từ phía người
vay. Ngân hàng và khách hàng sẽ trực tiếp gặp nhau để đàm phán và ký kết hợp
đồng tín dụng, khách hàng nhận tiền vay từ ngân hàng hoặc chuyển vào tài khoản
của các doanh nghiệp mà họ mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chủ nợ của họ.
Bảng 1.3. Đặc điểm CVTD trực tiếp
Ưu điểm
- Chất lượng tín dụng thường cao hơn hình
thức gián tiếp do NH có thể sử dụng triệt để
trình độ, kiến thức và kỹ năng của cán bộ
tín dụng trong quá trình thẩm định KH.
- Linh hoạt hơn cho vay gián tiếp khi ngân
hàng làm việc trực tiếp với khách hàng,
ngân hàng có thể xử lý những vấn đề phát
sinh một cách nhanh chóng và hiệu quả.
- Đối tượng KH là cá nhân với phạm vi địa
lý rất rộng, tạo điều kiện cho NH giới thiệu
những dịch vụ tiện ích mới đến khách hàng.
SVTH: Phan Thị Vi
Nhược điểm
- Ngân hàng thường gặp khó khăn trong
việc tăng doanh số cho vay.
- Ngân hàng khó mở rộng quan hệ tín dụng
với khách hàng vì ngân hàng cần phải tiếp
xúc trực tiếp với khách hàng trong khi số
lượng cán bộ tín dụng của ngân hàng không
đủ để đáp ứng.
- Chi phí cao hơn nên lãi suất cho vay
thường cao hơn.
- An toàn hơn so với cho vay tiêu dùng trực
tiếp nếuNH có quan hệ tốt với những CTBL.
Nhược điểm
- Rủi ro khá cao do NH không tiếp xúc trực
tiếp với KH.
- Ngân hàng khó kiểm soát được các khoản
vay.
- Kỹ thuật nghiệp vụ có tính phức tạp cao.
Sơ đồ cho vay tiêu dùng gián tiếp như sau:
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ cho vay tiêu dùng gián tiếp
SVTH: Phan Thị Vi
Lớp: K48H2
17
Khóa luận tốt nghiệp
a.1.4.5.
GVHD: TS. Phùng Việt Hà
(1) Hợp đồng mua bán nợ giữa ngân hàng và công ty bán lẻ
(2) Hợp đồng bán chịu hàng hóa giữa công ty bán lẻ và người vay
(3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người vay
(4) Công ty bán lẻ giao bộ chứng từ bán chịu cho ngân hàng
ngắn hạn
Thời hạn
Dưới 12
tháng
CVTD
trung Hạn
1 - 5 năm
CVTD
dài hạn
Trên 5
năm
Trường hợp áp dụng
để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân hoặc
để bổ sung vào tài sản lưu động của các doanh nghiệp.
Đầu tư sửa chữa, đổi mới thiết bị, phương tiện sản xuất, phương
tiện vận tải… các trang thiết bị nhanh hao mòn hay xây dựng các
dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh từ 1
năm đến 5 năm.
Đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà xưởng, mua sắm
máy móc, thiết bị công nghiệp nặng,… thu hồi vốn lâu từ 5 năm
đến 10 năm có khi lên đến 20 năm.
Cùng với độ dài của thời gian, việc thu hồi vốn đối với các dự án có thời hạn
dài gặp nhiều khó khăn hơn do ở thời điểm hiện tại doanh nghiệp khó dự tính những
Lớp: K48H2
19
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Phùng Việt Hà
Mức cho vay: dựa vào nhu cầu vay vốn, tỷ lệ vay tối đa tính trên giá trị tài sản
thế chấp hay cầm cố, khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng cung cấp vốn của
ngân hàng và giới hạn cho vay tối đa của ngân hàng đối với khách hàng.
Thời hạn cho vay: căn cứ vào kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay và khả
năng trả nợ của khách hàng mà thời hạn CVTD có thể là vài tháng hoặc vài năm.
Lãi suất cho vay: thường được xác định dựa vào lãi suất cơ bản cộng với mức
lợi nhuận cận biên và phần bù rủi ro, trong trường hợp không trả đúng hạn, khách
hàng còn phải chịu thêm khoản phạt nợ quá hạn của ngân hàng.
Sau đó, ngân hàng tiến hành ký hợp đồng và tiến hành giải ngân cho khách hàng.
Bước 4: Theo dõi và thu nợ
Việc theo dõi các khoản nợ được tiến hành một năm một lần hoặc sáu tháng
một lần hoặc tùy vào biểu hiện từ phía khách hàng vay, ngân hàng có thể dựa vào
những thông tin được cung cấp hoặc trực tiếp kiểm tra.
Thu nợ: việc thu nợ được tiến hành theo kỳ hạn nợ đã được ghi trong hợp
đồng tín dụng. Khách hàng phải chủ động trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn hoặc có
thể trả nợ trước hạn.
a.1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng
a.1.6.1.
Nhân tố thuộc về ngân hàng
a. Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với một
rộng. Trên cơ sở các quyết định, chính sách của cấp trên, thông tin về khách hàng,
về đối thủ khách hàng, xác định vị thế của ngân hàng trên địa bàn hoạt động; ngân
hàng phải xác định nên tăng cường hoạt động cho vay hợp lý, chú trọng hơn vào
những hướng nào có hiệu quả, tìm hiểu thêm những lĩnh vực mới tiềm năng giúp
mở rộng hoạt cho vay tiêu dùng của ngân hàng mình.
c. Nguồn vốn của ngân hàng
Ngân hàng cũng như các doanh nghiệp, muốn tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh thì phải có đủ vốn. Hai nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là vốn tự có
và vốn huy động.
Ngân hàng thương mại chịu sự tác động của chính sách tiền tệ, chịu sự quản lý
của Ngân hàng Nhà nước và tuân thủ các quy định của luật Ngân hàng. Một ngân
hàng chỉ được huy động một số vốn gấp 20 lần số vốn tự có. Điều đó có nghĩa là
nếu vốn tự có càng lớn, khả năng được phép huy động vốn càng cao, và ngân hàng
càng dễ dàng hơn trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình.
Ngân hàng thương mại cho vay bằng nguồn vốn huy động của mình. Khi
nguồn vốn của ngân hàng thực sự lớn và tăng trưởng một cách đều đặn thì hoạt
động cho vay của ngân hàng sẽ được tăng cường, mở rộng về cả quy mô, số lượng
và chất lượng cho vay. Mặt khác, nếu lượng vốn ít thì ngân hàng sẽ bỏ lỡ nhiều cơ
hội đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng. Tuy nhiên, nếu vốn quá nhiều
và ngân hàng cho vay ít so với lượng vốn huy động (hệ số sử dụng vốn thấp) thì sẽ
gây ra hiện tượng tồn đọng vốn. Lượng vốn tồn đọng này không sinh lời và lãi suất
phải trả cho nó sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Vì vậy, yếu tố vốn là yếu tố
quan trọng, ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay tiêu dùng của các ngân hàng
thương mại.
SVTH: Phan Thị Vi
Lớp: K48H2
chính xác, kịp thời, đầy đủ là rất khó, dẫn đến khả năng cho vay còn nhiều hạn chế,
bên cạnh đó là tỷ lệ nợ quá hạn còn ở mức cao.
e. Năng lực điều hành của ban lãnh đạo
Yếu tố này có vai trò khá quan trọng. Năng lực lãnh đạo của những người điều
hành ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt
động cho vay tiêu dùng nói riêng, thể hiện ở các mặt như khả năng chuyên môn,
khă năng phân tích, phán đoán, nghệ thuật đối nhân xử thế. Nếu cán bộ điều hành
SVTH: Phan Thị Vi
Lớp: K48H2
22
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Phùng Việt Hà
lãnh đạo không nhạy bén, không nắm bắt, điều chỉnh hoạt động ngân hàng theo kịp
các tín hiệu thông tin, không sử dụng nhân viên đúng sở trường,... dẫn đến lãng phí
các nguồn lực ngân hàng mình.
f.
Chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở vật chất
Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên chính là hình
ảnh của ngân hàng. Họ là lực lượng chủ yếu truyền thông tin từ khách hàng, từ đối
thủ cạnh tranh đến các nhà hoạch định chính sách ngân hàng .Với những kiến thức,
kinh nghiệm, chuyên môn của mình, nhân viên ngân hàng có thể làm tăng thêm giá
dụng đen vì sự thuận tiện hoặc họ hạn chế chi tiêu trong điều kiện tài chính không
cho phép. Một số khác sử dụng vay tiêu dùng như một công cụ tài chính thông minh,
sử dụng tiền hiệu quả bằng việc đầu tư nguồn tiền nhàn rỗi của mình vào những hoạt
động đầu tư dài hạn với mức sinh lời cao, những khoản chi tiêu cho mục đích tiêu
dùng được đáp ứng bởi những khoản vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.
b. Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của người dân càng được quan
tâm, nhu cầu sử dụng hàng hóa và dịch vụ tăng lên mạnh mẽ. Nhu cầu của khách
hàng chính là nền tảng để ngân hàng xây dựng chiến lược mở rộng cho vay tiêu dùng.
Nhân tố khác
a.1.6.3.
a. Sự phát triển của nền kinh tế
Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của
ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng, tạo ra môi trường thuận lợi để
NHTM mở rộng hoạt động cho vay. Bất cứ một ngân hàng nào cũng chịu sự chi
phối của các chu kì kinh tế. Trong giai đoạn nền kinh tế phát triển ổn định, doanh
nghiệp làm ăn tốt thì xã thì xã hội có nhiều nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh nên nhu cầu vay vốn tăng. Mặt khác nền kinh tế phát triển, thu nhập
bình quân đầu người cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng, thay
đổi thói quen tiêu dùng của người dân và tạo khả năng tiết kiệm do đó tạo triển
vọng cho vay tiêu dùng. Ngược lại, nền kinh tế suy thoái dẫn đến nền kinh tế giảm
khả năng hấp thụ vốn, ứ đọng vốn, gây ra những khó khăn lớn trong việc mở rộng
CVTD.
SVTH: Phan Thị Vi
Các ngân hàng thương mại hoạt động trong môi trường có rất nhiều đối thủ
cạnh tranh, đây là một động lực tốt để ngân hàng ngày càng hoàn thiện. Ngân hàng
luôn phải cố gắng nâng cao, tăng cường các hoạt động của mình để vượt qua đối
thủ. Tuy nhiên, mỗi khách hàng lại có sự lựa chọn riêng khi gửi tiền, họ lựa chọn sử
dụng dịch vụ của ngân hàng nào mang lại cho họ nhiều lợi ích nhất. Nếu như đối
thủ cạnh tranh mà chiếm ưu thế hơn thì sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn ngân hàng,
thậm chí khách hàng của ngân hàng cũng chuyển sang đối thủ cạnh tranh. Do đó, để
mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng thì việc nghiên cứu tìm hiểu đối thủ cạnh
tranh để ngày càng chiếm ưu thế hơn là vô cùng quan trọng
SVTH: Phan Thị Vi
Lớp: K48H2
25
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Phùng Việt Hà
a.1.7. Cơ sở pháp lý cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng đã xuất hiện tại Việt Nam từ khá lâu, tuy nhiên những văn
bản quy định có liên quan đến hoạt động này rất ít và phần lớn đều không rõ ràng.
Những tổ chức tín dụng cung cấp hoạt động cho vay tiêu dùng phải tuân thủ những
quy định của Chính phủ, NHNN về hoạt động cho vay nói chung như: Quy chế cho
vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước;