Sinh viên thực hiện : Trịnh Văn Mạnh
Mã sinh viên :14D220168
Lớp : K50T3
STT 359
SĐT : 0987416742
GVHD : PGS.TS NGUYỄN QUỐC THỊNH
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH : HOÀN THIỆN HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU
CHO CÔNG TY CỔ PHẨN LOTUS GOLD VIỆT NAM
LỜI CÁM ƠN
0
Với những kiến thức tích lũy được trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại
trường ....... tôi cùng với sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám Hiệu nhà trường,
Quý Thầy/Cô, cùng với sự nhiệt tình giúp đỡ của ...... giảng viên khoa ..............
Đến nay, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, với sự trân trọng tôi
xin chân thành cảm ơn đến:.................., người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời
gian hoàn thành khóa luận. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy/Cô
trong Khoa .............đã tận tình cung cấp tài liệu cần thiết và đóng góp nhiều ý kiến quý
báu để tôi hoàn thành khóa luận này.
Kính chúc Quý nhà trường đạt được nhiều thành công trong công tác giáo dục.
Sinh viên
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan : Khoá luận tốt nghiệp với đề tài : Hoàn thiện hệ thống nhận diện
1.3. Kinh nghiệm trong triển khai hệ thống nhận diện thương hiệu............................26
1.3.1. Triển khai hệ thống nhận diện thương hiệu......................................................26
1.3.2. Tổ chức áp dụng hệ thống nhận diện thương hiệu............................................27
1.3.3. Đồng bộ hóa các điểm tiếp xúc thương hiệu....................................................29
3
CHƯƠNG 2......................................................................................................................32
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG
VÀ TRIỂN KHAI HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU CỦA CÔNG TY CỔ
PHẨN LOTUS GOLD VIỆT NAM..................................................................................32
2.1. Giới thiệu khái quát về Công ty cổ phần LoTus Gold Việt Nam.........................32
2.1.1. Qúa trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp.......................................32
2.1.2. Các lĩnh vực hoạt động.....................................................................................34
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty.................................................................................35
2.1.3. Tình hình kinh doanh và đối thủ cạnh tranh chính của công ty........................36
3.1. Thực trạng hệ thống nhận diện thương hiệu của Công ty cổ phần Lotus Gold Việt
Nam.............................................................................................................................. 38
3.1.1. Mô tả hệ thống nhận diện thương hiệu của công ty..........................................38
3.1.1.1.
Tên thương hiệu............................................................................................39
3.1.1.2.
Logo thương hiệu..........................................................................................39
3.1.1.3.
Câu Slogan....................................................................................................40
3.2.2. Tồn tại..............................................................................................................56
CHƯƠNG 3...................................................................................................................... 58
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HỆ THỐNG
PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU LOTUS GOLD VIỆT NAM.........................................58
3.1. Định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới...........................................58
3.2. Đề xuất một số giải pháp cho quá trình xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu
Lotus Gold Việt Nam....................................................................................................58
3.2.1. Giải pháp về Logo thương hiệu...........................................................................58
3.2.2. Tăng cường quảng bá thương hiệu...................................................................59
3.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và văn hóa doanh nghiệp.......................60
3.2.4. Một số giải pháp khác......................................................................................61
KẾT LUẬN......................................................................................................................62
LỜI MỞ ĐẦU
5
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Hiện nay nước ta bước vào thời ký nhập kinh tế và cạnh tranh ngày càng gay gắt,
nền kinh tế Việt Nam đang từng bước chuyển mình, phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu. Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, thị trường bán
lẻ Việt Nam ngày càng trở nên sôi động hơn với sự tham gia của các tập đoàn bán lẻ lớn
trên thế giới đem lại cho khách hàng nhiều sự lựa chọn. Đòi hỏi các doanh nghiệp Việt
Nam phải đẩy mạnh cải tiến công nghệ, chất lượng sản phẩm mà đặc biệt là xây dựng cho
mình một thương hiệu mạnh với một nét riêng có, một đặc thù mà khi nói đến có thể làm
khách hàng liên tưởng. Do vậy vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu nổi lên như một
yêu cầu cấp thiết
Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần LoTus Gold Việt Nam em nhận thức
Chương 1: Cơ sở lý luận về thương hiệu và hệ thống nhận diện thương hiệu
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng tình hình hoạt động xây dựng và triển
khai hệ thống nhận diện thương hiệu của Công Ty Cổ Phẩn Lotus Gold Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện cho quá trình xây dựng hệ thống phát
triển thương hiệu Lotus Gold Việt Nam.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG HIỆU VÀ HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG
HIỆU
1.1. Khái quát về thương hiệu
1.1.1. Khái niệm thương hiệu và các thành tố của thương hiệu
1.1.1.1. Khái niệm thương hiệu
Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ thì “Thương hiệu là một tên gọi, thuật ngữ, kí
hiệu, biểu tượng, hình vẽ, hay một sự kết hợp giữa chúng, nhằm nhận diện các hàng hóa
8
hay dịch vụ của người bán và để phân biệt chúng với hàng hóa hay dịch vụ của đối thủ
cạnh tranh.”
Theo quan điểm tổng hợp của Amber & Styler thì ''Thương hiệu (brand) là một tập
các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi''. Quan điểm
này cho rằng, sản phẩm chỉ là một phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức
năng cho khách hàng, các yếu tố khác của Marketing mix cũng chỉ là các thành phần của
một thương hiệu. Nếu như trước đây, người ta coi thương hiệu chỉ là phần nhãn mác bên
ngoài thì giờ đây bản thân sản phẩm cũng là một phần của thương hiệu. Thương hiệu giúp
cho chúng ta biết được sản phẩm của công ty nào và tin tưởng vào sản phẩm hơn, vì
thương hiệu là lời hứa về chất lượng cũng như uy tín của doanh nghiệp.
Trong văn bản pháp luật của Việt Nam không có thuật ngữ thương hiệu mà chỉ có
các thuật ngữ liên quan khác trong đó có nhiều quan điểm nhãn hiệu hàng hóa, tên thương
mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa như chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp…Do vậy, cách
miền, quốc gia đó.
Tên thương hiệu phải đáp ứng được yêu cầu bảo hộ, có khả năng phân biệt, không
bị trùng lặp hay tương tự như thương hiệu đã nộp đơn hoặc bảo hộ.
1.1.1.3.
Biểu trưng và biểu tượng
Biểu tượng hay ký hiệu là một hình ảnh, ký tự hay bất cứ cái gì đó đại diện cho
một ý tưởng, thực thể vật chất hoặc một quá trình. Mục đích của một biểu tượng là để
truyền thông điệp ý nghĩa một cách nhanh chóng dễ dàng và ngắn gọn, đơn giản. Ví dụ,
một hình bát giác màu đỏ có thể là một biểu tượng có nghĩa là "STOP" (dừng lại). Trên
bản đồ, một hình ảnh lều có thể đại diện cho một khu cắm trại. Chữ số là biểu tượng
cho số. Tên cá nhân là biểu tượng đại diện cho cá nhân. Một bông hồng đỏ tượng trưng
cho tình yêu và lòng từ bi.
Biểu trưng hay logo (từ tiếng Anh, vắn tắt từ logotype) là một yếu tố đồ họa (ký
hiệu, chữ biểu thị, biểu tượng, hình tượng...) kết hợp với cách thức thể hiện nó tạo thành:
một nhãn hiệu hay thương hiệu, hình ảnh đại diện cho một công ty hay các tổ chức phi
thương mại, hình ảnh biểu thị một sự kiện, một cuộc thi, một phong trào hay một cá nhân
nào đó. Thông thường, biểu trưng được chủ thể công nhận ngay sau khi nó được thiết kế
10
xong và mặc nhiên có bản quyền, ít xảy ra trường hợp một biểu trưng tồn tại một thời
gian dài mà không hoặc chưa có bản quyền. Trong hoạt động quảng bá, biểu trưng không
phải là thương hiệu, tuy nhiên nó là ấn tượng bên ngoài để dễ nhận ra thương hiệu.
Theo Al Ries và Laura Ries (1998), Alycia Perry (2003), cũng như một số chuyên
gia thương hiệu khác thì biểu trưng của thương hiệu thường phải đảm bảo một số yêu cầu.
Khác biệt: có những dấu hiệu đặc biệt gây ấn tượng thị giác mạnh, dễ phân biệt.
Đây là chức năng quan trọng của biểu trưng, giúp phân biệt thương hiệu hay sản phẩm
với thương hiệu hay sản phẩm cạnh tranh. Sự khác biệt cũng làm cho thương hiệu dễ đi
Khẩu hiệu, nhạc hiệu và các thành tố thương hiệu khác
Khẩu hiệu là một lời văn ngắn gọn diễn tả cô đọng về một vấn đề nào đó mà
một tổ chức hay một công ty muốn thông báo đến cho mọi người hay đơn giản là lấy lại
tinh thần hay phát động một phong trào nội bộ. Trong lĩnh vực chính trị, khẩu hiệu thường
được sử dụng như một công cụ tuyên truyền hiệu quả, có sức thu hút cao. Trong lĩnh
vực quảng bá thương hiệu khẩu hiệu thường là những câu gợi nhớ tới lợi ích sản phẩm.
Ví dụ như Hình ảnh logo kết hợp với slogan của một số thương hiệu tiêu biểu nói
lên đặc điểm, cá tính riêng của mỗi thương hiệu đó.
Xây dựng nhạc hiệu cho thương hiệu (Sound branding) là việc sử dụng âm thanh
nhằm tăng cường khả năng nhận diện thương hiệu cho khách hàng. Nhạc hiệu có thể là
một đoạn nhạc hoặc một bài hát ngắn, dễ nhớ, dễ lặp lại, được sáng tác dựa trên giá trị cốt
lõi của thương hiệu và sản phẩm. Nhạc hiệu thường đặt ở đầu hay cuối cùng của một đoạn
quảng cáo.
Sound logo (biểu tượng âm thanh): Cũng như logo, sound l ogo là một thành phần
của thương hiệu, góp phần quan trọng trong việc củng cố nhận thức của khách hàng về
thương hiệu. Sound logo được nghe thấy cùng lúc với logo thương hiệu nhằm nâng cao
khả năng nhận diện (ví dụ như biểu tượng âm thanh của Nokia khi khởi động nguồn).
12
Brand voice (tiếng nói thương hiệu): Brand voice là một yếu tố của nhạc hiệu để
giúp phân biệt giữa các thương hiệu. Brand voice giúp bộc lộ và nhấn mạnh thêm tính
cách của thương hiệu.
Brand song (bài hát thương hiệu): Một bài hát của một ca sĩ hoặc do công ty sáng
tác nhằm nói lên những giá trị cốt lõi của thương hiệu và khẳng định tính chất của sản
phẩm và lưu ý rằng nếu là bài hát của một ca sĩ thì thường chỉ sử dụng trong một giai
đoạn nhất định rồi sẽ thay đổi nên sẽ tạo ra sự không thống nhất trong việc nhận diện
thương hiệu của khách hàng.
định. Ví dụ như Nestle đã chi 4,5 tỷ USD để mua Rowntree, nhiều gấp 5 lần so với giá trị
trên sổ sách của nó.
Không những thế việc phân loại thương hiệu còn có thể là vật thế chấp hay kêu gọi
đầu tư hoặc tham gia góp vốn khi liên doanh như Công ty P/S mới đây, khi liên doanh với
doanh nghiệp nước ngoài đã được đối tác định giá 10 triệu USD (theo Báo Sài Gòn và
tiếp thị số 39 năm 2001) và cũng như trường hợp nhượng quyền tên nhãn hiệu cà phê
Trung Nguyên ở nhiều nước trên thế giới là một điển hình.
Thương hiệu cũng là một sự khẳng định cấp sản phẩm của doanh nghiệp. Hệ thống
các thương hiệu sẽ cho phép các doanh nghiệp tấn công vào từng phân khúc khách hàng
khác nhau.
Việc phân loại thương hiệu tốt sẽ giúp doanh nghiệp bán sản phẩm với giá cao
hơn làm khách hàng tự hào hơn (khi sử dụng hàng có thương hiệu nổi tiếng tức hàng
hiệu).
Việc phân loại thương hiệu là chiến lược quan trọng trong kinh doanh của doanh
nghiệp. Một chiến lược thương hiệu có thể chống lại các đối thủ cạnh tranh một cách dễ
dàng.
Phân loại thương hiệu xác lập được sự nhận diện, khuấy động cảm giác của người
tiêu dùng. Thương hiệu của doanh nghiệp luôn luôn tồn tại trong tâm tư khách hàng.
Thương hiệu giúp các khách hàng xây dựng được lòng trung thành với doanh nghiệp, nó
in sâu vào tâm tư khách hàng và khi cần thì khách hàng có thể tìm thấy qua thương hiệu,
thương hiệu hứa hẹn về một sự tin cậy, nó đảm bảo rằng sản phẩm hay dịch vụ mang nhãn
hiệu đó sẽ sống cùng với thương hiệu. Thương hiệu chuyển tải một cảm giác tính bằng
14
“hiệu ứng hào quang” sản phẩm. Thương hiệu truyền thông trực tiếp ở mức các cảm giác
và do đó dễ níu chặt như một niềm tin mãi mãi. Qua thời gian thương hiệu sẽ trở thành lợi
nhuận khi người tiêu dùng trung thành với thương hiệu của doanh nghiệp ngày càng
nhiều. Giá trị của nhãn hiệu đó tăng hay giảm cùng với tính chính trực của những người
tạo ra nó, quyền lực cuối cùng quản lý thương hiệu nằm trong tay những người đứng đầu
cắp và sử dụng trái phép thương hiệu. Thương hiệu là một tài sản, thương hiệu càng nổi
tiếng thì tài sản ấy càng lớn, đến mức gấp hàng ngàn hàng triệu lần món hàng mà nó đặt
tên.
1.1.2.2.
Phân loại thương hiệu theo mốt số tiêu chí
Theo tiếp cận của quản trị thương hiệu và marketing, thương hiệu có thể được chia
thành: thương hiệu cá biệt (thương hiệu cá thể, thương hiệu riêng); thương hiệu gia đình ;
thương hiệu tập thể (thương hiệu nhóm) ; thương hiệu quốc gia.
-
Thương hiệu cá biệt (còn được gọi là thương hiệu cá thể hoặc thương hiệu riêng)
Là thương hiệu của từng chủng loại, hoặc từng tên hàng hóa, dịch vụ cụ thể. Với
thương hiệu cá biệt, mỗi loại hàng hóa lại mang một thương hiệu riêng và như thế một
doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nhiều loại hàng hóa khác nhau có thể có nhiều
thương hiệu khác nhau, ví dụ: MICA, Ông Thọ, Hồng Ngọc, Redialac "¦ Là những thương
hiệu cá biệt của công ty sữa Việt Nam (Vinamilk); Future, Dream II, Super Dream, Wave
là những thương hiệu cá biệt của công ty Honda, Mobi4U, Mobichat là những thương
hiệu cá biệt của Mobifone. Nhiều người cho rằng đây là nhãn hiệu hàng hóa. Đặc điểm
của loại thương hiệu này là thường mang những thông điệp về những hàng hóa cụ thể
(như tính năng nổi trội, tính ưu việt, những tiện ích đích thực ") và được thể hiện trên bao
bì hoặc chính là sự cá biệt của bao bì hàng hóa. Loại thương hiệu này cũng có cá tính
riêng biệt. luôn tạo cho người tiêu dùng một cơ hội lựa chọn cao ngay cả trong trường hợp
đó là những thương hiệu thuộc sở hữu của cùng một công ty (ví dụ, dầu gội Sunsilkm,
Clear, Dove, Lifebouy "¦ đều của Unilever nhưng đã tạo ra cơ hội lựa chọn rất cao cho
người tiêu dùng nhờ những thuộc tính khác biệt được định vị riêng cho từng tập khách
hàng ) .
16
Thương hiệu tập thể là những thương hiệu của một nhóm hay một số chủng loại hàng
hóa nào đó, có thể do một cơ sở sản xuất hoặc do các cơ sở khác nhau sản xuất và kinh
doanh (thường là trong cùng một khu vực địa lý, gắn với các yếu tố xuất xứ, địa lý nhất
định), ví dụ: nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà, vang Bordaux, nước mắm Phú
17
Quốc" Thương hiệu tập thể cũng có thể là thương hiệu chung cho hàng hóa của doanh
nghiệp khác nhau trong cùng một Hiệp Hội ngành hàng. Chẳng hạn, Vinacafe là thương
hiệu của nhóm cho các sản phẩm cà phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam. Sản phẩm cà
phê của doanh nghiệp thành viên đều mang chung thương hiệu Vinacafe. Với một công ty
cũng có thể hình thành thương hiệu nhóm là Panasonic (trứơc đây dùng để gán chủ yếu
cho các chủng loại hàng hóa xuất khẩu) và National (dùng cho các chủng loại hàng hóa
tiêu dùng nội địa " tuy nhiên, hiện nay thì không phải như vậy). Từ cuối năm 2003, Tập
đoàn Matsu*bleep*a đã không còn sử dụng thương hiệu National nữa mà chỉ sử dụng
thương hiệu Panasonic. Thương hiệu có đăc điểm khá giống thương hiệu gia đình vì có
tính khái quát và tính đại diện cao, nhưng điểm khác biệt rất cơ bản là thương hiệu tập thể
thường được gắn liền với các chủng loại hàng hóa của nhiều doanh nghiệp khác nhau
trong một liên kết kinh tế, kỹ thuật nào đó (cùng hiệp hội, cùng khu vực địa lý") và tính
đại diện được phát triển chủ yếu theo chiều sâu hơn là theo chiều rộng của phổ hàng hóa.
Sử dụng thương hiệu tập thể là một vấn đề phức tạp và có điều kiện (không phải
doanh nghiệp nào cũng có được tại Trung Quốc hoặc được sản xuất tại Hà Nội không
được mang thương hiệu Phú Quốc; một loại vang được sản xuất tại Việt Nam với nho
trồng tại Khánh Hòa không thể mang thương hiệu Bordaux). Khi sử dụng thương hiệu tập
thể sẽ vấp phải một vấn đề là mọi thành viên đều có thể sử dụng tên gọi xuất xứ và chỉ
dẫn địa lý để cầu thành thương hiệu cho hàng hóa của mình, không ai có quyền độc
chiếm về tên gọi xuất xứ hoặc chỉ dẫn địa lý. Và vì thể để đựơc bảo hộ, trong các yếu tố
thương hiệu, ngoài tên gọi xuất xứ hoặc chỉ dẫn địa lý hoặc thương hiệu chung của Hiệp
Hội còn cần có những dấu hiệu riêng của từng doanh nghiệp thành viên. Ví dụ, nước mắm
nhận thức mục tiêu mà công ty muốn khách hàng hiểu về thương hiệu (nhận diện thương
hiệu) thành nhận thức thực tế về thương hiệu trong tâm trí khách hàng (hình ảnh thương
hiệu) thông qua việc sử dụng văn từ và các biểu tượng.
Hệ thống nhận diện thương hiệu được bắt đầu bằng tên (Brand name) và Biểu
trưng (Logo) thương hiệu, nó được xây dựng dựa trên sự kết hợp của nhiều yếu tố mang
tính đồng bộ và nhất quán của thương hiệu, từ những ứng dụng cơ bản nhất trong kinh
doanh là tấm danh thiếp cho đến một website hay một chiến lược quảng cáo rầm rộ. Hệ
thống nhận diện thương hiệu làm tăng thêm nhận thức về thương hiệu, xây dựng tính ổn
định và vị thế của doanh nghiệp trên thương trường.
19
Hệ thống nhận diện thương hiệu mạnh phải có một ý tưởng cụ thể, khác biệt, dễ
nhớ, đáng tin cậy, uyển chuyển, linh động và phải thể hiện được một bản sắc văn hóa
riêng. Điều cần thiết để phát huy tính hiệu quả của một hệ thống nhận diện thương hiệu là
tính đại chúng.
Như vậy, hệ thống nhận diện của một thương hiệu là tất cả các loại hình và cách
thức mà thương hiệu có thể tiếp cận với Khách hàng như: Logo công ty, khẩu hiệu, danh
thiếp, phong bì, túi xách, bao bì, nhãn mác; biển, băng rôn quảng cáo; các mẫu quảng cáo
trên Media; các vật phẩm và ấn phẩm hỗ trợ quảng cáo (Tờ rơi, poster, catalog, dây cờ,
áo, mũ…); các phương tiện vận tải; bảng hiệu công ty; các loại ấn phẩm văn phòng; hệ
thống phân phối, chuỗi các cửa hàng và các hình thức PR, sự kiện khác…
Đơn giản hơn, hệ thống nhận diện thương hiệu chính là những gì người tiêu dùng
nhìn thấy, nghe thấy về thương hiệu ấy trong cuộc sống hàng ngày. Mục tiêu của hệ thống
nhận diện thương hiệu không chỉ là tạo sự nhận biết, sự khác biệt, thể hiện cá tính đặc thù
doanh nghiệp mà còn nhắm đến việc tác động đến nhận thức, tạo cảm giác về quy mô của
doanh nghiệp là lớn, tính chuyên nghiệp là cao của doanh nghiệp đối với khách hàng và
công chúng. Ngoài ra đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thì bổ sung trong bộ nhận
diện thương hiệu là cung cách phục vụ khách hàng, thái độ phục vụ khách hàng, quy trình
làm việc khoa học bài bản mang đậm bản sắc văn hoá của doanh nghiệp đó.
Cuối cùng là kiểm nghiệm, đo lường kết quả đã đạt được sau tiến trình xây dựng
sau đó rút ra những điểm hạn chế cần khắc phục để hoàn thiện và xây dựng nhận biết của
khách hàng ngày càng một sâu sắc hơn.
Hệ thống nhận diện của thương hiệu cần phải độc đáo, khác biệt và nổi bật so với
các thương hiệu khác. Hệ thống này cũng phải dễ nhớ đối với người tiêu dùng. Vì vậy, hệ
thống nhận diện thương hiệu cần phải đồng bộ thống nhất về hình thức màu sắc kiểu dáng
thông điệp truyền thông. Bên cạnh đó, phương tiện truyền tải phải đa dạng giúp khách
hàng nhận biết nhanh chóng và dễ dàng.
1.2.3. Vai trò của hệ thống nhận diện thương hiệu đối với sự phát triển của thương
-
hiệu
Người tiêu dùng dễ dàng nhận biết sản phẩm, công ty
Một hệ thống nhận diện thương hiệu không chỉ thể hiện cá tính đặc thù doanh nghiệp
mà còn tạo sự nhận biết, sự khác biệt tác động đến nhận thức của doanh nghiệp về công ty
hay một sản phẩm dịch vụ.
-
Xây dựng hình ảnh, uy tín trong mắt khách hàng đối tác
Thương hiệu là cảm nhận của khách hàng, cảm nhận thường bắt đầu bằng hình ảnh,
màu sắc, thông điệp. Cũng như con người, một bề ngoài lịch thiệp, ưu nhìn, một tác
phong chuyên nghiệp sẽ gây được ấn tượng mạnh mẻ, thu hút sự chú ý và tạo niềm tin
cho người đối diện. Bộ nhận diện thương hiệu cũng vây, trước khi dẫn đầu, thương hiệu
cần phải biết “làm đẹp”. Một bộ nhận diện mạnh sẽ tạo hình ảnh chuyên nghiệp, tạo cảm
21
giác về quy mô của doanh nghiệp là lớn, xây dựng sự tin tưởng của công ty trong mắt
tên,thiết kế logo, chọn màu chủ đạo và họa tiết đặc trưng cho doanh nghiệp đó. Muốn tìm
22
ý tưởng cho logo, cũng như cách chọn màu sao cho phù hợp ta cần phải dựa các thông tin
sau:
- Chức năng của doanh nghiệp đó là gì?
- Sản phẩm (chủ chốt) của doanh nghiệp đó như thế nào?
- Khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp? (đối tượng nào?)
- Giá trị sản phẩm của doanh nghiệp ở cấp độ nào?
Từ những thông tin này ta bắt tay vào việc chọn tên và thiết kế logo sao cho phù
hợp với những thông tin trên.
1.2.4.2.
Quy trình thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu
Quy trình xây dựng và Thiết kế bộ nhận diện thương hiệu thường được bắt đầu bằng
những nghiên cứu khách hàng về: Định vị thương hiệu, sản phẩm, khách hàng... từ đó có
thể giúp cho những ý tưởng sáng tạo được hình thành. Phần lớn thời gian của một quy
trình xây dựng và thiết kế bộ nhận diện thương hiệu dựa trên tầm cỡ, tính phức tạp cũng
như số lượng những hạng mục thiết kế của dự án. Để xây dựng thành công hệ thống nhận
diện thương hiệu, nên tiến hành theo trình tự 6 bước sau:
-
Bước 1: Nghiên cứu và Phân tích (Research & Analysis)
Những Dự án xây dựng và thiết kế hệ thống nhận dạng thương hiệu dù lớn hay nhỏ
luôn cần sự phối hợp nghiên cứu và phân tích giữa nhà thiết kế và khách hàng, đây là
cách tốt nhất cho những những định hướng sáng tạo mang tính khác biệt rõ ràng với
những thương hiệu khác. Về phía khác hàng, chủ doanh nghiệp phải bắt buộc tham gia
Bước 3: Thiết kế (Design)
Đây là giai đoạn đã quyết định ý tưởng và định hướng chính của dự án nhằm bước
vào triển khai các thiết kế cơ bản. Những thiết kế cơ bản hoàn tất sẽ được thuyết trình với
khách hàng và sẽ được điều chỉnh để chọn ra mẫu thích hợp nhất. Mẫu được chọn là xuất
phát điểm cho việc triển khai toàn bộ những hạng mục thiết kế nhận diện thương hiệu của
dự án.
-
Bước 4: Bảo hộ (Trademark protection)
24