ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY PHƢƠNG
PH¸P LUËT VÒ PHßNG, CHèNG X¢M H¹I
T×NH DôC TRÎ EM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY PHƢƠNG
PH¸P LUËT VÒ PHßNG, CHèNG X¢M H¹I
T×NH DôC TRÎ EM
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 8.38010101
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. HOÀNG THỊ KIM QUẾ
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Những yếu tố tác động đến xâm hại tình dục trẻ em .................... 11
1.2.1. Các yếu tố khách quan ....................................................................... 11
1.2.2. Các yếu tố chủ quan ........................................................................... 13
1.3.
Quy định của pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em ..... 15
1.3.1. Quy định của pháp luật về phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em ...... 16
1.3.2. Quy định của pháp luật về chống xâm hại tình dục trẻ em ................ 19
1.4.
Ý nghĩa của việc pháp luật quy định về phòng, chống xâm
hại tình dục trẻ em ........................................................................... 23
1.4.1. Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em ............................. 23
1.4.2. Khẳng định về cơ chế pháp lý, công cụ bảo vệ trật tự xã hội ............ 25
1.4.3. Phù hợp bối cảnh trong nƣớc và quốc tế ............................................ 26
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 29
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG
XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM .................................................... 30
2.1.
Tình hình xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam hiện nay............. 30
2.2.
Thực trạng pháp luật về phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ
em ở nƣớc ta hiện nay ...................................................................... 33
trẻ em .................................................................................................. 56
3.3.3. Tăng cƣờng kỹ năng sống, kiến thức và sự tham gia của trẻ em
vào thực hiện pháp luật phòng chống xâm hại tình dục .................... 58
3.3.4. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện và áp dụng
pháp luật phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em, xử lý nghiêm
minh mọi hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm trẻ em..................... 59
3.3.5. Phát triển hệ thống Qũy bảo trợ trẻ em và đầu tƣ cơ sở vật chất
thỏa đáng cho công tác thực hiện và áp dụng pháp luật về bảo
vệ chăm sóc trẻ em ............................................................................ 60
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3................................................................................ 62
KẾT LUẬN .................................................................................................... 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 65
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
BLHS
: Bộ luật Hình sự
LHPN
: Liên hiệp phụ nữ
TNCS
phạm tình dục trẻ em vẫn diễn biến phức tạp và có chiều hƣớng ngày càng gia
tăng cả về số lƣợng và tính chất. Đây là vấn đề gây hoang mang, lo sợ, bức
xúc và đáng bị lên án. Theo thống kê của Cục Cảnh sát Hình sự, Tổng cục
Cảnh sát, Bộ Công an, trung bình mỗi năm có hơn 1500 trẻ em bị xâm hại
tình dục [1]. Đây chỉ là con số của những vụ việc đƣợc báo cáo, còn rất nhiều
vụ nạn nhân bị chính kẻ xâm hại dọa dẫm hoặc vì lý do nào đó đã không đƣợc
thống kê. Mặt khác, nếu hiểu xâm hại tình dục theo đúng chuẩn khái niệm
1
quốc tế xâm hại tình dục là tất cả hành vi dụ dỗ, lôi kéo, xúi bẩy trẻ em thực
hiện hành vi mang tính chất tình dục không phù hợp với lứa tuổi các em thì số
vụ xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam sẽ cao hơn rất nhiều.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến xâm hại tình dục trẻ em nhƣng một
trong những lý do mấu chốt là do sự lỏng lẻo và những “khoảng trống” trong
hệ thống pháp luật về bảo vệ trẻ em, gây bất cập trong việc ngăn ngừa và
giảm thiểu tình trạng này.
Vậy chúng ta phải làm gì để lấp đầy những khoảng trống trong hệ
thống pháp luật về bảo vệ trẻ em tránh bị xâm hại tình dục? Làm thế nào để số
lƣợng trẻ bị xâm hại xuống mức thấp nhất? Đó là những câu hỏi khó đặt ra
mà Đảng và Nhà nƣớc cần phải quan tâm và giải quyết triệt để để bảo vệ cho
thế hệ trẻ - tƣơng lai của đất nƣớc. Do đó, đặt ra một yêu cầu cần phải nghiên
cứu về quy phạm pháp luật về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em để có
những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này.
Từ những phân tích trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Pháp luật về
phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em”.
2. Tình hình nghiên cứu
Thời gian qua, tình hình tội phạm xâm hại tình dục trẻ em đang là hồi
chuông báo động cho sự suy đồi đạo đức xã hội, gây bức xúc trong dƣ luận.
hành về phòng chống xâm hại trẻ em và thực trạng phòng, chống xâm hại tình
dục trẻ em ở nƣớc ta trong những năm gần từ đó đƣa ra các giải pháp hoàn
thiện pháp luật về vấn đề này.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Trình bày một số vấn đề lý luận về phòng chống xâm hại tình dục trẻ
3
em nhƣ phân tích khái niệm trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em, những yếu tố tác
động đến xâm hại tình dục trẻ em; phân tích pháp luật của một số quốc gia
trên thế giới về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em;
- Đƣa ra đƣợc thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng chống xâm hại
tình dục trẻ em: những quy định cụ thể về xâm hại tình dục trẻ em hiện hành,
thực trạng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em;
- Từ những vấn đề lý luận và thực trạng nêu trên đề xuất những giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh quy định
pháp luật hiện hành về các tội xâm phạm tình dục trẻ em, kết hợp với việc
phân tích các nguyên nhân, những tồn tại, hạn chế và kiến nghị những giải
pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về nhóm hành vi xâm
phạm tình dục trẻ em
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận và những quy
định của pháp luật hiện hành về xâm hại tình dục trẻ em ở Việt nam, kết hợp
với việc nghiên cứu đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật đối với các hành
vi xâm hại tình dục trẻ em trong thực tiễn, những mặt đạt đƣợc và hạn chế để
kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
dục trẻ em, trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn
có liên quan. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
5
- Xây dựng đƣợc cái nhìn tổng thể về tình hình xâm hại tình dục trẻ em
ở nƣớc ta trong thời gian 5 năm gần đây (từ 2014 – 2018);
- Phân tích và rút ra đƣợc những yếu tố tác động đến xâm hại tình dục
trẻ em hiện nay;
- Hệ thống hóa các quy định của pháp luật hiện hành về phòng chống
xâm phạm tình dục trẻ em;
- Phân tích những hạn chế của các quy định của pháp luật hiện hành có
liên quan;
- Tập trung nghiên cứu về phƣơng hƣớng phòng ngừa, ngăn chặn nạn
xâm hại tình dục trẻ em ở những góc độ khác nhau;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng các vụ việc liên quan đến xâm hại
tình dục trẻ em thời gian 5 năm gần đây, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em góp phần bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
không chỉ dành cho các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
thuộc chuyên ngành Lý luận, Hình sự, Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo
Luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những
kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác trong các cơ
quan tiến hành tố tụng, đồng thời là cơ sở cho các nhà lập pháp sửa đổi, bổ
sung các quy định pháp luật hiện hành để góp phần nâng cao hiệu quả đấu
tranh phòng chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, từ đó tạo điều kiện cho
việc giải quyết vụ việc liên quan một cách khách quan, có căn cứ và đúng
pháp lý, trẻ em đƣợc xác định theo độ tuổi và độ tuổi của trẻ em tùy thuộc vào
sự quy định của mỗi quốc gia và từng lĩnh vực trẻ em tham gia.
Mặc dù còn nhiều cách hiểu khác nhau nhƣng chúng ta có thể thống
nhất khái niệm trẻ em nhƣ sau: “Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm
xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển
con người”.
Theo Công ƣớc của Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989, trẻ
em do còn non nớt về trí tuệ và thể lực vì thế cần phải đƣợc bảo vệ và
chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trƣớc cũng
nhƣ sau khi ra đời.
Ngay tại Điều 1 Công ƣớc Quyền trẻ em đã xác định rõ: “Trong phạm
vi của công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp
pháp luật áp dụng với trẻ em quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
8
Nhƣ vậy, theo Công ƣớc Quyền trẻ em, trẻ em đƣợc xác định là
ngƣời dƣới 18 tuổi, trừ khi pháp luật các quốc gia quy định độ tuổi sớm
hơn. Các văn bản pháp luật quốc tế khác nhƣ: Quy tắc Bắc Kinh, Hƣớng
dẫn Ri át và Quy tắc của Liên hiệp quốc về bảo vệ ngƣời chƣa thành niên
bị tƣớc quyền tự do thƣờng sử dụng thuật ngữ ngƣời chƣa thành niên là
những ngƣời chƣa đến 18 tuổi.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại Điều 1 Luật Trẻ em 2016:
“Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Nghĩa là không giới hạn trẻ em là công
dân Việt Nam, mà đối tƣợng áp dụng của Luật còn bao gồm cả trẻ em là
ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại Việt Nam. Quy định về tuổi trẻ em trong Luật
Trẻ em của Việt Nam đã có độ vênh tới 2 tuổi so với Công ƣớc Quốc tế về
Quyền trẻ em.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ khái niệm “trẻ em” theo Luật Trẻ em và
Xâm hại tình dục trẻ em là việc lôi kéo trẻ em tham gia vào các
hoạt động tình dục mà trẻ em đó không hiểu một cách đầy đủ,
không có khả năng quyết định ƣng thuận một cách có hiểu biết,
hoặc hành động đó là trái pháp luật hoặc trái quy tắc xã hội. Xâm
hại tình dục trẻ em là hành động diễn ra giữa một trẻ em với một
ngƣời trƣởng thành hoặc với một trẻ em khác mà do độ tuổi và
mức độ phát triển, ngƣời này có mối quan hệ trách nhiệm, tin
tƣởng hoặc quyền hành với trẻ, và hành động gây ra nhằm thỏa
mãn nhu cầu của ngƣời đó.
Theo Luật Trẻ em 2016:
Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực,
ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan
10
đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cƣỡng dâm, giao cấu, dâm ô với
trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dƣới
mọi hình thức.
Trẻ có thể bị xâm hại tình dục dƣới nhiều hình thức khác nhau trong đó
phổ biến là xâm hại bằng cách đụng chạm và không đụng chạm. Xâm hại tình
dục trẻ em bằng cách đụng chạm bộc lộ qua một số hành vi nhƣ hôn hít hoặc
ôm trẻ theo kiểu tình dục, sờ mó vào bộ phận sinh dục của trẻ, hoặc bắt trẻ sờ
mó vào bộ phận sinh dục của ngƣời lớn hoặc của một đứa trẻ lớn hơn, ép trẻ
thực hiện hành vi mại dâm… Xâm hại tình dục trẻ em bằng cách không đụng
chạm là những hành vi nhƣ dùng lời nói hoặc tranh ảnh khiêu dâm để làm cho
trẻ sốc, làm cho trẻ hƣng phấn tình dục hoặc làm cho trẻ quen với tình dục,
cho trẻ nghe hoặc nhìn những cảnh tình dục, bắt trẻ đứng ngồi theo tƣ thế gợi
dục để chụp ảnh (khiêu dâm), hoặc cho trẻ xem sách báo khiêu dâm…
Hầu hết những ngƣời xâm hại tình dục là nam giới. Và hầu hết các trẻ
dục. Thậm chí nhiều trƣờng còn coi đó là một học trình bộ môn mà không
phải thi nên học cho xong, dạy cho xong. Nhiều trƣờng ý thức hơn, có mời
các chuyên gia về nói chuyện với học sinh của trƣờng nhƣng nó vẫn chỉ mang
tính ngắn hạn, vội vàng và chƣa thực sự sâu sát hơn. Bên cạnh đó, gia đình và
nhà trƣờng chƣa làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức
cho các em về những vấn đề liên quan đến giới tính, tâm sinh lý lứa tuổi cũng
nhƣ những kỹ năng để phòng tránh xâm hại tình dục, nên khi gặp phải những
tình huống phát sinh trên thực tế, bản thân các em không biết cách xử lý và
giải quyết phù hợp, từ đó dẫn đến những hệ quả không mong muốn.
Về môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội, kinh tế Việt Nam đang trên đà
phát triển, đời sống ngƣời dân đƣợc nâng lên. Tuy nhiên, cùng với sự phát
triển của nền kinh tế thì cũng bộc lộ một số vấn đề nhƣ tỉ lệ thất nghiệp còn
cao nên nhiều ngƣời có thời gian rảnh rỗi thƣờng xuyên truy cập phim đồi
12
trụy, ảnh khiêu dâm dẫn đến không kiềm chế đƣợc cảm xúc sẵn sàng xâm
phạm tình dục đối với ngƣời khác hoặc có trƣờng hợp ngƣời phạm tội xâm
phạm sở hữu nhƣng vì sự kích thích cơ thể từ phía nạn nhân nên ngƣời phạm
tội xâm phạm tình dục luôn nạn nhân. Mặt khác, văn hóa nƣớc ngoài ngày
càng du nhập vào Việt Nam bằng nhiều con đƣờng khác nhau, trong đó tranh
ảnh khiêu dâm, băng đĩa đồi trụy đầy rẫy trên mạng Internet, thậm chí đƣợc
bày bán tràn lan ngoài thị trƣờng dẫn đến tâm lý cởi mở trong vấn đề tình
dục nên xem thƣờng các giá trị văn hóa truyền thống dẫn đến không ít
trƣờng hợp xâm phạm tình dục loạn luân, bắt chƣớc hành vi lệch lạc về giới
tính trên Internet.
1.2.2. Các yếu tố chủ quan
Trẻ em – nhóm người yếu thế trong xã hội là ngƣời bị hạn chế hoặc
hoàn toàn không có khả năng, điều kiện tự vệ hoặc bảo vệ mình. Kẻ phạm tội
cảm tính. Các yếu tố thuộc về chủ quan cá nhân ngƣời phạm các tội xâm
phạm tình dục gồm có những sai lệch về sở thích, nhu cầu, cách thức thỏa
mãn nhu cầu, lợi ích của bản thân bất chấp hành vi đó là vi phạm pháp luật.
Hạn chế về ý thức pháp luật cá nhân và khả năng kiểm soát hành vi,
ngƣời phạm tội xâm phạm tình dục thƣờng là ngƣời có trình độ học vấn thấp,
quan niệm sai về các giá trị cuộc sống, không hiểu biết hoặc hiểu biết rất ít
pháp luật nên thƣờng có thái độ thờ ơ, coi thƣờng pháp luật. Những sai lệch
trong ý thức pháp luật cũng là một trong những yếu tố tác động trong cơ chế
làm phát sinh tội phạm khi gặp những hoàn cảnh, tình huống cụ thể họ sẽ
không kiềm chế, kiểm soát đƣợc hành vi của mình, xử sự không đúng đắn và
có hành vi vi phạm pháp luật. Mặc khác, do nhận thức và trình độ học vấn
thấp nên khả năng kiểm soát và hạn chế hành vi đối với ngƣời phạm tội xâm
phạm tình dục ở mức độ thấp, nhiều trƣờng hợp ngƣời phạm tội xâm phạm
tình dục ngay chính cả ngƣời thân trong gia đình.
14
1.3. Quy định của pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em
Phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em là quá trình áp dụng tổng hợp
các biện pháp nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời những nguyên nhân, điều
kiện phát sinh của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, hạn chế đến mức thấp
nhất tình trạng tội phạm này xảy ra cũng nhƣ hậu quả, tác hại của nó gây ra
cho xã hội. Pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em là hệ thống các
quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến phòng,
chống xâm hại tình dục trẻ em.
Để thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em
cần có sự tham gia của tất cả các lực lƣợng trong xã hội bao gồm tất cả các cơ
quan Nhà nƣớc, tổ chức xã hội, đoàn thể và quần chúng nhân dân nhằm xóa
bỏ những hiện tƣợng tiêu cực đƣợc xác định là nguyên nhân, điều kiện của
khẳng định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại,
hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi
khác vi phạm quyền trẻ em”,
Để tăng cƣờng phòng ngừa và giảm thiểu tình trạng trẻ em bị xâm hại
tình dục, Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội đã phối hợp với Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Bộ Công an, các cơ quan ở Trung ƣơng, địa phƣơng và các cơ
quan truyền thông để tiếp tục đẩy mạnh việc truyền thông, giáo dục, vận động
xã hội nhằm nâng cao nhận thức, tăng cƣờng trách nhiệm và năng lực của gia
đình, nhà trƣờng, cộng đồng và bản thân trẻ em trong việc chủ động phòng
ngừa các hành vi xâm hại trẻ em.
Theo trách nhiệm đƣợc phân công, các cơ quan Trung ƣơng đã ban
hành các kế hoạch, văn bản chỉ đạo các địa phƣơng triển khai quy trình, biện
16
pháp phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em, can thiệp và hỗ trợ trẻ em là nạn
nhân bị xâm hại tình dục. Các Trung tâm công tác xã hội cấp tỉnh và một số
địa phƣơng đã triển khai mô hình cung cấp dịch vụ hỗ trợ, bảo vệ trẻ em, đặc
biệt là nạn nhân bị xâm hại tình dục. Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội
và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai dự án Phòng ngừa xâm hại
tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch tại một số địa phƣơng. Thủ tƣớng
Chính phủ đã giao Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội chủ trì, xây dựng
Đề án bảo vệ trẻ em trên môi trƣờng mạng. Các hoạt động này đang đƣợc tiếp
tục triển khai, nhân rộng trong việc triển khai Chƣơng trình bảo vệ trẻ em giai
đoạn 2016 – 2020 (Quyết định số 2361/QĐ-TTg ngày 22/12/2015 của Thủ
tƣớng Chính phủ)…
Trong Luật trẻ em mới đƣợc thông qua trong kỳ họp thứ 11, Quốc hội
khóa XIII cũng có quy định nghiêm cấm hành vi xâm hại tình dục trẻ em
thiệp kịp thời cho trẻ em bị bạo lực, xâm hại.
Ngày 15/6/2017 Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 856/QĐTTg về việc thành lập Ủy ban Quốc gia về trẻ em. Trong các ủy viên của Ủy
ban có lãnh đạo của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân
dân tối cao. Trong đó, Ủy ban có nhiệm vụ: giải quyết các vấn đề về trẻ em,
thực hiện quyền trẻ em; thực hiện các vấn đề liên quan đến trẻ em và thúc đẩy
thực hiện Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em.
Ngày 21/9/2018 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tƣ liên tịch
số 02 quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có ngƣời tham gia tố tụng là
ngƣời dƣới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và ngƣời chƣa thành
niên, tại khoản 2 Điều 4 quy định:“Vụ án hình sự có bị cáo từ đủ 14 đến dưới
16 tuổi phạm một trong các tội đặc biệt nghiêm trong quy định tại các Điều
142, Điều 144 BLHS. Các vụ án này được thực hiện theo thủ tục xử kín, thân
thiện với trẻ em”.
18
Năm 2017, Ủy ban Tƣ pháp đã chủ trì, phối hợp với Ủy ban Văn hóa,
Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng tổ chức cuộc họp với các cơ
quan, tổ chức hữu quan về “Việc chấp hành các quy định của pháp luật về
đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em”. Ngay sau cuộc
họp này, Ủy ban Tƣ pháp đã có Kiến nghị số 561/KN-UBTP14 gửi tới các Bộ
trƣởng, Trƣởng ngành và ngƣời đứng đầu các tổ chức hữu quan để chỉ đạo
xem xét, giải quyết. Tiếp đó, vào ngày 19/4/2019, Ủy ban Tƣ pháp tiếp tục tổ
chức cuộc họp đánh giá việc thực hiện các kiến nghị của Ủy ban về nâng cao
hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em
và giải pháp trong thời gian tới. Mặc dù vậy, hiện nay, thực trạng này vẫn
đang là vấn đề nhức nhối. Vì vậy, ngày 14/6/2019 Quốc hội đã ban hành Nghị
quyết Thành lập đoàn giám sát “việc thực hiện chính sách, pháp luật về
phòng, chống xâm hại trẻ em”. Nghị quyết quy định rõ trách nhiệm, nhiệm