Cải cách thủ tục hành chính qua thực tiễn của thủ đô hà nội - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM XUÂN SƠN

C¶I C¸CH THñ TôC HµNH CHÝNH QUA
THùC TIÔN
CñA THñ §¤ Hµ NéI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. PHẠM HỒNG THÁI


HÀ NỘI - 2013

2


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Trong quá trình thực hiện Luận văn, tôi đã được sự quan tâm
hướng dẫn tận tình, chi tiết của GS.TS. Phạm Hồng Thái. Luận văn
được hoàn thành theo đúng quy trình, quy định và hướng dẫn về
nghiên cứu khoa học.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán đầy đủ

1.2.2. Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.............................................................22
1.3.

MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN CẢI CÁCH
TTHC VÀ CÁCH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CẢI CÁCH TTHC....................23

1.4.

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC VỀ CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH.......................26

Chương 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA
THỦ ĐÔ HÀ NỘI.......................................................................................38
2.1.

THỰC TRẠNG XÂY DỰNG THỂ CHẾ VÀ KẾ HOẠCH CẢI CÁCH
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI....................................38

2.1.1. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch......................................................38
2.1.2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cải cách thủ tục
hành chính....................................................................................................41
2.2.

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI.....................................................42


2.2.1. Tuyên truyền, phổ biến về cải cách thủ tục hành chính.................................42
2.2.2. Bố trí các nguồn lực, ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông
tin phục vụ công tác cải cách TTHC.............................................................45

2.5.2. Những mặt còn hạn chế, tồn tại....................................................................86
2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại......................................................87
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN CẢI CÁCH
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI................................90
3.1.

BỐI CẢNH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU TỚI CÔNG


TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI..............90

6


3.2.

MỤC TIÊU...................................................................................................92

3.3.

CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI...............................................................................93

3.3.1. Về tổ chức thực hiện.....................................................................................93
3.3.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức...........................................96
3.3.3. Tiếp tục hoàn thiện thể chế tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho cải
cách thủ tục hành chính................................................................................98
3.3.4. Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa công sở đảm bảo
và nâng cao điều kiện thực hiện cải cách thủ tục hành chính........................99
3.3.5. Nâng cao chất lượng thông tin, cải thiện quan hệ giữa cá nhân, tổ chức

TP:
TTHC:
UBND:
UNDP:
WB :
WTO:
XDCB :
XHCN:

Ban chỉ đạo
Bộ máy hành chính
Cải cách hành chính
Cải cách thủ tục hành chính
Công nghiệp hóa -Hiện đại hóa
Công nghệ thông tin
Cơ quan hành chính
Cơ quan thuế
Hội đồng nhân dân
Hồ sơ hành chính
Người nộp thuế
Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp
tỉnh Việt Nam
Bộ chỉ số theo dõi đánh giá CCHC
Quyền sử dụng
Quyền sử dụng đất
Quyền sở hữu nhà
Bộ chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người
dân và tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan
hành chính
Thành phố

quả rất đáng khích lệ. Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quan trọng
của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước. Việt Nam đã trở thành
nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu trên thế giới, công nghiệp và dịch vụ phát
triển, đầu tư nước ngoài xu hướng chung là tăng, nhiều vấn đề xã hội đang được
quan tâm giải quyết... Tuy nhiên, Ở Việt Nam đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế xã hội đã tồn tại từ lâu và mới nảy sinh cần phải được giải quyết tích cực và có
hiệu quả. Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầu hoá đang đặt ra trước Việt Nam những

1


thách thức và cơ hội mới đòi hỏi phải có những cố gắng cao độ. Điều đó cũng có
nghĩa là quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần
được tiếp tục giải quyết. Cái khó trong cải cách hành chính ở Việt Nam là phải
tiến hành một cuộc cải cách hành chính có tính chất cách mạng từ quản lý lập
trung quan liêu, bao cấp sang quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường và mở
rộng dân chủ. Điều này là chưa từng có tiền lệ.
Ở trong nước, sự kiện công bố bộ TTHC 4 cấp chính quyền thuộc đề án cải
cách, đơn giản hoá tục hành chính (Đề án 30) là một trong 10 sự kiện nổi bật Việt
Nam 2009, các ngành các cấp đã khẩn trương thực hiện việc đơn giản hoá thủ tục
theo hướng dẫn của Tổ công tác chuyên trách Thủ tướng Chính phủ[34].
Lịch sử đã chỉ ra rằng bất kỳ một cuộc cải cách nào cũng đều có mục tiêu,
mục đích xã hội của nó. Mục tiêu cải cách hành chính ở Việt Nam là: xây dựng một
nền hành chính trong sạch, vững mạnh, tiết kiệm, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân
ngày một tốt hơn.
Cải cách hành chính ở Việt nam được tiến hành nhiều năm nay với những
bước đi, lộ trình khác nhau từ thấp tới cao. Bắt đầu là việc cải cách một bước thủ
tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đến cải
cách nền hành chính nhà nước với 03 nội dung là: cải cách thể chế hành chính[14];
cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. cải
cách hành chính đã chuyển sang một bước mới với 04 nội dung: cải cách thể chế

dân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành
chính, là người đánh giá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước,
bộ máy hành chính.
Tất cả những mục tiêu của cải cách hành chính cũng là nhằm góp phần xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với bản chất của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân.
- Thành phố: Hà Nội tụt hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cạnh tranh cấp tỉnh
(PCI) trong đó đặt ra cấp bách gắn kết quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính với
phát triển dịch vụ công[9]. Hiện tổng số thủ tục hành chính ở cả 3 cấp chính quyền
của Thành phố là 2379 thủ tục hành chính[27].
Cơ quan kiểm soát TTHC có trách nhiệm rà soát, đình chỉ các thủ tục bất
hợp pháp; sửa đổi, bổ sung các thủ tục còn thiếu hoặc bất hợp lý; Trước khi có

3


Tổ công tác 30 (Tổ công tác của Thủ tướng về cải cách thủ tục hành chính),
những ví dụ về tình trạng các thủ tục hành chính rườm rà và thói cửa quyền,
nhũng nhiễu, "bệnh hành dân" trong cơ quan công quyền thì nhiều vô kể, có thể
tìm thấy ở bất kỳ nơi nào[21]. Một số nguyên nhân cơ bản sau:
Một là, có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành các thủ tục hành
chính. Cho đến trước thời điểm triển khai Đề án 30 (2008), chưa có cơ quan, tổ
chức nào thống kê xem ở Việt Nam, những cơ quan nào được ban hành thủ tục hành
chính. Các thủ tục hành chính chồng chéo, mâu thuẫn... không có cơ chế để lựa
chọn áp dụng thủ tục nào (việc cấp bìa đỏ, giấy hồng, giấy xanh vừa qua là một ví
dụ điển hình).
Sự tuỳ tiện trong việc ban hành thủ tục hành chính đã dẫn đến tình trạng
không thể kiểm soát nổi. Không ai có thể thống kê được hiện nay ở nước ta đang
tồn tại những thủ tục hành chính nào.
Hai là, các thủ tục hành chính thường xuất phát từ nhu cầu quản lý của cơ

- Thủ tục hành chính phải đặt quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức khác lên
trên quyền lợi của cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục hành chính, lấy phục vụ
nhân dân làm thước đo.
- Các thủ tục hành chính phải liệt kê rõ ràng các loại giấy tờ, tài liệu mà
đương sự cần phải có khi làm thủ tục. Ngoài các loại giấy tờ đã liệt kê, cơ quan
có thẩm quyền không được yêu cầu đương sự nộp thêm bất kỳ loại giấy tờ tài
liệu nào khác.
- Thủ tục hành chính phải quy định rõ ràng và cố định thời gian tiến hành thủ
tục hành chính (theo hướng càng rút ngắn càng tốt). Trường hợp vượt quá thời gian
không có lý do chính đáng thì người có lỗi phải chịu trách nhiệm kỷ luật, xử phạt
hành chính. Nếu gây thiệt hại vật chất phải bồi thường.
- Khi người dân đến yêu cầu làm thủ tục hành chính, cơ quan hành chính
phải tiếp nhận và trong mọi trường hợp bắt buộc phải trả lời bằng văn bản (phiếu
tiếp dân) với các nội dung sau: Có thuộc thẩm quyền hay không, kể cả không thuộc
thẩm quyền vẫn phải ghi rõ trong văn bản (phiếu tiếp dân); Nếu thuộc thẩm quyền
phải ghi rõ đã đủ giấy tờ tài liệu theo yêu cầu hay chưa? Nếu thiếu thì thiếu loại gì?
Lệ phí và nơi nộp lệ phí; Ghi rõ thời gian thụ lý, thời gian trả hồ sơ; Phiếu tiếp dân
là tài liệu quan trọng, là căn cứ pháp lý để người dân thực hiện quyền khiếu nại, tố
cáo hay khởi kiện cơ quan (người) có thẩm quyền ra Toà án hành chính.

5


Đã đến lúc không thể cứ tiếp tục tiêu tốn hàng đống tiền bạc của Nhà nước (mà
thực chất là của nhân dân) cho việc cải cách hành chính để rồi kết quả là thủ tục hành
chính vẫn "chậm như rùa". Các nhà đầu tư nản lòng, nhân dân mất lòng tin vào Đảng
và Nhà nước và điều quan trọng hơn là chúng ta để tuột mất cơ hội phát triển.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chọn đề tài “Cải cách thủ tục hành chính qua
thực tiễn của Thủ đô Hà Nội” để nghiên cứu là đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu

năm 2008 và đầu năm 2009. Cuốn sách cũng có sự tham gia của hơn 100 người
được phỏng vấn là những chuyên gia trong lĩnh vực hành chính công ở Việt Nam và
đang phục vụ hoặc đã từng phục vụ trong các tổ chức chính trị, nhà nước, các tổ
chức xã hội, các viện nghiên cứu ở Việt Nam. Cuốn sách có thể thu hút sự quan tâm
đặc biệt của các nhà hoạch định chính sách Việt Nam, các trường đại học, các nhà
nghiên cứu thực tiễn và các đối tác phát triển trực tiếp tham gia vào các nỗ lực cải
cách hành chính công ở Việt Nam[1].
2. Nguyễn Văn Thâm (Chủ biên), Thủ tục hành chính; Lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002.
Cuốn sách nghiên cứu khá công phu về thủ tục hành chính đi từ khái niệm, phân
loại, ý nghĩa, đặc điểm đến thực tiễn việc cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam và có
đi phân tích cải cách thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực. Đây là cuốn sách cung cấp
nhiều tài liệu, luận cứ rất tốt để là cơ sở nghiên cứu đối với Luận văn [26].
3. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa, (đồng chủ biên) Đổi mới cung ứng dịch
vụ công ở Việt Nam, Nxb Thống kê 2006.
Cuốn sách đã nêu đầy đủ về khái niệm dịch vụ công, đánh giá được sự cung
cứng dịch vụ công (có cả phần về thủ tục hành chính), và các giải pháp đẩy mạnh xã
hội hóa cung ứng các dịch vụ công ở Việt Nam. Đặc biệt cuốn sách có nêu các giải
pháp đơn giản hóa các TTHC thành lập các đơn vị cung ứng dịch vụ công [2].
Bên cạnh những tài liệu trên, còn có các tài liệu quan trọng khác như:
- Báo cáo cải cách hành chính TP Hà Nội - Sở Nội vụ các năm 2001 cho
đến nay [3];
- Các báo cáo của Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của
Thủ tướng Chính phủ [6];
- Bao cáo tổng hợp: Mô hình chức hoạt động của Nhà nước pháp quyền

7


XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta trong thời kỳ CNH-HĐH

8


5. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ hạn chế của một luận văn thạc sỹ, đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về lý luận và thực tiễn cải cách thủ tục hành
chính; bộ thủ tục hành chính nghiên cứu thuộc thẩm quyền quản lý của UBND
Thành phố Hà Nội chủ yếu cấp Thành phố. Từ đó có sự đánh giá về thực trạng và
một số giải pháp tiếp tục cải cách hành chính hiện nay và những năm tiếp theo.
Về thời gian Luận văn tập trung đánh giá cải cách TTHC Thành phố Hà Nội
giai đoạn 2001 đến nay.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận văn đã
quán triệt sâu sắc phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối chính sách của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam của dân, do dân, vì dân trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường.
Luận văn có sử dụng các phương pháp cụ thể nghiên cứu tài liệu kết hợp với phân
tích, so sánh, tổng hợp, lịch sử cụ thể…
- Ngoài ra, tác giả sẽ áp dụng một số phương pháp bổ sung khác như hội thảo
chuyên gia, tổng hợp và phân tích.
7. Điểm mới và ý nghĩa của luận văn
7.1. Điểm mới của luận văn
- Nhìn nhận cải cách thủ tục hành chính của Thủ đô Hà Nội một cách tổng
quan và khách quan trong mối liên hệ với các công tác chỉ đạo xây dựng và phát
triển Thủ đô.
- Nêu lên vai trò, tác dụng của cải cách thủ tục hành chính cả về mặt nhận
thức và chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức.
- Đề xuất một số giải pháp áp dụng trong công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm
soát thủ tục hành chính.
7.2. Ý nghĩa lý luận

vậy, hoạt động quản lý nhà nước nào cũng đều được tiến hành theo những thủ tục
nhất định. Mỗi hoạt động quản lý theo cách nói thông thường (ví dụ, hoạt động ban
hành văn bản quy phạm pháp luật, hoạt động cấp giấy phép, hoạt động xử phạt vi
phạm hành chính…) thực chất là chuỗi những hoạt động diễn ra theo trình tự nhất
định mà mỗi hoạt động cụ thể trong đó có thể được thực hiện bởi những chủ thể
khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, với nội dung và nhằm những mục đích
khác nhau. Kết quả của hoạt động quản lý phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phụ
thuộc một phần đáng kể vào số lượng, thứ tự các hoạt động cụ thể, mục đích, nội
dung, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong một chuỗi hoạt động quản lý.
Thủ tục đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành bộ máy nhà nước cũng như
bảo đảm quyền và lợi ích của người dân. Chính vì vậy, thủ tục tiến hành các hoạt
động quản lý nhà nước được quan tâm cả dưới góc độ nghiên cứu khoa học, xây
dựng pháp luật và thực hiện thủ tục trên thực tế. Bản thân thủ tục không có mục
đích tự thân, thủ tục chỉ biểu hiện cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của
nhà nước. Vì vậy, thủ tục bị quy định bởi chính các hoạt động quản lý. Nói cách
khác, các hoạt động quản lý khác nhau cần có các thủ tục khác nhau để tiến hành.
Tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp là
ba nhóm thủ tục: thủ tục lập pháp, thủ tục hành chính, thủ tục tư pháp.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về TTHC như: TTHC là trình tự mà các
cơ quan quản lý nhà nước giải quyết trong lĩnh vực trách nhiệm hành chính và xử lý
vi phạm hành chính; hay TTHC là trình tự giải quyết bất kỳ nhiệm vụ cá biệt, cụ thể

11


nào trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước; hay TTHC là trình tự và thời gian
và không gian cần phải có để thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan quản
lý hành chính nhà nước...
Theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 20012010 thì khái niệm TTHC có nội dung rất rộng bao gồm toàn bộ các hoạt động cụ

cách thức thực hiện các hoạt động hành chính của các cơ quan nhà nước, người có
thẩm quyền trong cơ quan đó, nhưng chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước.
1.1.2. Phân loại và đặc điểm các thủ tục hành chính
1.1.2.1. Phân loại thủ tục hành chính
Theo tác giả GS.TS. Nguyễn Văn Thâm thủ tục hành chính có thể phân loại
theo đối tượng quản lý hành chính, theo công việc cụ thể, theo chức năng cung ứng
dịch vụ, và phân loại theo quan hệ công tác[26].
a) Phân loại theo đối tượng quản lý hành chính nhà nước.
Theo cách phân loại này, các thủ tục hành chính được xác định cho từng lĩnh
vực quản lý nhà nước và được phân chia theo cơ cấu chức năng của bộ máy quản lý
hiện hành. Thí dụ: Thủ tục trong xây dựng cơ bản, thủ tục đăng ký kinh doanh, thủ
tục hải quan...
b) Phân loại theo công việc cụ thể của cơ quan Nhà nước.
Theo cách phân loại này, thủ tục hành chính có thể phân ra: Thủ tục thông
qua và ban hành văn bản trong các cơ quan; thủ tục xét duyệt và quyết định về thi
đua khen thưởng; thủ tục tuyển dụng cán bộ công chức, thủ tục chuyển ngạch... Mỗi
loại hình thủ tục hành chính trên lại có thể phân chia thành các loại thủ tục liên quan
đến những hoạt động cụ thể hơn. Chẳng hạn thủ tục ban hành văn bản có thể phân
thành: Các Thủ tục ban hành văn bản pháp luật, quyết định chủ đạo, quyết định quy
phạm, quyết định cá biệt.
c) Phân loại theo chức năng cung cấp các dịch vụ công trong quản lý
Nhà nước.
Cách phân loại này giúp các nhà quản lý khi giải quyết công việc chung có
liên quan đến tổ chức hoặc công dân, tìm được các hình thức giải quyết thích hợp
theo đúng chức năng quản lý nhà nước của cơ quan.
d) Phân loại dựa trên quan hệ công tác.
Theo cách phân loại này, có thể chia thủ tục hành chính thành 3 nhóm: thủ
tục nội bộ, thủ tục liên hệ và thủ tục văn thư.

14

hành chính liên thông dọc và thủ tục hành chính liên thông ngang. Liên thông dọc là

15


liên thông qua nhiều cấp hành chính. Liên thông ngang là liên thông trong 1 cấp
hành chính ví dụ như một số thủ tục có liên quan đến trách nhiệm giải quyết của
nhiều Phòng trong một UBND cấp quận.
1.1.2.2. Đặc điểm thủ tục hành chính
Mặc dù có nhiều thủ tục hành chính khác nhau nhưng do tính thống nhất
của quản lý hành chính nhà nước nên các thủ tục hành chính có một số đặc
điểm chung sau đây:
Thứ nhất, thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện các hoạt động quản lý
nhà nước hay thủ tục hành chính được thực hiện bởi các chủ thể quản lý hành
chính nhà nước.
Các hoạt động quản lý diễn ra trong lĩnh vực nào được thực hiện theo thủ tục
pháp luật quy định trong lĩnh vực đó. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực hành pháp
(quản lý hành chính nhà nước) được thực hiện theo thủ tục hành chính. Quản lý
hành chính nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội,
cá nhân được nhà nước trao quyền, trong đó quan trọng nhất phải kể đến các cơ
quan hành chính, các cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan này. Vì cơ quan
hành chính có chức năng quản lý hành chính nhà nước nên các chủ thể trong hệ
thống cơ quan đó không chỉ thực hiện phần lớn các thủ tục hành chính mà còn thực
hiện những thủ tục liên quan đến các hoạt động quản lý hành chính quan trọng nhất.
Ngoài cơ quan hành chính, các cơ quan nhà nước khác cũng tiến hành các thủ tục
hành chính khi thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước như khi các cơ
quan đó xây dựng, củng cố chế độ công tác nội bộ; các cơ quan, tổ chức, cá nhân
thực hiện thủ tục hành chính khi tiến hành các hoạt động quản lý hành chính được
Nhà nước trao quyền trong những trường hợp cụ thể do pháp luật quy định.
Thứ hai, thủ tục hành chính do quy phạm pháp luật hành chính quy định.

linh hoạt mới có thể tạo nên quy trình hợp lý cho từng hoạt động quản lý cụ thể. Do
vậy, không thể có một thủ tục hành chính duy nhất cho toàn bộ hoạt động quản lý
hành chính nhà nước mà có rất nhiều thủ tục hành chính. Thậm chí để giải quyết
một loại công việc nhất định cũng có thể cần các thủ tục hành chính khác nhau. Ví
dụ, pháp luật quy định hai thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là thủ tục đơn giản và
thủ tục có lập biên bản. Việc định ra hai thủ tục để xử phạt vi phạm hành chính vừa
đơn giản, thuận tiện cho người xử phạt và người bị xử phạt trong trường hợp có thể,

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status