Tiểu luận Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của người Khmer Tây Nam bộ trong bối cảnh hiện nay - Pdf 61

1

PHẦN MỞ ĐẦU
Dân tộc Khmer ở Việt Nam có khoảng 1,3 triệu người, nhưng sinh sống tập
trung nhiều ở khu vực Tây Nam bộ, là cộng đồng dân tộc có dân số đông thứ hai ở
khu vực Tây Nam bộ (sau người Kinh). Người Khmer Tây Nam bộ đã sớm xây
dựng cho mình một nền văn hóa khá đa dạng, khác biệt với các cộng đồng dân tộc
khác. Những giá trị văn hóa do người Khmer Tây Nam bộ sáng tạo ra trong quá
trình lịch sử bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể.
Trong suốt quá trình phát triển, nền văn hóa Khmer đã giao hòa, gắn kết với
các nền văn hóa khác, góp phần hình thành nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa
dạng và đậm đà bản sắc dân tộc. Những giá trị văn hóa của người Khmer ở Tây
Nam bộ được thể hiện trên nhiều phương diện, cả vật chất lẫn tinh thần. Và trong
bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa Khmer đã có những thay đổi nhất định bởi những
mối liên kết và trao đổi giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở nhiều góc
độ. Chính quá trình toàn cầu hoá giúp người Khmer hiểu hơn và tiếp cận dễ dàng
hơn với các nền văn hóa, văn minh khác nhau nhưng đồng thời cũng đối mặt với
những thách thức không nhỏ từ việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân
tộc mình.
Vì vậy, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ
trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế hiện nay là vấn đề hết sức cấp thiết. Với
tầm quan trọng nêu trên, em đã chọn nội dung “Bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa phi vật thể của người Khmer Tây Nam bộ trong bối cảnh hiện nay” để
viết bài thu hoạch của mình.


2

PHẦN NỘI DUNG
1. Các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam
1.1. Khái niệm

tộc, được phản ánh trong các di sản, tài sản văn hóa vật thể, phi vật thể, được cộng
đồng lựa chọn, thừa nhận và khao khát hưórng tới, thông qua sự trải nghiệm lịch sử.
Khái niệm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa
- Theo Từ điển Tiếng Việt, “bảo tồn” được hiểu là giữ lại không để cho mất
đi, “phát huy” là làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ
ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc theo nghĩa chung nhất, được hiểu là
những nỗ lực của cá nhân và cộng đồng nhằm lưu giữ và kế thừa những gì được
xem là các giá trị của dân tộc (giá trị văn hóa dân tộc). Những giá trị văn hóa được
bảo tồn và phát huy là các giá trị đã và đang còn tiếp tục tạo nên năng lực nội sinh,
là động lực cho sự phát triển văn hóa - xã hội hiện tại và tương lai của cá nhân và
cộng đồng.
- Phát huy các giá trị văn hóa dân tộc được nhận thức là trên cơ sở sàng lọc,
duy trì và làm phong phú thêm những nét đẹp văn hóa vốn có. Phát huy giá trị văn
hóa là những hành động hướng đích nhằm đưa các giá trị văn hóa vào trong thực
tiễn xã hội, trở thành tiềm năng và nội lực góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tể xã hội, mang lại những lợi ích cả về phương diện vật chất và tinh thần cho cá nhân
và cộng đồng dân tộc. Hay nói cách khác, phát huy giá trị văn hóa là những hoạt
động hướng đích nhằm đưa giá trị văn hóa vào trong thực tiễn xã hội với tư cách
vừa là môi trường, vừa là năng lực nội sinh góp phần thúc đẩy phát triển bền vững
xã hội.


4
1.2. Các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam
Các giá trị văn hóa của một dân tộc được hình thành và phát triển liên quan
đến chủ thể sáng tạo văn hóa, cũng như không gian và thời gian văn hóa.
- Về chủ thể sáng tạo văn hóa dân tộc:Văn hóa Việt Nam được sáng tạo bởi
54 dân tộc anh em. Trong đó, người Kinh là chủ thể văn hóa đại diện.
- Về không gian văn hóa: Có hai không gian văn hóa chi phối quá trình hình
thành và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam. Thứ nhất, là

Nam”, đó là: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết,
ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái,
khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự
tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”.
Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã bổ sung và tiếp
tục nhấn mạnh các đặc trưng văn hóa: dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; các
đặc tính cơ bản của con người mới: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn
kết, cần cù, sáng tạo...
2. Bối cảnh bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc hiện nay
2.1. Các yếu tố tác động
- Yếu tố bên ngoài: Các yếu tố đã và đang tác động đến văn hóa dân tộc, như:
toàn cầu hóa văn hóa, sự phát triển của truyền thông toàn cầu và giao lưu quốc tế
về văn hóa... Sự tác động của các yếu tố này đang đưa đến cả cơ hội và thách thức
đối với sự phát triển văn hóa các dân tộc.
Về mặt tích cực, truyền thông góp phần nâng cao trình độ hiểu biết mọi mặt
của tri thức nhân loại, dân tộc, hình thành lối sống tích cực và khẳng định những
giá trị, chuẩn mực; giáo dục lối sống lành mạnh, trách nhiệm của các thành viên
trong xã hội. Đặc biệt, truyền thông toàn cầu đang góp phần giáo dục, bảo vệ,


6
quảng bá những giá trị văn hóa dân tộc; thúc đẩy tiếp thu tinh hoa văn hóa bên
ngoài. Sự phát triển của văn hóa truyền thông không chỉ bao hàm sự phát triển
công nghệ, mà còn là sự hội tụ của các giá trị về kinh tế, xã hội và văn hóa.
Về mặt tiêu cực, sự phát triển không đồng đều của truyền thông đại chúng đã
dẫn đến hiện tượng: một số quốc gia lợi dụng truyền thông để can thiệp vào các
vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa... vì quyền lợi của mình. Mặt khác,
truyền thông cũng đưa đến những thông tin bất lợi, phản giá trị, tiêu cực đối với
văn hóa các dân tộc. Đặc biệt là dòng chảy của các sản phẩm hàng hóa văn hóa đã

ảnh hưởng của chính trị, kinh tế và khoa học công nghệ. Sự thay đổi về chủ thể văn
hóa, bối cảnh không gian, thời gian văn hóa dân tộc, đã và đang thúc đẩy các xu
hướng biến đổi giá trị văn hóa Việt Nam.
Biến đổi giá trị văn hóa dân tộc đã và đang diễn ra theo các trường hợp: (1)
Một số giá trị truyền thống tiếp tục được bảo tồn (có thể có sự biến đổi nhất định
về nội dung); (2) Một số giá trị truyền thống đang suy thoái và có xu hướng mất
đi; (3) Một số phi giá trị có nguồn gốc nội sinh hoặc ngoại nhập nảy sinh và đang
hoành hành; (4) Một số giá trị mới đang hình thành và phát triển”
Nội dung biến đổi giá trị văn hóa dân tộc về mặt tích cực có thể nhận thấy
như sau: Văn hóa truyền thống Việt Nam mang đậm đặc trưng của văn hóa lúa
nước, nông dân, nông thôn, nông nghiệp, xóm làng. Đó là các giá trị coi trọng tính
cộng đồng, ưa hài hòa, linh hoạt; đề cao tình đoàn kết, hòa hiếu, bao dung, trọng
tình; dễ thích nghi, hướng đến ổn định.
Mặt khác các nghiên cứu cũng cho thấy, tình trạng suy thoái giá trị và phát
sinh các phi giá trị đang lan tràn. Biểu hiện rõ nhất, đó là niềm tin của người dân
vào nhiều lĩnh vực trong cuộc sống đang bị suy giảm nghiêm trọng. Đặc biệt là
niềm tin của người dân vào các lĩnh vực an toàn thực phẩm, giao thông, chất lượng


8
y tế, giáo dục... Sự biến đổi giá trị văn hóa dân tộc về mặt tiêu cực còn thể hiện ở
việc xuất hiện những tệ nạn xã hội ngày càng trầm trọng.
Trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải giải quyết mâu thuẫn
về hệ giá trị văn hóa dân tộc trong phát triển. Đó là sự đối lập gay gắt giữa hệ giá
trị văn hóa truyền thống nông nghiệp - nông thôn với yêu cầu phát triển hướng tới
xã hội công nghiệp - đô thị. Các giá trị văn hóa dân tộc cần được phát huy: lòng
yêu nước; tình đoàn kết, trọng thể diện, tính tập thể; nhân ái, bao dung, trọng nghĩa
tình, tính hiếu khách; tính thực tế, tính thích ứng nhanh...
2.2. Những vấn đề đặt ra trong bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân
tộc trong thời kỳ giao lưu, hội nhập quốc tế

Về ngôn ngữ. Người Khmer có ngôn ngữ riêng của mình, thể hiện ở cả tiếng
nói và chữ viết. Ngôn ngữ của người Khmer đã được hình thành từ lâu đời và được
hoàn thiện dần trong quá trình phát triển của lịch sử. Hiện nay, tiếng nói và chữ viết
của người Khmer vẫn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Về văn học, nghệ thuật. Người Khmer có kho tàng văn học dân gian rất
phong phú, đa dạng bao gồm các truyền thuyết, các loại truyện dân gian, tục ngữ,
dân ca... Có thể kể đến sân khấu Rô băm, Dù kê; múa Ram vong, Lâm lêv, Saravan;
các điệu hát dân gian như hát Aday, Chlay Yam, hát ru con; nhiều hình thức nhạc cổ
với các làn điệu Alê, Chôl Chhung, Khan Bram, Peak Brambei, Peak Brampil,
Sâmpông. Trong đó tiêu biểu nhất phải nói đến sân khấu Rô băm và hát Dù kê. Sân
khấu Rô băm là loại sân khấu cổ truyền của người Khmer đã từng được phổ biến
rộng khắp cả vùng Nam bộ và còn được lưu giữ đến ngày nay. Rô băm của người
Khmer Tây Nam bộ thực chất là loại kịch múa hay nghệ thuật múa sân khấu, còn
Dù kê là loại kịch hát. Dù kê của người Khmer là sự tổng hợp của sân khấu Rô băm
với hát Tiều, hát Quảng của người Hoa, hát Bội, hát Cải lương của người Kinh. Bên
cạnh đó, người Khmer có rất nhiều điệu múa. Thể loại múa của người Khmer gồm


10
múa cổ điển và múa dân gian, trong đó có 3 điệu múa dân gian được thực hành
nhiều trong các dịp lễ, tết và sinh hoạt cộng đồng là Ram vong, Lâm lêv, Saravan...
Thể loại ca, nhạc của người Khmer cũng rất phong phú, gồm có dòng nhạc Mahôri,
nhạc cưới, nhạc lễ, nhạc tang, các điệu ru, thể loại Aday đối đáp, thể loại Chà Pây
Chom Riêng...
Về phong tục, lễ hội. Người Khmer có hệ thống phong tục, lễ hội dân gian và
lễ hội Phật giáo vô cùng phong phú. Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội đã trở
thành một nhu cầu không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người
Khmer. Ngoài các ngày lễ lớn của dân tộc (như Tết Chôl Chnăm Thmây, lễ Đôn ta,
lễ Óoc om bóc) và những ngày lễ của Phật giáo (như lễ Phật đản, lễ Nhập hạ, lễ Xuất
hạ, lễ Dâng y, lễ An vị tượng Phật và lễ Kết giới), người Khmer Tây Nam bộ còn có

đồng đều được đưa ra bàn bạc và quyết định ở ngôi chùa. Người Khmer coi ngôi
chùa là ngôi nhà công cộng của nhân dân trong phum, sóc. Chùa Phật giáo Nam
tông Khmer còn là môi trường giáo dục của người Khmer.
3.2. Thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của
người Khmer Tây Nam bộ
- Thành tựu: Những năm qua, trong chiến lược xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng, Nhà nước ta đã rất quan tâm đến
công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số, trong đó có
bản sắc văn hóa của người Khmer. Chủ trương, chính sách bảo tồn, phát huy giá trị
văn hóa truyền thống của người Khmer đã được thể hiện trong nhiều văn bản của
Đảng, Nhà nước, tiêu biểu như: Chỉ thị 68-CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng; Chỉ thị 39/1998/CT-TTg ngày 03/12/1998 của Thủ tướng Chính
phủ; Chỉ thị 14/2003/CT-TTg ngày 05/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ...
Chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của người Khmer được chú ý trên cả hai phương diện: văn hóa vật thể
và văn hóa phi vật thể. Trên lĩnh vực văn hóa phi vật thể, công tác bảo tồn đã thu
được nhiều thành tựu đáng kể. Hiện đã có 9 tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu
Long triển khai dạy tiếng Khmer ở 374 trường, 2.970 lớp với 68.334 học sinh. Đáp


12
ứng nhu cầu của người Khmer, ở một số tỉnh có đông người Khmer sinh sống (Trà
Vinh, Sóc Trăng), hầu hết các chùa đều được đầu tư xây dựng các điểm nhóm dạy bổ
túc văn hóa song ngữ Kinh - Khmer, dạy chữ Khmer cho đồng bào do các sư sãi
Khmer đảm trách. Ngoài ra, thời lượng, số lượng và chất lượng các chương trình
phát thanh, truyền hình, báo chí sử dụng tiếng Khmer ngày càng được tăng cường.
Nhiều loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống của người Khmer tiếp tục
được khai thác, phát huy trong thực tế. Một số đoàn nghệ thuật Khmer được Nhà
nước quan tâm đầu tư hoạt động khá tốt, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa tốt đẹp trong văn học, nghệ thuật của người Khmer.

Khmer không có nghĩa là giữ nguyên vẹn những gì đã có trong nền văn hóa dân tộc
mà phải làm cho cái hợp lý, cái tiến bộ phù hợp với sự phát triển được thực hành và
quảng bá rộng rãi trong đời sống xã hội, đồng thời loại bỏ dần những cái lạc hậu,
hủ tục; từ đó tạo nên những nguồn lực thúc đẩy sự phát triển tiến bộ về mọi mặt
cho người Khmer.
Thứ hai, trong nội dung bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của
người Khmer, trước tiên cần bảo tồn tiếng nói, chữ viết. Bởi vì tiếng nói và chữ viết
là linh hồn của nền văn hóa. Để bảo tồn tiếng nói và chữ viết của người Khmer,
ngoài việc giảng dạy chữ Khmer trong chương trình phổ thông theo quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, cần tăng cường công tác tuyên truyền để người Khmer
thấy được vai trò to lớn của ngôn ngữ, chữ viết trong phát triển văn hóa, từ đó
khuyến khích họ học tiếng nói, chữ viết. Tăng thời lượng sử dụng tiếng nói và chữ
viết Khmer trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Thứ ba, để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong các lễ hội của người
Khmer, cần tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá giá trị văn hóa của các lễ
hội của người Khmer, mặt khác, giúp người Khmer tổ chức các lễ hội không quá
tốn kém về thời gian, tiền của, bị pha tạp, lai căng mà vẫn giữ được các giá trị văn
hóa truyền thống của dân tộc mình. Các địa phương cần kết hợp với các ban quản


14
trị chùa trong công tác tổ chức lễ hội, hướng dẫn họ thực hiện đúng chủ trương,
chính sách của Nhà nước, đảm bảo không làm xơ cứng lễ hội.
Thứ tư, gắn bảo tồn, phát triển văn hóa của người Khmer với phát triển kinh
tế - xã hội; đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa phát triển văn hóa và kinh tế; hài hòa
giữa bảo tồn, phát huy và phát triển.
Thứ năm, đào tạo nhân lực nòng cốt đối với công tác bảo tồn, phát huy văn
hoá của người Khmer. Theo đó, cần đề cao vai trò của các sư sãi, nghệ nhân, người
có uy tín trong cộng đồng để họ nhận thức và tham gia với vai trò then chốt trong
việc tự bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc mình, thông qua các hoạt động bồi




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status