SKKN một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 6 tuổi - Pdf 64

Một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5- 6 tu ổi
Dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của mỗi con người. Dinh d ưỡng
học nghiên cứu mối quan hệ thiết yếu giữa th ức ăn và cơ th ể con người.
Tất cả chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng của việc ăn uống là m ột nhu
cầu hằng ngày, một nhu cầu cấp bách bức thiết không th ể không có. Tr ẻ
em cần dinh dưỡng để phát triển thể lực và trí lực. Đối với trẻ lứa tuổi
mầm non 0 - 6 tuổi thì nhu cầu dinh dưỡng lại càng bức thiết h ơn đ ể giúp
cơ thể trẻ phát triển toàn diện. Mục tiêu của giáo dục m ầm non là hình
thành cho trẻ những yếu tố nhân cách của con người m ới XHCN, con ng ười
phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ. Để đạt được những mục tiêu đó
cần kết hợp hài hòa giữa chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

1.

PHẦN MỞ ĐẦU:

1.1 Lý do chọn đề tài
Dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của mỗi con người. Dinh d ưỡng
học nghiên cứu mối quan hệ thiết yếu giữa th ức ăn và cơ th ể con người.
Tất cả chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng của việc ăn uống là m ột nhu
cầu hằng ngày, một nhu cầu cấp bách bức thiết không th ể không có. Tr ẻ
em cần dinh dưỡng để phát triển thể lực và trí lực. Đối với trẻ lứa tuổi
mầm non 0 - 6 tuổi thì nhu cầu dinh dưỡng lại càng bức thiết h ơn đ ể giúp
cơ thể trẻ phát triển toàn diện. Mục tiêu của giáo dục m ầm non là hình
thành cho trẻ những yếu tố nhân cách của con người m ới XHCN, con ng ười
phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ. Để đạt được những mục tiêu đó
cần kết hợp hài hòa giữa chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Tuy vậy hiện nay trong nền kinh tế thị trường các vấn đ ề nảy sinh do
chế độ dinh dưỡng không đầy đủ và không hợp lý v ẫn là đi ều m ọi ng ười
phải quan tâm xem xét. Chúng ta biết rằng tình trạng dinh d ưỡng t ốt c ủa
mọi người nói chung, trẻ em nói riêng phụ thuộc vào kh ẩu ph ần dinh

tự chủ sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu ch ủ nghĩa xã
hội, có cuộc sống lành mạnh đáp ứng nhu cầu phát triển của đ ất n ước.


Các cơ sở giáo dục mầm non có nhiệm vụ tạo điều kiện tốt nhất đ ể trẻ
phát triển hài hoà thể chất và tinh thần, phối kết hợp giữa gia đình và nhà
trường, gia đình và xã hội để chăm sóc giáo dục trẻ từ 0 - 6 tuổi phát tri ển
một cách toàn diện, đặt nền tảng đầu tiên cho sự hình thành nh ững ph ẩm
chất con người mới XHCN :
Khoẻ mạnh, nhanh nhẹn cơ thể phát triển hoàn hảo cân đối.
Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra nh ững cái
đẹp xung quanh.
Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có m ột s ố kỹ năng
sơ đẳng (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, suy luận) c ần thi ết đ ể lên
lớp lớn và tiếp tục vào trường phổ thông, thích đi h ọc.
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1 Thực trạng
Năm học 2012 - 2013 Trường chúng tôi vẫn tiếp tục th ực hiện chuyên
đề giáo dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường v ới
mục tiêu tiếp tục giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ ở mức độ th ấp nhất.
Vào đầu năm học bản thân tôi được nhà trường phân công d ạy l ớp m ẫu
giáo Lớn với sỉ số của lớp là 41 trẻ.
Thuận lợi:
Được sự quan tâm của các cấp lảnh đạo, chính quyền địa ph ương đã
xây dựng phòng học có diện tích 40m với đầy đ ủ công trình v ệ sinh khép
kín, phòng kho rộng rãi. Có hệ th ống n ước s ạch thu ận l ợi cho vi ệc chăm
sóc giáo dục trẻ.
Để dáp ứng đầy đủ đồ dùng phục vụ của cô và trẻ. Nhà tr ường đã k ịp
thời phối hợp với chính quyền địa phương, phụ huynh mua sắm đầu tư
trang thiết bị, đồ dùng học tập phục vụ cho việc dạy và học của cô và tr ẻ

khăn hơn.


Mỗi trẻ có một đặc điểm tâm lý riêng, khẩu vị riêng, hoàn cảnh sống
riêng. Trẻ từ lớp nhỡ mới chuyển lên nên số trẻ biếng ăn, kén ăn, ăn ch ậm
còn nhiều làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chăm sóc giáo dục tr ẻ.
Đứng trước những khó khăn trên bản thân tôi vô cùng lo l ắng, làm th ế
nào để giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ xuống mức thấp nhất.
Vào đầu năm học trẻ lớp nhỡ mới chuyển lên. Sự tiếp thu, l ỉnh h ội
kiến thức còn chậm. Đa số trẻ mới chỉ biết được tên gọi của các loại th ực
phẩm như: Thịt, cá trứng, các loại rau củ quả và mới chỉ biết sơ đẵng một
số dưỡng chất thiết yếu.
Ví dụ trẻ mới chỉ biết thịt giàu chất đạm, bí đỏ giàu vitamin A... Nh ưng tr ẻ
chưa biết những dưỡng chất đó cung cấp dinh dưỡng cho c ơ th ể con
người phát triển như thế nào…
Do đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở độ tuổi mầm non: Sự phát triển chú ý
có chủ định còn hạn chế. Do đó trên tiết học sự chú ý có chủ định của trẻ
chỉ trong thời gian ngắn, trẻ chưa tập trung chú ý vào hoạt đ ộng. Vì v ậy s ự
tích hợp lồng ghép dinh dưỡng vào tiết học càng khó khăn h ơn đòi h ỏi
người giáo viên cần linh hoạt sáng tạo trong quá trình truy ền th ụ kiến
thức cho trẻ.
Giáo dục dinh dưỡng được giáo viên th ực hiện không nh ững ở trên ti ết
học mà còn thực hiện ở mọi lúc mọi nơi: Hoạt động ngoài trời, hoạt động
góc, hoạt động chiều, giờ ăn ...v.v.
Nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ luôn được nhà trường đặt lên hàng đầu.
Do đó . việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ là m ột v ấn đ ề đ ược nhà tr ường
củng như bản thân rất quan tâm. Để biết được tình trạng phát tri ển s ức
khỏe của trẻ như thế nào vào đầu năm học tôi tiến hành cân đo tr ẻ k ết
quả:
Qua cân đo trẻ đợt 1 (Tháng 9/2012) Trẻ bị suy dinh d ưỡng, th ấp còi

rau ăn quả. Cô khái quát và lồng ghép giáo dục dinh d ưỡng: Trong các lo ại


rau, củ, quả có nhiều Vitamin và khoáng chất ăn vào giúp c ơ th ể chúng ta
phát triển khỏe mạnh, chống đỡ mọi bệnh tật. Đặc biệt các lo ại rau, c ủ,
quả có màu đỏ và màu xanh đậm như: Rau ngót, rau dền đỏ, bí đỏ, cà chua,
cà rốt…có rất nhiều Vitamin A ăn vào giúp da dẻ h ồng hào, mắt sáng, tóc
mượt…và các loại Vitamin này các con phải biết ăn đủ và ăn theo nhu cầu.
VD: Hoạt động học “Làm quen với một số con vật nuôi trong gia đình ”
Sau khi cho trẻ quan sát nhận xét về đặc điểm của con bò => Cô khái quát
lại kết hợp lồng giáo dục dinh dưỡng: Bò là động vật nuôi trong gia đình
có 4 chân đẻ con, bò có màu vàng, trên đầu có đôi sừng, có đôi m ắt có mõm,
đuôi bò dài , bò thường hay ăn cỏ. Nuôi bò để kéo xe, l ấy th ịt, l ấy s ữa, th ịt
bò có nhiều chất đạm ăn vào rất tốt cho cơ thể con người, sữa bò có nhiều
canxi và các Vtamin. Các loại sữa tươi sữa hộp mà ở nhà cũng nh ư đến l ớp
các con được bố mẹ cô giáo cho uống hàng ngày đều đ ược pha ch ế t ừ s ữa
bò. Vì vậy các con phải uống sữa để giúp cho cơ th ể khoẻ mạnh thông
minh chóng lớn.
Sau khi cho trẻ quan sát và nhận xét về đặc điểm nổi bật của con gà
cô lồng giáo dục dinh dưỡng: Trong thịt gà, trứng gà có chất đạm, giúp cho
cơ thể phát triển cân đối khoẻ mạnh
Khi cho trẻ so sánh sự giống nhau của hai con vật nuôi trong gia đình. Ví
dụ: Gà và lợn giống nhau chúng đều là động vật sống trong gia đình, đ ược
con người chăm sóc nuôi dưỡng, thịt của chúng đều giàu chất đạm.
Thông qua việc giáo dục đó giúp trẻ biết ích lợi của th ực ph ẩm đ ộng v ật
và trẻ có hứng thú về ăn các loại thực phẩm đó.
Biện pháp 2: Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ trong các giờ ho ạt
động khác.
Thông qua các giờ hoạt động giúp trẻ hiểu thêm về vai trò c ủa t ừng lo ại
lương thực, thực phẩm. Trẻ được tiếp xúc trực tiếp với các loại thức ăn



chóng lớn, thông minh và bài tiết tốt. Vậy các con ph ải ăn h ết su ất c ủa
mình thì cơ thể mới khoẻ mạnh và thông minh đấy.
Ngoài việc giáo dục cho trẻ ăn uống đủ chất vẫn ch ưa đủ mà chúng ta
còn phải giáo dục vệ sinh cho trẻ, phải rửa tay, tr ước khi ăn và r ửa m ặt
sau khi đi ngủ. Vào bàn ăn phải ngồi ngay ng ắn, ng ồi đúng n ơi quy đ ịnh,
đúng chỗ của mình ngồi. Chuẩn bị khăn lau tay, phải có đĩa đ ựng c ơm r ơi
vãi, phải biết mời cô mời bạn trước khi ăn. Trong khi ăn không đ ựơc nói
chuyện, xúc cơm cẩn thận không được rơi vãi ra ngoài, ph ải nhai kỹ, khi ho
phải che miệng hoặc quay ra ngoài, ăn uống t ừ tốn có nề n ếp, khi ăn xong
phải lau miệng, lau tay, không uống nước lã.
Biện pháp 3: Phối hợp với giáo viên dinh dưỡng, nhân viên y tế
trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Hằng ngày trong bữa ăn của trẻ. Giáo viên đ ứng l ớp n ắm kh ẩu v ị c ủa
trẻ và
phối hợp với giáo viên dinh dưỡng chế biến món ăn cho trẻ h ợp kh ẩu v ị,
mùi vị, màu sắc hấp dẫn giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất ăn của mình.
Ví dụ: Trẻ thường thích ăn những thức ăn có màu đỏ như cà chua, cà r ốt.
Để làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ có hiệu quả, tôi th ường
xuyên xuống bếp kiểm tra giám sát giáo viên dinh dưỡng trong vấn đề lựa
chọn thực phẩm, cân, đo, đong, đếm đã chính xác chưa, ch ế biến thành
phẩm như thế nào, màu sắc có hấp dẫn không, đã phù h ợp ch ưa, khẩu
phần ăn của trẻ đảm bảo đủ chất đủ lượng chưa để từ đó góp ý và điều
chỉnh.
VD: Thức ăn mặn “Thịt xào mộc nhĩ” khi thành phẩm th ấy có màu s ắc
chưa đẹp, mùi vị chưa hấp dẫn thì tôi sẵn sàng góp ý cho giáo viên dinh
dưỡng để rút kinh nghiệm lần sau.



để suất ăn đảm bảo đúng định lượng.
Xây dựng góc tuyên truyền: Thông qua góc những điều cha mẹ cần biết
và góc tuyên truyền của nhà trường, giáo viên tuyên truyền cho phụ huynh
biết “10 nguyên tắc vàng trong chế biến thực phẩm”, “10 lời khuyên về
dinh dưỡng hợp lý”, “các cặp thực phẩm xung khắc” điển hình hay g ặp cho
các bậc phụ huynh, in ấn các tờ rơi về các dịch bệnh nh ư: bệnh Chân tay
miệng, bệnh dịch Cúm gia cầm, bệnh Tai xanh…
Hàng quý cân, đo trẻ và báo cáo cho phụ huynh rõ về tình trạng s ức kh ỏe
của trẻ qua góc tuyên truyền.
Giờ đón trả trẻ: Sau các đợt cân đo trẻ tôi tiến hành chấm biểu đồ theo
dõi trẻ để biết được kết quả về sức khỏe của trẻ để qua các giờ đón - trả
trẻ giáo viên trao đổi trực tiếp với phụ huynh về dinh d ưỡng và s ức kh ỏe
của trẻ tại gia đình và nhà trường để kịp thời điều ch ỉnh chế độ ăn cho
trẻ. Báo ngay cho những phụ huynh có cháu suy dinh d ưỡng đ ể cùng nhau
phối hợp và chăm sóc trẻ tốt. Từ đó cùng với nhà tr ường gi ảm t ỷ l ệ suy
dinh dưỡng ở trẻ xuống mức thấp nhất.
* Kết quả đạt được
Đối với trẻ:
Nhận thức được cần ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng để c ơ th ể phát
triển cân đối hài hòa.
Qua việc đưa nội dung lồng ghép giáo dục dinh dưỡng trẻ đã hi ểu đ ược
giá trị dinh dưỡng của thực phẩm, ích lợi của lương th ực qua đó trẻ bi ết
ăn uống đầy đủ, ăn hết suất và biết ăn uống văn minh h ợp vệ sinh
Giáo dục dinh dưỡng trong quá trình hướng dẫn trẻ làm quen v ới môi
trường xung quanh giúp trẻ tiếp thu kiến thức về dinh dưỡng m ột cách
nhẹ nhàng sâu sắc, từ đó các cháu đã có những hiểu biết nh ất đ ịnh v ề dinh


dưỡng, do đó trẻ đã có sức khoẻ tốt hơn, góp phần giảm tỷ lệ suy dinh
dưỡng ở trẻ cụ thể:

Thông qua các lĩnh vực phát triển cho trẻ sẽ góp phần hình thành và
phát triển toàn diện về thể chất cũng như nhân cách của trẻ sau này. Lĩnh
vực này đã cung cấp cho trẻ một số kiến thức đơn giản, nhưng vô cùng
quan trọng đối với cả trẻ em và người lớn.
Giáo dục dinh dưỡng, sức khoẻ góp phần quan trọng trong chiến l ược
con
người tạo ra một lớp người mới có sự hiểu biết đầy đủ v ề v ấn đ ề dinh
dưỡng - sức khoẻ, biết chọn thức ăn một cách thông minh và t ự giác ăn
uống để đảm bảo sức khoẻ cho mình.
Tạo ra một sự liên thông về giáo dục dinh dưỡng liên tục t ừ tu ổi m ẫu
giáo đến tuổi học đường.
Dinh dưỡng và giáo dục dinh dưỡng luôn chiếm m ột v ị trí quan tr ọng
trong

giáo dục mầm non, là nền tảng cho tương lai của trẻ sau này.

Qua thực tế chăm sóc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5-6 tuổi, bản thân tôi.
đã rút ra cho mình bài học kinh nghiệm sau:
Cô giáo phải nắm vững kiến thức về chăm sóc giáo dục tr ẻ mầm non,
thực sự say sưa yêu nghề mến trẻ coi mình như người mẹ hiền thứ hai
của trẻ. Hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của dinh dưỡng liên quan đến
sức khoẻ bệnh tật của trẻ. Từ đó cô xác định trách nhiệm c ủa mình trong
công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
Cô giáo biết nhu cầu dinh dưỡng của trẻ theo từng độ tuổi biết khẩu
phần ăn như thế nào là đầy đủ các chất dinh dưỡng và h ợp lý đ ối v ới m ột
trẻ, biết giá trị dinh dưỡng của các thực phẩm thông th ường của các đ ịa
phương. Gần gũi với trẻ nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, biết


cách chăm sóc cho trẻ biếng ăn quan tâm đến những trẻ ăn yếu, động viên

giáo viên mầm non luôn phải đặt nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ lên hàng
đầu, luôn coi trẻ như con và trở thành người mẹ thứ hai của trẻ. Giáo dục
trẻ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước, có nền tảng v ững
vàng về tri thức cũng như sức khoẻ để bước vào tương lai một cách tự tin
hơn.
Việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ không chỉ là nhiệm vụ c ủa giáo viên
gia đình của trẻ mà còn là nhiệm vụ của toàn xã hội. Để chuẩn b ị cho th ế
hệ mới phát triển đầy đủ sức khoẻ, nhân cách cũng như tri thức. Tôi đã áp
dụng những kiến thức đã được học để vận dụng vào quá trình chăm sóc
giáo dục trẻ. Giúp trẻ phát triển toàn diện trở thành nh ững ch ủ nhân
tương lai của đất nước.
Là một giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn, tôi sẽ cố gắng nhiều hơn n ữa
và chuyển tải những kinh nghiệm vốn có của bản thân tôi đ ể trao đổi v ới
bạn bè đồng nghiệp. Tuyên truyền sâu rộng đến các bậc cha mẹ trẻ và
cộng đồng thấy được tầm quan trọng của việc giáo dục dinh d ưỡng cho
trẻ 5 - 6 tuổi vào quá trình giảng dạy.
3.2 Kiến nghị và đề xuất
Để làm tốt hơn công tác chăm sóc giáo giục trẻ 5-6 tuổi, bản thân tôi
mạnh dạn đưa ra một số đề xuất sau
Đối với nhà trường: Đầu tư thêm trang thiết bị, tranh ảnh về dinh
dưỡng sức khoẻ và an toàn thực phẩm. Xây dựng quy hoạch v ườn rau khoa
học hơn.
Đối với phòng giáo dục: Tăng cường bồi dưỡng giáo dục dinh
dưỡng cho giáo viên, nhân viên.
Đối với phụ huynh: Cần quan tâm, chăm lo đến khẩu phần ăn của
trẻ đảm bảo đủ chất, đủ lượng cho trẻ. Không nên lạm dụng nhiều về
thức ăn chế biến sẵn.


Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi trong việc giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status