1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyến Hải Đường
THỰC TRẠNG GIÁM ĐỊNH BỒI THƯỜNG NGHIỆP VỤ BH
TNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TẠI
BVHN
2.1. Giới thiệu chung về BVHN
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty BVHN
Công ty Bảo hiểm Hà Nội, gọi tắt là Bảo Việt Hà Nội (BVHN), tiền thân
được gọi là chi nhánh Bảo hiểm Thành phố Hà Nội, được thành lập theo
quyết định số: 1125/QĐ-TCCB ngày 14 tháng 11 năm 1980 của Bộ Trưởng
Bộ Tài Chính, là đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (BẢO
VIỆT).
Đến năm 1989 Chi nhánh Bảo hiểm TP Hà Nội được chuyển tên thành
Công ty Bảo hiểm Hà Nội ngày nay, theo Quyết định số: 27/TC-QĐ-TCCB
ngày 17/02/1989 của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính.
Từ năm 1992, do yêu cầu phát triển của cơ chế thị trường, BVHN đã chú
trọng quan tâm đến việc mở rộng kênh phân phối và mạng lưới cung cấp dịch
vụ đối với khách hàng, ngoài trụ sở chính đóng tại 15C - Trần Khánh Dư -
Q.Hoàn Kiếm – TP Hà Nội, công ty đã mở rộng Văn phòng giao dịch ở hầu
khắp các quận, huyện trên địa bàn Thành phố và đã thành lập 15 phòng bảo
hiểm khu vực.
Trải qua hơn 27 năm, BVHN đã không ngừng lớn mạnh cả về chiều rộng
lẫn chiều sâu. Từ lúc thành lập Chi nhánh chỉ có 7 người với một phòng nhỏ
làm trụ sở đến nay, BVHN đã có trụ sở khang trang với hơn 160 cán bộ và 14
văn phòng đại diện ở tất cả các quận, huyện, cùng mạng lưới đại lý, cộng tác
viên phủ kín các địa bàn dân cư trên địa bàn thành phố Hà Nội, sẵn sàng phục
vụ nhu cầu bảo hiểm đa dạng của các cá nhân và tổ chức kinh tế, các nhà đầu
tư cũng như mọi thành phần kinh tế khác. Doanh thu hàng năm từ chỗ 30 triệu
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyến Hải Đường
đồng đến nay đã đạt hơn 200 tỷ đống, trở thành một đơn vị chủ lực của Tổng
+ Phòng Giám định, bồi thường.
+ Nhóm Phòng phục vụ.
Hiện tại, cơ cấu các phòng ban của công ty gồm có 11 phòng trực thuộc
và 15 văn phòng chi nhánh ở các quận huyện. Trong 26 phòng trực thuộc sự
chỉ đạo và quản lý của công ty, có 5 phòng gián tiếp và 21 phòng trực tiếp
kinh doanh.
Cơ cấu tổ chức của công ty được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Hải Đường
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ bộ máy tổ chức BVHN
SV: Phạm Thị Liên Bảo hiểm 46A
Giám đốc
Phó Giám đốc Phó Giám đốcPhó Giám đốc
PTổng hợpPTài chính kế toánPHành chính Q.TrịPTin họcPMar-ketingP Q.LýĐại lýPGiám định btPPhi hàng hảiPHàng hải
P Hoàn KiếmPBaĐình P Đống Đa P Hai BTPCầuGiấyP GiaLâmP TTrì PSócSơnP Đông AnhP TâyHồ PLong BiênPT Xuân P Từ Liêm
5
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS.Nguyễn Hải Đường
2.1.3. Các loại sản phẩm bảo hiểm của công ty
Công ty tiến hành triển khai được trên 50 nghiệp vụ bảo hiểm thuộc hầu
hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế và đời sống xã hội khác nhau, đáp ứng nhu
cầu tham gia bảo hiểm của mọi thành phần kinh tế, tầng lớp dân cư và các nhà
đầu tư nước ngoài. Tất cả đều được công ty nghiên cứu đáp ứng bằng các hình
thức bảo hiểm thích hợp. Sản phẩm của BVHN được phân loại theo 3 nhóm bảo
hiểm chính là:
* Bảo hiểm Tài sản và Kỹ thuật. Bao gồm:
- Bảo hiểm Hàng hóa xuất-nhập khẩu và vận chuyển nội địa.
- Bảo hiểm Xây dựng, lắp đặt.
Công ty Bảo hiểm Việt Nam, Công ty BVHN không trực tiếp tiến hành các dịch
SV: Phạm Thị Liên
Bảo hiểm 46A
7
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS.Nguyễn Hải Đường
vụ đầu tư tài chính. Do vậy, kết quả hoạt động kinh doanh của BVHN sẽ không
bao gồm hoạt động đầu tư tài chính.
Kết quả doanh thu các nghiệp vụ của BVHN giai đoạn 2003-2007 được thể
hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.1: Doanh thu của BVHN giai đoạn 2003-2007
Năm
Doanh thu
2003 2004 2005 2006 2007
Doanh thu
(tỷ đồng)
131 165,7 178,92 201,42 238,6
Tốc độ tăng
trưởng ( % )
38,5 18,5 15 11,58 18,05
Nguồn: Báo cáo hàng năm của BVHN
Qua bảng số liệu ta thấy doanh thu của BVHN liên tục tăng qua các giai
đoạn. Từ năm 2003 cho đến năm 2007, doanh thu của BVHN tăng 107.6 tỷ
đồng ( từ 131 tỷ đến 238.6 tỷ đồng). Năm 2004, doanh thu của BVHN đạt tốc
độ tăng trưởng cao nhất là 18,5%. Doanh thu năm sau luôn hoàn thành vượt
mức kế hoạch và đạt tốc độ tăng trưởng cao so với năm trước.
Năm 2007, mặc dù thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt, BVHN đã nỗ
lực không ngừng và đạt được nhiều kết quả khả quan. Đến 31 tháng 12 năm
b.BH TNDS chủ xe ô tô đối với người thứ
ba
12,536 14,566 15,464 18,189 21,005
c.BH TNDS chủ xe mô tô đối với người
thứ ba
10,217 6,385 3,5 4,6 4,41
2.Bảo hiểm con người
39,219 50,134 57,198 64,135 62,881
3.BH hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt
38.870 49.710 38.785 12,503 12,472
SV: Phạm Thị Liên
Bảo hiểm 46A
9
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS.Nguyễn Hải Đường
4.BH xây dựng lắp đặt
7,105 7.916 19.253 28,36 22,102
5.BH thiết bị điện tử
4,127 3.217 3.906 2,364 4,157
6.BH trách nhiệm
1.412 3.371 4.582 7,41 8,245
7.BH hàng hải
5,210 7.541 8,450 16,062 37,213
Nguồn: Báo cáo hàng năm – BVHN
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy doanh thu đối với từng nhóm nghiệp vụ bảo
hiểm tăng dần qua các năm. Từ năm 2003 đến năm 2007, nhóm nghiệp vụ bảo
hiểm xe cơ giới chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất trong tổng doanh thu của
BVHN. Doanh thu nhóm nghiệp vụ này tương ứng qua các năm là: 52,850 tỷ
đồng; 53,126 tỷ đồng; 59,215 tỷ đồng; 59,824 tỷ đồng và 79,196 tỷ đồng. Sau
của những năm cũ để phát huy, đồng thời chỉ ra được những khó khăn cần khắc
phục và tiềm năng khai thác cần được đầu tư một cách hợp lý, từ đó công ty đã
đề ra được những biện pháp để đứng vững và tăng trưởng trong cạnh tranh. Kết
quả khai thác nghiệp vụ BH TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại
BVHN trong giai đoạn 2003-2007 vừa qua, toàn công ty đã đạt được những kết
quả nhất định.
Bảng 2.3: Kết quả khai thác nghiệp vụ BH TNDS của chủ xe cơ giới tại
BVHN giai đoạn 2003-2007
Năm
Ô tô Xe máy
Số xe
lưu hành
tại HN
(chiếc)
Số xe
tham
gia BH
(chiếc)
Tỷ lệ
tham
gia
(%)
Doanh
thu phí
(tỷ
đồng)
Số xe
lưu hành
tại HN
(chiếc)
tăng nhưng số xe máy tham gia lại giảm. Từ năm 2003 đến năm 2007, số ô tô
tham gia BH TNDS tăng từ 25.130 xe năm 2003 lên đến 37.924 xe năm 2007,
nâng mức tỷ lệ tham gia từ 17,33% đến 19,21%. Nhìn chung, trong vòng 5 năm
trở lại đây, tỷ lệ ô tô tham gia bảo hiểm dao động trong khoảng 20%. Nghiệp vụ
BH TNDS chủ xe ô tô đối với người thứ ba bị cạnh tranh mạnh bởi các công ty
bảo hiểm khác như Bảo Minh, Pjico, tuy vậy nhờ công tác giải quyết tai nạn
chính xác hợp lý nên BVHN vẫn khẳng định và không ngừng mở rộng thị phần
của mình. Doanh thu phí đối với ô tô do vậy cũng tăng dần qua các năm, từ
12,536 tỷ đồng (2003) đến 21,005 tỷ đồng (2007). Đặc biệt năm 2007 là năm có
lượng xe ô tô tham gia BH cao và có số doanh thu phí cao nhất trong 5 năm trở
lại đây. Năm vừa qua, BVHN đã bảo hiểm trên 37.900 chiếc xe ô tô, tăng 25%
so với năm 2006. Doanh thu phí bảo hiểm đạt 21 tỷ đồng, tăng trưởng 38,37%
(tăng 5,8 tỷ đồng). Có được kết quả tăng trưởng cao đối với khai thác BH
TNDS chủ xe ô tô là do công ty đã thực hiện đồng bộ các chính sách, các biện
pháp một cách hiệu quả nhằm giữ khách hàng và giành các dịch vụ bên ngoài:
- Ngay từ đầu năm, Công ty đã tập trung duy trì bảo hiểm ở các đầu mối
trọng điểm là các tổ chức, ban ngành, các doanh nghiệp có nhiều tiềm năng.
- Chất lượng dịch vụ của BVHN ngày càng được khẳng định trên thị
trường nên đã giành được dịch vụ từ một số công ty bảo hiểm khác.
- Đối với các Showroom, BVHN tiếp tục phối hợp cung cấp dịch vụ trọn
gói từ cấp bảo hiểm cho đến giám định, sửa chữa chính hãng cho các xe tham
gia bảo hiểm, do đó đã nâng cao được chất lượng phục vụ khách hàng.
SV: Phạm Thị Liên
Bảo hiểm 46A
12
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS.Nguyễn Hải Đường
Tuy lượng xe máy lưu hành trên địa bàn thành phố là rất cao nhưng kết quả
triển khai nghiệp vụ BH TNDS chủ xe mô tô tại BVHN lại thấp. Số xe máy
GVHD: TS.Nguyễn Hải Đường
liên quan và ý thức của người dân trong việc tham gia BH TNDS chủ xe mô tô
còn hạn chế. Đây cũng là tình trạng chung đối với tất cả các công ty bảo hiểm
triển khai nghiệp vụ này.
Tuy chưa đạt kết quả khai thác cao đối với nghiệp vụ BH TNDS chủ xe mô
tô nhưng xét về toàn bộ nghiệp vụ BH TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ
ba thì BVHN luôn đạt doanh thu cao so với các DNBH trên cùng địa bàn. Đó là
do công ty đã xác định được tiềm năng trên địa bàn trong lĩnh vực bảo hiểm xe
cơ giới với sức mua phương tiện không ngừng tăng của dân cư trong khu vực
nên đã tập trung chỉ đạo các phòng bảo hiểm khu vực khai thác nghiệp vụ này.
Đồng thời, công ty cũng đã duy trì và tăng cường mối quan hệ chặt chẽ với các
tổ chức như Cục thuế, Cục đăng kiểm, đặc biệt là việc triển khai bảo hiểm qua
hệ thống Ngân hàng thương mại và các Công ty cho thuê tài chính, đây có thể
coi như một kênh phân phối quan trọng mà BVHN đã chiếm lĩnh. Công ty đã áp
dụng linh hoạt phí bảo hiểm do Tổng Công ty quy định, đồng thời đã đưa ra một
số chính sách để phục vụ đối với những khách hàng lớn, nhờ đó doanh thu các
nghiệp vụ này đã có sự tăng trưởng đặc biệt cả về chiều rộng và chiều sâu.
2.3. Công tác giám định - bồi thường nghiệp vụ BH TNDS của chủ xe cơ
giới đối với người thứ ba tại BVHN
2.3.1. Quy chế quản lý và quy định chế độ trách nhiệm trong công tác giám
định tại công ty BVHN
Quy chế này được áp dụng cho tất cả các Phòng nghiệp vụ và các Phòng
bảo hiểm quận huyện trực thuộc Công ty BVHN.
* Tiếp nhận yêu cầu giám dịnh và thủ tục hành chính, văn thư:
Tất cả các tờ khai, thông báo tai nạn, giấy yêu cầu giám định, fax, các hồ
sơ, tài liệu bổ sung hồ sơ giám định đến Văn phòng Công ty hoặc các Phòng
bảo hiểm quận huyện đều phải qua văn thư vào sổ công văn, ghi số đến trên tài
liệu, trình Giám đốc Công ty (hoặc Trưởng phòng bảo hiểm các quận, huyện),
SV: Phạm Thị Liên
SV: Phạm Thị Liên
Bảo hiểm 46A
15
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS.Nguyễn Hải Đường
Khi tiến hành giám định, Giám định viên phải chấp hành đúng quy trình
giám định của Tổng công ty quy định cho từng lơai nghiệp vụ. Giám định viên
phải luôn có ý thức giữ gìn phẩm chất và có trách nhiệm chủ động phát hiện,
đấu tranh với những hành vi tiêu cực, man trá, trực lợi bảo hiểm. Những vụ
giám định có diễn biến phức tạp, tổn thất lớn về tài sản, chết người hoặc khách
hàng vi phạm nguyên tắc của quy tắc bảo hiểm, những hiện tượng man trá, trục
lợi, tiêu cực… phải kịp thời bảo cáo Trưởng phòng để Trưởng phòng báo cáo
lãnh đạo Công ty chỉ đạo ngay.
Tổn thất phải được minh họa bằng ảnh, Giám định viên phải lên bản ảnh,
ghi rõ lời thuyết minh trên ảnh.
Việc giám định của Giám định viên bảo hiểm phải được tiến hành độc lập
với các cơ quan chức năng khác. Giám định viên bảo hiểm chịu trách nhiệm
trước Giám đốc Công ty và Pháp luật Nhà nước về tính khách quan và trung
thực khi kết luận nguyên nhân, mức độ tổn thất và đánh giá lỗi gây ra tai nạn
của từng bên liên quan.
* Lập biên bản giám định và thu thập hồ sơ giám định:
* Sau khi kết thúc công tác giám định tại hiện trường, trong ngày, Giám
định viên phải báo cáo với Trưởng phòng toàn bộ nội dung diễn biến, nguyên
nhân, mức độ tổn thất và hướng giải quyết vụ việc. Trưởng phòng có trách
nhiêm kiểm tra và thống nhất các nội dung trên đồng thời có ý kiến chỉ đạo để
tiếp tục thực hiện công việc. Nếu phát hiện có vấn đề gì bất hợp lý, Trưởng
phòng phải yêu cầu Giám định viên giải trình, xác minh bổ xung ngay đồng thời
báo cáo sơ bộ kết quả với lãnh đạo Công ty (nếu tổn thất ước tính trên mức phân
cấp của Phòng). Nếu phát hiện hồ sơ, vụ việc có dấu hiệu man trá trục lợi, tiêu
giám định, ký xác nhận trên biên bản giám định theo ủy quyền của Giám đốc và
xử lý, chỉ đạo các công việc tiếp theo.
* Những vụ giám định tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm của BVHN, sau
khi xem xét hồ sơ giám định, Trưởng phòng chỉ đạo cán bộ dưới quyền hướng
dẫn bằng văn bản cho người được bảo hiểm, cung cấp tiếp những giấy tờ cần có
trong hồ sơ yêu cầu bồi thường. Trường hợp khách hàng nộp hồ sơ hoặc bổ
SV: Phạm Thị Liên
Bảo hiểm 46A
17
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS.Nguyễn Hải Đường
xung hồ sơ không đúng địa chỉ, trong vòng một ngày, các Phòng phải có trách
nhiệm kiểm tra, chuyển cho Phòng có trách nhiệm để giải quyết.
* Giám sát hạng mục và đơn giá sửa chữa tài sản bảo hiểm:
Tất cả các tài sản được bảo hiểm bị thiệt hại phải sửa chữa, liên quan đến
trách nhiệm bồi thường của BVHN, các phòng phải giám sát các hạng mục, đơn
giá sửa chữa theo quy định sau:
Phân cấp giám sát giá:
Trưởng các phòng xem xét nếu giá trị tổn thất nằm trong mức phân cấp
cho Phòng thì chủ động tổ chức giám sát và chấp nhận hạng mục, đơn giá, nơi
sửa chữa. Nếu trên mức phân cấp thì chuyển cho Phòng giám định - bồi thường.
Nếu trên mức phân cấp của phòng bồi thường thì chuyển tiếp cho lãnh đạo
Công ty để giải quyết.
Trình tự giám sát:
Ngay sau khi giám định và trước khi tiến hành sửa chữa, các Phòng phải:
+ Thống nhất với khách hàng lựa chọn và quyết định nơi sửa chữa.
+ Yêu cầu khách hàng cung cấp dự toán chi tiết các hạng mục, đơn giá
sửa chữa. Kiểm tra, điều chỉnh đơn giá theo mặt bằng giá chung hợp lý tại thị
trường, phù hợp với quy tắc và tập quán bảo hiểm.
Giữa các phòng có thể ủy nhiệm việc giám sát giá cả sửa chữa trong phân
cấp cho nhau bằng văn bản.
Sau khi giám định xong, trưởng phòng cho chuyển hồ sơ trong phân cấp
của phòng bảo hiểm gốc cho phòng đó. Hồ sơ trên phân cấp của phòng bảo
hiểm gốc, trưởng phòng cho chuyển về phòng Bồi thường Công ty giải quyết.
Trường hợp giám định hộ các công ty thuộc hệ thống Bảo Việt và giám
định theo các yêu cầu khác:
Toàn bộ các vụ giám định dù trên hoặc dưới mức phân cấp, các phòng thực
hiện đúng theo quy định và phân cấp này. Đồng thời, sau khi giám định xong,
thu thập toàn bộ hồ sơ, đánh số và lập bản thống kê tài liệu có trong hồ sơ
chuyển về phòng Giám định - Bồi thường công ty để kiểm tra, quản lý, phát thu
phí giám định và báo cáo lãnh đạo Công ty duyệt hồ sơ chuyển tỉnh.
SV: Phạm Thị Liên
Bảo hiểm 46A
19
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS.Nguyễn Hải Đường
Hồ sơ do phòng Giám định - Bồi thường niêm phong, chuyển cho văn thư
công ty gửi theo đường công văn bưu điện. Trường hợp giao hồ sơ trực tiếp cho
khách hàng phải niêm phong và ký giao nhận hồ sơ. Hồ sơ giám định đại lý nhất
thiết phải có một bản sao đầy đủ, lưu tại phòng Giám định - Bồi thường.
Thu phí giám định đại lý:
Phí giám định đại lý bao gồm phí “cố định” (phí chính, phí phụ) và các chi
phí thực tế hoặc phí thu theo định mức cố định, theo quy định của Tổng công ty.
Sau khi giám định, các phòng thông báo số nhân công, chi phí giám định đại lý
(nếu có) cho phòng Giám định - Bồi thường để phát hành thông báo thu phí
giám định kèm theo hồ sơ.
Phí giám định nộp trực tiếp, do thủ quỹ của Phòng, Quận, Huyện thu (nếu
khách hàng nộp phí tại phòng bảo hiểm Quận, Huyện) hoặc do phòng Kế toán