BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
ĐẶNG ANH DŨNG
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
ĐẶNG ANH DŨNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN XUÂN THU
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................
MỤC LỤC ................................................................................................................
DANH MỤC VIẾT TẮT ...........................................................................................
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................
MỞ ĐẦU .................................................................................................................1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT ...9
1.1. Một số vấn đề lý luận về thu hồi đất........................................................... 9
1.1.1.
Khái niệm thu hồi đất ......................................................................... 9
1.1.2. Mục đích của thu hồi đất ...................................................................... 12
1.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến thu hồi đất .............................................. 14
1.2. Nội dung pháp luật hiện hành về thu hồi đất ở Việt Nam ....................... 19
1.2.1. Các trường hợp thu hồi đất ................................................................... 19
1.2.2. Thẩm quyền thu hồi đất ........................................................................ 24
1.2.3. Trình tự, thủ tục thu hồi đất .................................................................. 26
1.2.4. Các trường hợp thu hồi đất theo quy định hiện nay............................... 31
1.2.5. Nguyên tắc thu hồi đất theo quy định hiện nay ...................................... 34
1.2.7. Thầm quyền thu hồi đất ........................................................................ 37
1.2.8. Trình tự, thủ tục thu hồi đất .................................................................. 38
1.2.9. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thu hồi đất ............................................ 40
Tiểu kết chương 1 ......................................................................................... 44
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG .................................... 45
2.1. Khái quát về quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng ............................ 45
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên tài nguyên thiên nhiên và môi trường của Quận Ngô
Quyền, thành phố Hải Phòng ......................................................................... 45
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Quận Ngô Quyền, thành phố
Hải Phòng ..................................................................................................... 46
BĐS
Bất động sản
2.
CNQSDĐ
Chứng nhận quyền sử dụng đất
3.
ĐĐT
Đất đô thị
4.
ĐKĐĐ
Đăng ký đất đai
5.
DN
Doanh nghiệp
6.
12. QLNN
Quản lý Nhà nước
13. QSDĐ
Quyền sử dụng đất
14. QLĐĐ
Quản lý đất đai
15. SDĐ
Sử dụng đất
16. TN & MT
Tài Nguyên và Môi Trường
17. UBND
Ủy Ban Nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất .............................................................. 49
Bảng 2.2. Biến động sử dụng đất đai giai đoạn 2003-2015 ............................................... 50
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về thu hồi đất trên địa bàn quận Ngô Quyền,
ninh, quốc phòng, để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định
của pháp luật. Trong đó quy định đổi amới về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư đảm bảo hài hòa lợi ích của người dân, Nhà nước và nhà đầu tư thông qua
các quy định về giá đất bồi thường, điều kiện được bồi thường về đất, bồi thường
chi phí đầu tư vào đất còn lại, bồi thường tài sản gắn liền với đất.
Liên quan đến hoạt động bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất là vấn đề phức tạp, vừa mang tính chính trị, kinh tế văn hóa – xã hội, vừa mang
tính thời sự cấp bách. Bên cạnh những thành công đạt được trong công tác thu hồi
1
đất ở các địa phương nói chung và ở quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nói
riêng, như theo báo cáo của UBND Quận Ngô Quyền: “Sau khi Luật đất đai năm
2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014, công tác xây dựng, thẩm định, phê
duyệt và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất để phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn quận đã đảm bảo công khai, dân chủ,
đúng trình tự, thủ tục theo quy định, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, tổ chức
và người dân có đất bị thu hồi” [31,tr.5]
Tuy nhiên, trong thời gian qua công tác thu hồi đất còn tồn tại nhiều vấn đề
gây bức xúc trong dư luận nhân dân, ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự; một số phần
tử cơ hội chính trị đã lợi dụng vấn đề khiếu kiện đất đai để kích động chống đối với
mục đích chính trị. Từ thực tế tại quận Ngô Quyền, thành phố hải phòng, tất cả các
loại dự án có sử dụng diện tích đất được phê duyệt Nhà nước đều đứng ra thu hồi và
bàn giao mặt bằng cho các dự án, cho nhà đầu tư. Đây là một phương thức dễ thực
hiện, vì thống nhất vào một mối, gắn trách nhiệm của chính quyền các cấp trong
việc thu hồi đất, nhà đầu tư đến nhận và thuê “đất sạch” tạo thuận lợi cho việc triển
khai các dự án của Nhà nước cũng như việc thu hút đầu tư. Nhiều nơi tại quận Ngô
Quyền, thành phố Hải phòng đã xảy ra tình trạng chính quyền thực hiện thu hồi đất
Tiêu biểu là các công trình khoa học nghiên cứu đã được công bố như sau:
- Lê Xuân Hồng, Thực hiện pháp luật về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi
đất, Luận văn Thạc sĩ luật học, năm 2006 tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nghiên cứu chủ yếu về mức đền bù, phương thức đền bù thiệt hại khi thu hồi đất.
- Nguyễn Vĩnh Diện, Pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi
đất, Luận văn Thạc sĩ Luật học, năm 2006 tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Luận văn tập trung nghiên cứu về bồi thường hỗ trợ, tái định cư sau khi thu hồi đất.
- Nguyễn Duy Thạch, Pháp luật về thu hồi đất (qua thực tiễn thi hành tại
thành phố Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ Luật học, năm 2007 Đại học Luật Hà Nội.
Luận văn tập trung nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật về thu hồi đất.
- Lê Thị Yến, Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất qua thực
tiễn áp dụng tại địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Luật
học tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011. Luận văn tập trung nghiên
cứu các về thu hồi đất qua khảo sát một số năm quản lý hành chính nhà nước tại
quận Tây Hồ.
3
- Hoàng Thị Thu Trang, Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia
đình, cá nhân và thực tiễn áp dụng tại Nghệ An; Luận văn Thạc sĩ Luật học, năm
2012, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn tập trung nghiên cứu các
chính sách và văn bản pháp luật liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân tại tỉnh Nghệ An là chủ yếu.
- Đỗ Phương Linh, Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư người có đất bị thu hồi
trong giải phóng mặt bằng - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện; Luận văn Thạc sĩ
Luật học, năm 2012. Luận văn tập trung nghiên cứu đánh giá những thành tựu và
hạn chế trong việc ban hành thể chế trước Luật Đất đai năm 2013 trở về trước, có
nghiên cứu so sánh kinh nghiệm quản lý của một số nước trên thế giới về hỗ trợ, tái
định cư người có đất bị thu hồi.
Tuyến, Tạp chí Luật học, số 12 - 2012; Bài viết “Bình luận các quy định về thu hồi
đất và bồi thường khi thu hồi đất trong Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi)” của TS.
Nguyễn Quang Tuyến, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12 - 2012;…
Nhìn chung, các công trình đã đi sâu nghiên cứu nhiều nhiều khía cạnh khác
nhau liên quan pháp luật về thu hồi đất trên phạm vi quốc gia hoặc một số địa
phương cụ thể chủ yếu tập trung bàn về vấn đề “hậu” thu hồi đất như bồi thường
thiệt hại, hỗ trợ tái định cư mà chưa đi sâu vào nghiên cứu căn cứ thu hồi đất, tính
minh bạch của trình tự thủ tục thu hồi đất...
Đề tài của tác giả sẽ tập trung nghiên cứu pháp luật về thu hồi đất vì mục
đích kinh tế nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và quy định pháp luật, những điểm
mới, tiến bộ của Luật đất đai 2013 so với Luật đất đai 2003 gắn với thực tiễn áp
dụng tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải phòng. Đề tài sẽ có giá trị về lý luận hoàn
thiện luật pháp lẫn ý nghĩa thực hiện pháp luật tại địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến pháp luật về thu hồi đất;
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về thu hồi
đất từ thực tiễn thu hồi đất tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng;
5
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất và nâng
cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thu hồi đất tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải
phòng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, luận văn có các nghiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu và xây dựng các khái niệm: thu hồi đất, căn cứ thu hồi đất,
nghiên cứu đặc điểm của thu hồi đất;
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn bao gồm:
- Phương pháp phân tích, luận giải, bình luận…được sử dụng trong Chương
1 khi nghiên cứu cơ sở lý luận về thu hồi đất.
- Phương pháp phân tích, đánh giá, diễn giải, so sánh, tổng hợp, quy nạp…
được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu pháp luật hiện hành về thu hồi đất,
thực tiễn áp dụng trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Phương pháp bình luận, tổng hợp…được sử dụng trong Chương 3 khi
nghiên cứu các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất và một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất nói chung và
trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nói riêng.
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1. Câu hỏi nghiên cứu
- Căn cứ, trình tự thủ tục thu hồi đất theo pháp luật hiện hành đã đáp ứng
được yêu cầu thực tiễn chưa?
- Thực tiễn thực hiện pháp luật thu hồi đất đã đảm bảo theo quy định của
pháp luật chưa? Có những vướng mắc gì trong thực tiễn áp dụng?
- Giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật về thu hồi đất?
6.2. Giả thuyết nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu luận văn đưa ra các giả thuyết nghiên cứu:
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thu hồi đất và đánh giá
những hạn chế làm cơ sở cho các giải pháp: Nếu pháp luật hiện hành về thu hồi đất
chưa phù hợp thực tiễn thì tác động xấu người bị thu hồi đất.
7
- Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thu hồi đất thông qua các trường
hợp điển hình; đưa ra những vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về thu
hồi đất: Nếu có các quy định pháp luật hoàn chỉnh về thu hồi đất nhưng thực tiễn
thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường,
thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”.
Theo giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Thu hồi đất
là văn bản hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một
quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích nhà nước, xã hội hoặc xử lý hành chính
hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất” [29, tr.20].
Như vậy, thu hồi đất là một trong những hoạt động quản lý nhà nước về đất
đai. Thu hồi đất gắn liền với lợi ích của Nhà nước, đồng thời liên quan trực tiếp tới
quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất nên pháp luật Việt Nam quy định
ngày càng cụ thể quyền năng của Nhà nước và quyền năng của các chủ thể sử dụng
đất trong việc thu hồi đất.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013, một trong những
điểm bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất là:
Khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật.
Nếu giao đất, cho thuê đất là những hình thức pháp lý làm hình thành một
quan hệ pháp luật đất đai, thì thu hồi đất biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ
pháp luật đất đai. Hình thức pháp lý này là một quyết định thu hồi đất của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê dất. Đây đồng thời cũng là biện pháp
9
thể hiện quyền lực nhà nước, trong tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về
đất đai. Vì vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm
đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội đồng thời lập lại trật tự, kỷ cương trong
quản lý nhà nước về đất đai [20,tr.7]. Mặc dù có những khác biệt nhất định trong
định nghĩa giữa Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai năm 2013, nhưng có một điểm
chung về bản chất của thu hồi đất dẫn đến hậu quả pháp lý là chấm dứt quyền sử
Thứ nhất, thu hồi đất là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền
nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng đất. Hình thức của thu hồi
đất là quyết định hành chính (chứ không phải hành vi hành chính hay công văn
khác). Quyết định này do người có thẩm quyền ký, ban hành mới có hiệu lực. Khi
quyết định có hiệu lực, làm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng đất.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân, người sử
dụng đất chỉ được thực hiện các quyền năng khi xác lập quyền sử dụng đất dựa trên
các cứ hợp pháp được Nhà nước công nhận. Các giao dịch về quyền sử dụng đất chỉ
có hiệu lực pháp lý sau khi có sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
thông qua việc chỉnh lý hồ sơ địa chính. Như vậy, việc được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, cụ thể hóa dưới
một văn bản hành chính đã làm phát sinh quyền của người sử dụng đất đối với một
thửa đất xác định. Đây là quan hệ sơ cấp, có tính chất nền tảng đối với các giao dịch
liên quan đến quyền sử dụng đất về sau (thị trường thứ cấp).
Với lập luận như trên, hành vi thu hồi đất, về bản chất là sự chấm dứt quan hệ
pháp luật đất đai giữa một bên là Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân và bên kia
là cá nhân, tổ chức sử dụng đất. Hành vi này đồng thời chấm dứt hiệu lực của các
quyết định hành chính giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đã được
cơ quan nhà nước ban hành từ trước cho người bị thu hồi. Tất cả các quyền, nghĩa
vụ phát sinh của chủ thể sử dụng đất đã được ghi nhận sau khi được giao đất, cho
thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất cũng chính thức chấm dứt kể từ thời điểm có
quyết định thu hồi đất [9].
Thứ hai, quyết định hành chính thể hiện quyền lực nhà nước nhằm thực thi nội
dung của quản lý nhà nước về đất đai. Nhà nước cho phép cơ quan có thẩm quyền
thu đồi đất dựa trên căn cứ luật định. Nhà nước thể hiện vai trò là chủ sở hữu và
thống nhất quản lý nhà nước đối với đất đai.
11
đối với đất đai, đảm bảo cho đất đai được sử dụng một cách hợp lý và tiết kiệm.
12
Thứ hai, thu hồi đất giúp cho việc ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi
phạm pháp luật đất đai như lấn chiếm đất, đất được giao không đúng thẩm quyền,
đất được sử dụng không đúng mục đích, người sử dụng đất không thực hiện các
nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Thứ ba, thu hồi đất góp phần vào việc giải phóng mặt bằng, phân phối lại
quỹ đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng, phục vụ phát triển kinh tế.
Tài nguyên đất đai của nước ta hiện có khoảng 33.096 nghìn ha, đứng thứ 59
trong hơn 200 nước trên thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam là một trong những quốc gia
có dân số đông cho nên có diện tích đất đai bình quân đầu người thấp trên thế giới
(khoảng 0,37 ha đất tự nhiên/người và 0,28 ha đất nông nghiệp/người). Trong tổng
diện tích tự nhiên của cả nước có 90,44% diện tích đã được khai thác đưa vào sử
dụng cho các mục đích, cụ thể về tình hình sử dụng đất theo số liệu thống kê đến
thời điểm ngày 01 tháng 01 năm 2015 như sau:
“Đất nông nghiệp: 26.226 nghìn ha (chiếm 79,24% tổng diện tích đất tự
nhiên của cả nước), trong đó diện tích đất trồng lúa là 4.120 nghìn ha; diện tích đất
nông nghiệp năm 2015 tăng 1.643 nghìn ha so với năm 2005.
Đất phi nông nghiệp: 3.705 nghìn ha (chiếm 11,20% tổng diện tích đất tự
nhiên của cả nước), trong đó diện tích đất ở là 684 nghìn ha (đất ở tại nông thôn là
550 nghìn ha; đất ở tại đô thị là 134 nghìn ha); đất sản xuất kinh doanh phi nông
nghiệp là 259 nghìn ha, đất có mục đích công cộng là 1.207 nghìn ha; diện tích đất
phi nông nghiệp năm 2015 tăng 448 nghìn ha so với năm 2005.
Đất chưa sử dụng: 3.164 nghìn ha (chiếm 9,56% tổng diện tích đất tự nhiên
của cả nước), trong đó chủ yếu là đất núi đá chưa sử dụng (2.632 nghìn ha); diện
tích đất chưa sử dụng giảm 2.116 nghìn ha so với năm 2005” [4,tr.3]
khó khăn nhất được ghi nhận trong thời gian qua. Công tác thu hồi đất kéo dài sẽ
dẫn tới thời gian triển khai dự án đầu tư bị ngưng trệ, phát sinh chi phí, giảm hiệu
quả đầu tư.
Qua thực tiễn thu hồi đất, tiến độ công tác thu hồi đất phụ thuộc vào yếu tố sau:
Thứ nhất, yếu tố chính sách thu hồi đất.
Công tác thu hồi đất đã đạt được kết quả nhất định để thực hiện hàng chục
dự án, phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn quận trong thời gian qua. Tuy nhiên,
14
công tác thu hồi đất trên địa bàn quận vẫn gặp nhiều vướng mắc, bất cập. Đây là
vấn đề thời sự, đòi hỏi sự quan tâm của cư dân quận. Theo đánh giá chung của các
cơ quan chức năng, một trong những nguyên nhân khiến khiếu kiện về đất đai
(chiếm 70% đơn thư khiếu nại), trở thành một vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện
nay là do những vướng mắc về công tác thu hồi đất, tập trung ở những vấn đề như:
nguồn gốc đất của các tổ chức, hộ dân chưa rõ ràng; giá bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất còn thấp, chưa sát với giá thị trường. Ngoài ra, liên quan trình tự, thủ tục
thu hồi đất vẫn còn tình trạng quy định không công khai, minh bạch và hay thay
đổi, bổ sung ở mức độ nào đó là sự tùy tiện của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
thu hồi, bồi thường thiệt hại. Trong đơn phản ánh của tổ dân phố Dự án HN đang
được ủy ban nhân dân quận giải quyết, cư dân địa phương không đồng ý chính sách
của chính quyền địa phương với việc thu hồi đất cho rằng, dù là đất được giao sử
dụng vào mục đích canh tác đất nông nghiệp, nhưng các hộ dân đã khai hoang phục
hóa và đầu tư số tiền lớn để trồng cây lâu năm, trại chăn nuôi… Vì vậy, nếu chỉ áp
mức bồi thường giá đền bù theo quy định là 108.000 đồng/m2 và 201.600 đồng/m2,
thì người dân thiệt thòi… Chính vì chưa có sự đồng thuận giữa Ban GPMB và các
hộ dân, nên đến nay vẫn còn nhiều hộ chưa thực hiện chính sách thu hồi đất. Những
vướng mắc trong công tác thu hồi đất nêu trên là thực tế đang xảy ra tại nhiều địa
phương. Trong đó phổ biến là tình trạng người dân được bồi thường đất thuộc diện
gọn cùng với sự cảm thông, tôn trọng lợi ích của người dân, thấu hiểu được tâm lý
và nguyện vọng của người dân khi thực thi công vụ của cán bộ, công chức sẽ đóng
vai trò rất quan trọng trong việc tạo dựng sự hợp tác của nhân dân trong vùng dự án
nhằm tránh các phản ứng tiêu cực lây lan gây bất lợi cho tiến độ thu hồi đất. Ý thức
tự giác của nhân dân ta khá cao trong chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà
nước vào mục đích quốc phòng, an ninh, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật như
đường giao thông, công trình thủy lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội như trường
học, bệnh viện, sân vận động, công viên, chợ,... Nhiều trường hợp người bị thu hồi
đất chịu thiệt thòi ít nhiều trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhưng vẫn vui lòng vì
mong muốn được đóng góp chung để xây dựng một xã hội văn minh hơn.
Vấn đề này trở nên nhạy cảm và phức tạp hơn khi Nhà nước thu hồi đất để
phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia nhằm xây dựng các khu công nghiệp, khu dịch
vụ, mặt bằng sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Quy luật giá trị bắt đầu tác
16
động vào tư tưởng của người có đất bị thu hồi rồi hình thành nên sự so sánh về thiệt
thòi của mình khi đất do mình đang sử dụng được giao cho người khác với khả
năng sinh lợi cao hơn nhiều. Từ đó đã nảy sinh nhiều khiếu kiện của dân về mức bồi
thường, hỗ trợ, đồng thời tạo nên tâm lý nặng nề đối với nhà đầu tư khi thực hiện
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giải phóng mặt bằng.
Khả năng xử lý những vướng mắc phát sinh của các cơ quan chức năng.
Thắc mắc của dân phần lớn tập trung ở kết quả đo đạc, nguồn gốc đất, hạn mức đất,
đơn giá đền bù hoặc hỗ trợ, một số vấn đề phức tạp về đất đai do quá khứ để lại và
về vị trí, chất lượng, giá cả nhà hoặc đất khu tái định cư... Trong bối cảnh đó, chỉ
cần một trường hợp xử lý sai do chưa am hiểu các quy định, thiếu trách nhiệm,
chậm giải quyết, vô cảm, thiên vị, tiêu cực hoặc nhượng bộ vô nguyên tắc dễ dẫn
đến phản ứng dây chuyền, có thể toàn bộ phương án bồi thường bị đổ vỡ phải làm
lại từ đầu.