CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG DẠY HỌC
NÊU VẤN ĐỀ VÀO HÌNH THỨC XÊMINA MÔN GIÁO DỤC HỌC QUÂN SỰ
ĐỐI VỚI HỌC VIÊN ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN CẤP PHÂN ĐỘI Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUÂN SỰ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử giáo dục của nhân loại, từ thời cổ đại, DHNVĐ với tư cách là
một ý niệm tiến bộ về cách thức dạy học đã được các nhà giáo dục tiêu biểu như
Khổng Tử, Xôcrát, Platon, Aristốt... đề cập tới. Họ là những người đầu tiên đưa ra
những ý tưởng tiến bộ về một phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tư duy
độc lập, sáng tạo của người học.
Khổng Tử (551 - 479 trước Công nguyên) nhà giáo dục vĩ đại của Trung
Hoa đã chú ý tới việc dạy học cần quan tâm kích thích tính tích cực tự giác, độc lập
suy nghĩ tìm tòi của trò. Ông thường đưa trò vào các tình huống xảy ra trong tự
nhiên, xã hội và đời sống hàng ngày để dẫn dắt trò tìm ra chân lý. Khi trò gặp vấn
đề gì khó khăn chưa hiểu thầy cũng chỉ gợi mở để trò tự suy luận và giải quyết.
Ông nhắc nhở: "Bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy
nữa" ( Luận ngữ ). Đây chính là ý tưởng tiến bộ cho một cách dạy học mới: Không
bao giờ "bày sẵn" cho người học mà phải bằng sự khéo léo hướng dẫn khêu gợi và
mở mang tạo nên ở người học sự hứng thú tích cực, độc lập nhận thức trong quá
trình dạy học [5, 8].
Xôcrát (469 - 390 trước Công nguyên) nhà giáo dục nổi tiếng của Hy Lạp cổ
đại, ông là người đầu tiên đề ra phương pháp tìm tòi phát hiện chân lý bằng cách
đặt câu hỏi cho người học tự tìm ra chân lý. Người ta thường gọi phương pháp này
là phương pháp "đỡ đẻ Xôcrat" mà thực chất chính là phương pháp đàm thoại nêu
vấn đề. Phương pháp này sẽ "đánh thức trong con người tri thức còn ngái ngủ" dẫn
dắt vào người học vàoTHCVĐ, khơi dậy ở họ niềm say mê hứng thú tích cực, chủ
động trong học tập.
Bước sang thời Phục Hưng, các nhà giáo dục lớn như Vittôrinô, Phranxoa
Rabơle, Tômat Morơ... ở châu Âu, bên cạnh việc phê phán kịch liệt nền giáo dục kinh
viện, khuôn mẫu, cứng nhắc thời trung cổ, họ đề xướng những cách dạy học mới quan
tâm tới sự phát triển tư duy sáng tạo của người học.
của học sinh, đặc biệt là lý thuyết DHNVĐ. Các công trình khoa học giáo dục về
kiểu DHNVĐ đã được công bố rộng rãi trên báo chí, sách vở ở trong và ngoài
nước ta.
Tác giả Nguyễn Như An đã khẳng định: "Hơn 50 năm qua, cùng với việc nghiên
cứu vấn đề phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của học sinh, nhiều nhà nghiên
cứu giáo dục đã đặc biệt chú ý nghiên cứu dạy học nêu vấn đề" [2, 5 ].
Nước ngoài có nhiều công trình, bài báo, tham luận về DHNVĐ như
V.Ô.kôn (Ba Lan), A.M.Machuiskin, M.A.Đanhilốp, M.N. Xcátkin, NG. Dairi, T.V.
Cudrialxep, I.Ia. Lecne, M.I. Macmutốp, L.P. Aristôva, V.V. Dabôtin,
I.F.Kháclamốp, T.A.Ilina... (Liên Xô cũ).
V.Ô.Kôn trong cuốn sách: "Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề" [16], đã
trình bày và làm rõ khái niệm: Vấn đề học tập, THCVĐ và DHNVĐ.
I.F.Kháclamốp trong cuốn "Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào"
[14], đã làm rõ bản chất của DHNVĐ, đặc điểm của DHNVĐ, khái niệmTHCVĐ,
cơ sở tâm lý sư phạm của THCVĐ...
Ở Việt Nam có công trình nghiên cứu của các tác giả như: Hà Thế Ngữ,
Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Ngọc Bảo, Thái Duy Tuyên, Vũ Văn
Tảo, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Như An, Lê Khánh Bằng, Nguyễn Kỳ, Trần Bá
Hoành, Nguyễn Cảnh Toàn, Lưu Xuân Mới...
Quán triệt tinh thần Nghị quyết 93, 94/ĐUQSTW, Nghị quyết Trung ương 2
khoá VIII, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và các Nghị
quyết chỉ thị khác của Đảng và quân đội, những năm qua các nhà trường quân đội
đã có nhiều công trình nghiên cứu theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, phát
huy tính tích cực nhận thức của người học. Thời gian vừa qua ở HVCTQS đã có
hàng loạt các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đổi mới phương pháp,
vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, đặc biệt là DHNVĐ vào quá trình dạy
học. Đối với hình thức bài giảng đã có công trình nghiên cứu của khoa GDHQS :
"Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong chuẩn bị và tiến hành bài giảng môn giáo dục
học quân sự" [15] (Nguyễn Văn Chung chủ nhiệm đề tài).
Có thể nói từ thập niên tám mươi của thế kỷ XX đến nay đã có nhiều nhà
con người.
* Vấn đề học tập
Vấn đề học tập là mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái chưa biết mà
người học gặp phải trong quá trình dạy học.
Đó có thể là mâu thuẫn giữa các quan điểm trái ngược nhau, giữa lý thuyết
đã biết và chưa biết, giữa lý luận và thực tiễn... mà người học gặp phải trong quá
trình học tập của mình.
Tuy nhiên các vấn đề học tập, các mâu thuẫn tồn tại khách quan với người
học, chỉ khi người học nhận thức được sự tồn tại của mâu thuẫn, có nhu cầu và khả
năng giải quyết mâu thuẫn đó thì mâu thuẫn khách quan mới chuyển thành mâu
thuẫn chủ quan, lúc này người học đang ở trong THCVĐ. Như vậy cùng một vấn
đề học tập nhưng không phải ai cũng đứng trong THCVĐ. Có vấn đề học tập
nhưng chưa chắc đã có THCVĐ. Điều đó phụ thuộc vào trình độ của người dạy
cũng như nhu cầu, động cơ, khả năng của người học.
* Bài toán nêu vấn đề
Bài toán là hệ thống thông tin xác định, bao gồm những điều kiện (cái cho)
và những yêu cầu (cái phải tìm) luôn mâu thuẫn với nhau đòi hỏi phải tìm ra mối
liên hệ tất yếu giữa chúng để giải quyết bài toán.
Như vậy, một vấn đề học tập được kết cấu hoàn chỉnh dưới dạng một baì
toán nhằm kích thích hứng thú nhận thức của người học được gọi là bài toán nêu
vấn đề.
Bài toán nêu vấn đề hay còn gọi là bài toán nêu vấn đề ơristic (tìm tòi, phát
hiện) phản ánh đặc trưng của DHNVĐ là người dạy nêu vấn đề, người học tìm tòi,
phát hiện vấn đề.Nó được coi là hạt nhân cơ bản của DHNVĐ. Nói cách khác
DHNVĐ có thành công hay không trước hết phụ thuộc ở việc xây dựng thành công
hay không bài toán nêu vấn đề của nó.
Như vậy bài toán nêu vấn đề vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là
phương tiện dạy học. Song về cơ bản nó được coi là phương tiện, công cụ chủ đạo
của DHNVĐ, thông qua giải bài toán nêu vấn đề, người học được chiếm lĩnh tri
thức, cách thức giải và niềm vui sáng tạo. Theo tiễn sĩ Lưu Xuân Mới thì bài toán
Nghĩa là khi người học chấp nhận mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn và nhu
cầu bên trong của bản thân thì người học mới trở thành chủ thể của hoạt động nhận
thức. Đó cũng là lúc THCVĐ nảy sinh. Người học mới thực sự học, tư duy mới bắt
đầu.
Như vậy từ bài toán nêu vấn đề đến THCVĐ, người dạy cần phải có
những biện pháp tác động cần thiết để dẫn dắt đưa người học vào THCVĐ dựa
trên cơ chế phát sinh THCVĐ.
* Dạy học nêu vấn đề
• Các quan điểm khác nhau về DHNVĐ :
Theo nhà tâm lý giáo dục Ba Lan V.Ô.Kôn thì DHNVĐ dưới dạng chung
nhất, là tập hợp những hành động như tổ chức các THCVĐ, phát biểu vấn đề...
giúp đỡ cần thiết cho học sinh trong việc giải quyết vấn đề, kiểm tra những giải
pháp đó và cuối cùng điều khiển quá trình hệ thống hoá và củng cố những kiến
thức thu được.
Nhà tâm lý giáo dục Liên Xô cũ T.V.Cudriaxep cho rằng DHNVĐ bao
gồm việc tạo ra trước người học những THCVĐ làm cho các em ý thức được,
thừa nhận và giải quyết tình huống này trong quá trình hoạt động chung của
người dạy và người học với tính tự lực cao nhất của người học, dưới sự chỉ đạo
của người dạy.
Ở Việt Nam, giáo sư Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa DHNVĐ là một tổ hợp
phương pháp dạy học phức hợp mà hạt nhân cơ bản của nó là bài toán nhận thức (bài
toán nêu vấn đề) chứa đựng mâu thuẫn giữa cái cho và cái tìm, được cấu trúc một
cách sư phạm, làm người học tự giác chấp nhận như nhu cầu bên trong, bức thiết phải
giải quyết bằng được, thông qua giải quyết bài toán học sinh sẽ chiếm lĩnh cả tri thức,
cách giải quyết và niềm sung sướng nhận thức.
Theo giáo sư Phạm Viết Vượng thì DHNVĐ là kiểu dạy học hay một
phương pháp dạy học trong đó người dạy tạo ra các mâu thuẫn đưa người học vào
tình huống phải nhận thức và giúp cho học sinh tự lực sáng tạo tìm tòi cách giải
quyết vấn đề qua đó mà nắm kiến thức.
Tác giả Nguyễn Như An quan niệm: DHNVĐ là sự tổ chức quá trình dạy
không chỉ bao gồm phương pháp mà còn là một hệ dạy học toàn vẹn.
+ Trong DHNVĐ diễn ra một dạng đặc biệt của sự tương tác của người dạy
và người học theo phương thức nêu vấn đề - tìm tòi sáng tạo. Trong đó người dạy
đóng vai trò là người lựa chọn, thiết kế xây dựng các bài toán nêu vấn đề, đưa
người học vào THCVĐ để làm nảy sinh ở họ nhu cầu bức thiết muốn được giải
quyết vấn đề. Trong quá trình người học giải quyết vấn đề người dạy hướng dẫn,
điều khiển hoạt động tìm tòi phát hiện của người học.
Đối với người học, trong THCVĐ người học được phát huy tính tích cực, tự
giác, say mê đi tìm tòi và giải quyết vấn đề đã đặt ra. Hoạt động của người học
mang tính độc lập, chủ động cao nhằm tự mình chiếm lĩnh phương án giải quyết
bài toán thông qua đó giúp người học nắm vững kiến thức, cách thức giải, bồi
dưỡng lòng say mê học tập, tính kiên trì bền bỉ, lòng khát khao được chinh phục
khám phá.
Như vậy, DHNVĐ thuộc kiểu dạy học hiện đại, dưới góc độ phương pháp nó
thuộc nhóm phương pháp dạy học tích cực, đề cao vai trò của người học, lấy học
sinh làm trung tâm, theo phương châm "dạy học không phải là rót nước vào bình
mà là khơi lên một ngọn lửa".
+ Mục đích của DHNVĐ không chỉ là trang bị tri thức cho người học mà
còn là rèn luyện phát triển trí tuệ, tư duy độc lập sáng tạo, bồi dưỡng kỹ năng
nghiên cứu và giải quyết các vấn đề, các tình huống xảy ra trong lý luận và thực
tiễn nghề nghiệp sau này. Mặt khác DHNVĐ góp phần hình thành những phẩm
chất cần thiết cho con người trong thời đại mới như tính độc lập tự chủ, kiên trì bền
bỉ, năng động sáng tạo.
• Như vậy, thông qua các đặc điểm cơ bản trên của DHNVĐ, đề tài khái
quát và xây dựng khái niệm DHNVĐ như sau:
Dạy học nêu vấn đề là kiểu dạy học bao gồm hệ phương pháp dạy học phức
hợp trong đó sử dụng bài toán nêu vấn đề nhằm tổ chức hoạt động tìm tòi sáng tạo
của người học theo cách thức nêu lên và giải quyết các vấn đề học tập thông qua đó
giúp người học chiếm lĩnh tri thức, phát triển trí tuệ.
1.2.2. Vai trò và cơ sở khoa học của dạy học nêu vấn đề
có thể đáp ứng cho toàn bộ nội dung dạy học đang ngày càng gia tăng, đồng thời
khó có thể vận dụng vào một số môn học mang tính đặc thù, đặc biệt là các môn