I. PHẦN MỞ ĐẦU:
1. LÍ DO CHỌN SÁNG KIẾN
Như chúng ta đã biết, mục tiêu giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ bản ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để tiếp tục học trung học cơ sở.
Nền tảng nhân cách, kỹ năng sống, kỹ năng học tập cơ bản (nghe, nói, đọc,
viết và tính toán) của học sinh được hình thành ở Tiểu học và được sử dụng trong
suốt cuộc đời của mỗi con người. Học sinh tiểu học được dạy từ những thói quen
nhỏ nhất như cách cầm bút, tư thế ngồi viết, cách thưa gửi, đi đứng, ăn mặc cho
đến các kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp, các kỹ năng học tập và khả năng tự
học, sáng tạo. Như vậy, giáo dục Tiểu học là nền tảng của giáo dục phổ thông; đặt
cơ sở vững chắc cho sự hình thành nhân cách và sự phát triển toàn diện của con
người. Thành quả của giáo dục tiểu học có giá trị lâu dài, có tính quyết định, vì
thế, làm tốt giáo dục tiểu học là đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước đặc
biệt trong thời kì Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước hiện nay.
Tại Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã
khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục và Đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp
dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy - học”.
Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo theo Nghị quyết
29/NQ-TW, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 29 của Chính phủ và
kế hoạch hành động của ngành giáo dục. Bắt đầu từ ngày 15/10/2014 học sinh
tiểu học được đánh giá theo Thông tư 30/2014/TT- BGDĐT ngày 28/8/2014 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Với những nội dung đánh giá toàn diện trên
ba mặt. Đó là:
- Đánh giá hoạt động học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh
theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục theo từng môn học và
hoạt động giáo dục.
- Đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực chung của học sinh tiểu học:
tự phục vụ, tự quản; giao tiếp, hợp tác; tự học và tự giải quyết vấn đề.
- Đánh giá sự hình thành và phát triển các phẩm chất: Chăm học, chăm
mà chắc hẳn không chỉ riêng bản thân tôi mà rất nhiều đồng nghiệp khác cũng
quan tâm suy nghĩ với mong muốn là làm sao để phát triển toàn diện về Kiến
thức - Kỹ năng, năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học
và đây cũng là vấn đề mà phụ huynh và xã hội hết sức quan tâm.
2. ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN
2.1 Phạm vi áp dụng của sáng kiến:
Sáng kiến được áp dụng cho giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học đặc biệt
là giáo viên chủ nhiệm khối lớp 2.
Các tiết học chính khóa, tiết ôn luyện hàng ngày của các phân môn, tiết
sinh hoạt lớp, các tiết hoạt động ngoài giờ của học sinh khối 2 ở trường Tiểu học
đang dạy.
Các buổi hoạt động tập thể, hoạt động Đội - Sao, hoạt động ngoại khoá của
toàn trường.
Các buổi họp phụ huynh học sinh của lớp.
2.2 Điểm mới của sáng kiến:
Làm tốt công tác chủ nhiệm lớp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, phát
triển năng năng lực, phẩm chất cho học sinh lớp 2.
Sáng kiến được áp dụng trong năm học 2014 - 2015 khi các trường Tiểu
học trong cả nước triển khai thực hiện Thông tư 30/2014/TT- BGDĐT ngày
28/8/2014 của Bộ giáo dục và Đào tạo.
Việc tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới VNEN đang trong quá
trình thực hiện ở một số trường và một số trường đang tiếp cận với mô hình
VNEN mức 1 nên công tác đổi mới hình thức tổ chức dạy học, thay đổi không
gian lớp học và xây dựng các ban tự quản, ban điều hành... trong lớp cũng mang
tính chất “vừa học, vừa làm”. Trong sáng kiến này, tôi xin đề cập đến những biện
2
pháp để nâng cao chất lượng giáo dục phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh
mà ở đó vai trò của người giáo viên được thay đổi thực sự: họ không còn là người
II. PHẦN NỘI DUNG
1. THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT
CỦA HỌC SINH CHƯA TỐT
1.1 Thực trạng:
Phương pháp giảng dạy, hình thức tổ chức dạy học và giáo dục ở các
trường Tiểu học của nước ta đã quan tâm đến việc phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên còn mang tính bộ phận và hình thức,
đôi khi còn áp đặt, gò bó, chưa quan tâm lắng nghe tâm tư nguyện vọng của
học sinh. Việc đánh giá, sửa sai cho học sinh còn có biểu hiện khắt khe, thiếu
dân chủ, chủ yếu là giáo viên nhận xét, đánh giá. Bởi vậy học sinh còn có
những khiếm khuyết về nhân cách như: rụt rè, thụ động, thiếu tự tin vào bản
thân, không dám đề đạt ý kiến, không mạnh dạn thể hiện khả năng của mình.
Trong lúc đó như chúng ta thấy, học tập là một nhu cầu thường trực
của con người trong mọi thời đại. Học tập không chỉ dừng lại ở các tri thức
khoa học thuần túy mà còn được hiểu là mọi tri thức về thế giới trong đó có
cả các mối quan hệ, cách thức ứng xử với môi trường xung quanh. Cả năng
lực và phẩm chất cơ bản. Năng lực tự phục vụ, tự quản; giao tiếp, hợp tác và
tự học, tự giải quyết vấn đề cùng các phẩm chất như Chăm học, chăm làm;
Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm về bản thân; Trung thực, kỉ luật, đoàn
kết; Yêu gia đình, bạn bè và những người khác; yêu trường lớp, yêu quê
hương, đất nước...
Chương trình học hiện nay đang gặp phải nhiều chỉ trích do quá nặng
nề về kiến thức trong khi những tri thức vận dụng cho đời sống hàng ngày bị
thiếu vắng. Hơn nữa, người học đang chịu nhiều áp lực về học tập khiến cho
không còn nhiều thời gian cho các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội.
Điều này dẫn đến sự “xung đột” giữa nhận thức, thái độ và hành vi với
những vấn đề xảy ra trong cuộc sống.
Thông tư 30/2014/TT- BGDĐT mới được ban hành nên bước đầu sự tiếp cận,
SL
%
29
3
10,3
9
31,1
17
58,6
*Về giao tiếp - Hợp tác
Mạnh dạn, nói rõ Có hình thành năng lực Còn rụt rè, chưa trình
Tổng số ràng, biết nhìn vào giao tiếp nhưng trình bày bày rõ ràng nội dung
người đối thoại
chưa rõ ràng
giao tiếp
HS
SL
%
SL
%
SL
%
29
2
6,9
10
34,5
17
58,6
Chăm học, chăm làm, tham gia hoạt động nhóm lớp...
Chăm học, biết cách lắng Chưa biết cách lắng nghe, hay tách ra
nghe, hợp tác trong nhóm
khỏi nhóm
SL
%
SL
%
12
41,4
17
58,6
Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm
Tự tin, biết chịu trách nhiệm Còn rụt rè, chưa mạnh dạn nhận lỗi và
Tổng số
trước việc mình làm.
sửa lỗi
học sinh
SL
%
SL
%
29
10
41,5
19
65,5
Tổng số
%
SL
%
29
15
51,7
14
48,3
Kết quả trên cho thấy, số học sinh có năng lực, phẩm chất tốt còn ít và
số học sinh có năng lực cần thiết phục vụ cho học tập, sinh hoạt của bản thân
chưa tốt còn nhiều. Chính vì vậy mà việc nâng cao năng lực, phẩm chất cho
học sinh là vấn đề mà tôi rất quan tâm. Để học sinh có được những năng lực
cần thiết phục vụ cho bản thân và những phẩm chất của con người mới người
giáo viên cần phải làm gì? Nhất là những người làm công tác chủ nhiệm vì
nhà trường là nơi tốt nhất để hình thành nhân cách phát triển các năng lực cơ
bản cho học sinh. Đây cũng chính là câu hỏi mà bản thân cần phải tìm tòi
nghiên cứu. Từ những thực trạng trên thôi thúc bản thân tìm ra nguyên nhân
dẫn đến tình trạng “Học sinh có năng lực, phẩm chất hạn chế ” là do đâu? để
từ đó tìm ra biện pháp nâng cao năng lực, phẩm chất cho học sinh.
1.2. Nguyên nhân:
Hiện tượng học sinh Tiểu học, nhất là học sinh lớp 2 chưa biết tự học, tự
chuẩn bị sách vở đồ dùng học tập, còn em ngơ ngác, lúng túng, rụt rè khi phải
xử lí những tình huống của cuộc sống thực, thiếu tự tin trong giao tiếp, thiếu
bản lĩnh vượt qua khó khăn, thiếu sáng kiến và dễ nản chí ngày càng nhiều.
Nguyên nhân do đâu? Phải khẳng định rằng, trước hết do giáo dục. Nhiều vấn
đề của xã hội hiện đại tác động đến trẻ chưa được cập nhật, bổ sung vào
chương trình giáo dục nhà trường. Việc định hướng sai các giá trị là nguyên
nhân gây ra những hiện tượng đáng tiếc trong ứng xử của trẻ. Phương pháp
giáo dục nhồi nhét, lí thuyết không tạo được cho trẻ khả năng tư duy, óc phân
tích, suy xét, phán đoán, không tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm những vấn đề
Về phía các bậc cha mẹ các em luôn nóng vội trong việc dạy con; họ chỉ
chú trọng đến việc con mình về nhà mà chưa đọc, chưa viết, hoặc chưa biết làm
Toán thì lo lắng một cách thái quá! Ngoài ra, một trở ngại nữa là trong lớp có
một số phụ huynh quá nuông chiều con, cung phụng con cái khiến trẻ không có
kĩ năng tự phục vụ trải nghiệm cho bản thân. Ngược lại một số phụ huynh vì bận
nhiều công việc nên ít quan tâm giúp đỡ con em trong các hoạt động cần thiết…
Tóm lại qua thực tế giảng dạy ở trường nhiều năm, bản thân nhận thấy năng
lực của học sinh chưa tốt là do những nguyên nhân cơ bản sau:
- Giáo viên và người lớn chưa thật gần gũi, thân thiện với học sinh. Chưa
lắng nghe tâm tư của các em, chưa gần gũi để hiểu con trẻ.
- Việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất qua việc đổi mới tổ chức
các hoạt động học tập trên lớp còn hạn chế.
- Phát triển năng lực cho học sinh qua các tiết sinh hoạt lớp, hoạt động
giáo dục, vui chơi còn chưa sâu sát.
- Giáo viên chưa tạo điều kiện, cơ hội và chưa khuyến khích trẻ thể hiện
năng lực của mình để điều chỉnh giúp các em.
- Giáo viên khuyến khích động viên khen thưởng học sinh còn ít.
- Công tác tuyên truyền các bậc cha mẹ cùng phối hợp thực hiện để hình
thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho các em các chưa nhiều. Nhiều người
có suy nghĩ chưa đúng về phát triển năng lực cho trẻ em. Đa số chỉ chú trọng
chăm sóc về kiến thức, ăn uống hàng ngày còn cho rằng năng lực là tự bản thân
các em nhìn nhận và tiếp thu qua cuộc sống hằng ngày.
2. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC, PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT CHO HỌC SINH LỚP 2
2.1. Gần gũi và tạo mối thân thiện với học sinh
Đầu tiên, sau khi nhận lớp, để tạo sự gần gũi và gắn kết thân thiện giữa
học sinh và giáo viên chủ nhiệm, bản thân đã sắp xếp thời gian để giáo viên giới
7
phát biểu xây dựng bài, biết chia sẻ kết quả học tập cùng bạn...thì bầu làm trưởng
Ban học tập các em hay học sinh thích văn nghệ, thể thao, có năng khiếu Âm
nhạc, khả năng trình diễn thì bầu làm trưởng ban Văn nghệ - thể thao. Học sinh
thích đọc sách, báo thì bầu làm trưởng Ban thư viện...
Có thể nói, quá trình thành lập Hội đồng tự quản giúp học sinh hiểu được
quá trình bầu cử tự do, công bằng và dân chủ; giúp học sinh nảy sinh những ý
tưởng mới của chính các em. Thông qua hoạt động này học sinh tự giác hơn, phát
huy tinh thần trách nhiệm, sáng tạo trong quản lý và chỉ đạo những công việc
được giao.
Sau khi đã thành lập HĐTQ và các Ban, tôi hướng dẫn Hội đồng tự quản
thực hiện các nhiệm vụ, kĩ năng như người thầy thứ hai:
Trước hết là xây dựng nội quy, nề nếp lớp học (ngay từ đầu năm học) qua
ý kiến của mỗi học sinh đề đạt. Sau đó thống kê lại để có nội quy chung. Ví dụ:
nề nếp ra vào lớp, chuyên cần, đúng giờ giấc, chăm chỉ học tập như học bài,
chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, sách vở trước lúc đến lớp, soạn đúng sách vở theo thời
khóa biểu. Nề nếp giữ vệ sinh trường lớp, thói quen bỏ rác đúng nơi quy
định...Vì nề nếp đó là do các em đề ra nên các em dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ
kiểm tra, nhận xét lẫn nhau.
Tiếp theo tôi triển khai cụ thể nhiệm vụ, chức năng tới tất cả các thành
viên trong HĐTQ. Chủ tịch HĐTQ có nhiệm vụ quản lí, điều hành toàn bộ hoạt
động của lớp, có trách nhiệm phân công, giao nhiệm vụ và đôn đốc các Phó chủ
tịch, các trưởng ban sau mỗi giờ học, ngày học. Giám sát, nắm bắt đầy đủ mọi
tình hình của lớp để có đánh giá, nhận xét từng điểm mạnh, điểm yếu qua mỗi
ngày học sau đó báo cáo giáo viên chủ nhiệm. Các phó chủ tịch Hội đồng phụ
trách theo dõi, đôn đốc, giúp đỡ các bạn thực hiện các nhiệm vụ được phân công.
Ví dụ: nếu phụ trách về học tập thì hàng ngày cùng với Ban học tập kiểm tra việc
chuẩn bị đồ dùng học tập, sách vở...của các bạn...Hay nếu được phụ trách về nề
nếp thì cùng trưởng Ban nề nếp - vệ sinh theo dõi việc thực hiện nề nếp ra vào
9
làm của cô. Câu nhận xét cần ngắn gọn, rõ ràng, đúng ý, nhẹ nhàng, cởi mở và
thiện cảm để kích thích hứng thú, niềm tin cho bạn giúp bạn tiến bộ. Có thể nhận
xét như: “Hôm nay bạn học rất tốt tuy nhiên nếu bạn cố gắng một chút nữa thì
thật tuyệt vời” hay “ Bạn cố lên chúng mình sẽ hỗ trợ cho bạn”...
- Vì là học sinh lớp 2 nên các em còn hạn chế về vốn từ, khả năng diễn đạt
chưa lưu loát và đặc biệt các em còn rụt rè nên ban đầu bản thân tôi đã phải tiếp
sức, huấn luyện rất nhiều cho HĐTQ. Trong đó có thay đổi bầu lại một số thành
viên trong Hội đồng tự quản vì các em làm chưa tốt. Tuy nhiên nếu hội đồng tự
quản làm tốt, hết học kì 1 giáo viên cũng có thể cho bầu lại để cho nhiều học sinh
có cơ hội được tập làm lãnh đạo. Những học sinh đã làm tốt rồi tôi khen ngợi và
động viên các em làm cố vấn cho các bạn mới được bầu vào Hội đồng tự quản
mới. Như vậy, nhiều học sinh được phát huy năng lực và sở trường của mình.
10
2.3 Đổi mới tổ chức lớp học, trang trí lớp học:
Lớp học là “hạt nhân” trong “Mô hình trường học mới Việt Nam”. Bàn ghế
không kê theo kiểu truyền thống mà được bố trí lại để học sinh ngồi theo nhóm,
phù hợp với sự tương tác giữa các bạn trong nhóm và giáo viên.
Ngay từ đầu năm học tôi đã chủ động tham mưu với Đại diện Hội cha mẹ
học sinh kết hợp với cha mẹ học sinh và các em để trang trí lớp học theo hướng
tiếp cận theo mô hình trường học mới. Xung quanh lớp học được trang trí các
phương tiện hỗ trợ học tập như: Góc học tập của em, tủ đựng sách báo, hộp
thông tin “Những điều em muốn nói”, bảng thông tin “Ngày em đến lớp”, bảng
“Nội quy lớp học”, “Hộp thư cá nhân”,… Tất cả đã tạo nên một không gian và
môi trường học tập thân thiện. Góc học tập là nơi để các đồ dùng học tập của học
sinh và các vật dụng để làm đồ dùng trực quan trong các môn học. Các vật dụng
này không cố định mà được thay đổi, linh động theo kế hoạch dạy học. Giáo viên
cần huy động cả học sinh và phụ huynh tham gia chuẩn bị các đồ dùng học tập để
góc học tập trở nên phong phú và phục vụ tốt cho việc học của các em. Đây cũng
những lời chúc mừng bạn. Chính những hoạt động này đã góp phần giúp học
sinh phát huy tốt hơn năng lực tự quản của mình.
2.4. Nâng cao năng lực, phẩm chất của học sinh qua các tiết sinh hoạt lớp,
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thể, vui chơi, hoạt động
ngoại khoá...
Ngay những ngày đầu tiên khi các em vào lớp học, bản thân đã phát động
các phong trào: “Nói lời hay làm việc tốt” qua cách ứng xử lễ phép như biết đi
thưa về trình, chào hỏi những người lớn tuổi, biết xin lỗi khi có khuyết điểm, cảm
ơn khi được tặng quà, vui vẻ hoà nhã với bạn bè, lễ phép với thầy cô và những
người lớn tuổi,... và tổng kết vào các tiết sinh hoạt lớp. Bản thân học cách lắng
nghe, tìm hiểu nguyên nhân, và dùng lời lẽ mềm mỏng bằng những tình cảm, cử
chỉ yêu thương của mình khi yêu cầu điều gì đó với học sinh. Tránh hành hung,
nói nặng lời để các em bớt đi tính hung hăng. Đối với những học sinh nghịch
ngợm, mắc lỗi cần giúp các em nhận ra lỗi sai và tạo cơ hội cho các em sửa
sai. Bởi vì học sinh hoang nghịch hay cá biệt dù cho có khó giáo dục đến đâu đi
chăng nữa thì bên trong các em vẫn luôn tiềm ẩn những nhân tố, những phẩm chất
tích cực nếu có phương pháp đúng chúng ta vẫn khơi gợi để làm thức tỉnh các em.
Để giúp học sinh rèn khả năng giao tiếp, hợp tác có hiệu quả bản thân còn
vận dụng thông qua các hoạt động ngoài giờ học, các buổi ngoại khóa của
trường, lớp. Trong các tiết hoạt động ngoài giờ, giáo viên lồng ghép cho các em
thực hành kĩ năng sống theo những bài học trong sách Thực hành Kĩ năng sống
dành cho học sinh lớp 2 mà Bộ giáo dục vừa xuất bản tháng 9/2013. Tập trung
vào các bài: Lắng nghe và nghe thấy; Ai cũng yêu quý em; Chuẩn bị bài thuyết
trình; Thuyết trình đồng đội; Tương tác hội trường; Tinh thần hợp tác; Kĩ năng
phân công hay hoài bão cuộc đời...Qua đó giúp các em luyện các kĩ năng nghe
và lắng nghe, yêu quý và quan tâm đến những người xung quanh, tự tin khi giao
tiếp trước đông người, biết tương tác khi giao tiếp để tạo sự thân thiện và thuyết
phục người đối thoại. Đặc biệt là đưa ra các tình huống để các em thể hiện tinh
thần hợp tác, kĩ năng phân công nhiệm vụ khi làm việc...
Trong các buổi hoạt động ngoại khoá của trường, của Liên đội giáo viên
động cao điểm của Liên đội, tôi đã thiết kế và tổ chức cho các em tham gia các
trò chơi học tập nhằm tạo không khí “Chơi mà học - Học mà chơi” giúp HS có
sự say mê hứng thú trong học tập và kĩ năng tự giải quyết vấn đề, đồng thời giúp
các em kĩ năng hợp tác, học tập lẫn nhau một cách chủ động, sáng tạo. Không
những thế, bản thân còn khuyến khích các em cùng chia sẻ những cảm nhận,
những suy nghĩ, những quan sát của mình với cô với bạn một cách thoải mái, tự
nhiên không gò bó, áp đặt. Hoặc ở những giờ sinh hoạt lớp, giờ ra chơi bản thân
cùng các em tham gia những trò chơi dân gian, trò chơi giúp các em phát triển trí
tuệ (Cờ vua, Ô ăn quan, mèo đuổi chuột, kéo co)…Ngoài ra, tôi còn tranh thủ
hướng dẫn Ban thư viện tìm những loại sách báo hay phù hợp với lứa tuổi với
chương trình học để đọc cho các em nghe trong mọi tình huống như những lúc
sinh hoạt đầu giờ hoặc trong giờ sinh hoạt lớp. Tăng cường kể cho các em nghe
các câu chuyện cổ tích, câu chuyện trong bài tập đọc, bài thơ,…để qua đó rèn
luyện phẩm chất cho các em, giúp các em hoàn thiện mình, dạy các em kính
trọng thầy cô giáo, yêu quý tự hào về gia đình, ông bà, bố mẹ; thương yêu anh
chị em, đoàn kết với bạn bè, yêu thương con người. Tạo hứng thú cho các em
qua các truyện bằng tranh tùy theo lứa tuổi, gợi mở tính tò mò, ham học hỏi, phát
triển khả năng thấu hiểu ở trẻ.
Bên cạnh đó, để rèn kĩ năng tự phục vụ, biết lao động vừa sức, biết trang
trí lớp học xanh - sạch - đẹp, giúp các em yêu trường, yêu lớp hơn, bản thân đã
hướng dẫn các em ý thức giữ gìn vệ sinh các nhân, giữ gìn sách vở. Đặc biệt
hướng dẫn các em cùng cô giáo trang trí bảng lớp học thân thiện, chăm sóc bồn
hoa cây cảnh trong nhà trường và giáo dục các em biết bảo vệ của công.
Một điều không thể thiếu để tạo sự hưng phấn, vui vẻ, phấn khởi, giúp các
em có ý thức cao trong việc nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện các năng
lực, phẩm chất có hiệu quả là bản thân luôn chú ý đến công tác động viên, khen
thưởng học sinh qua biện pháp sau.
2.5. Động viên, khen thưởng:
Để động viên, khuyến khích học sinh thực hiện tốt nhiệm vụ học tập các
môn học và có tiến bộ trong các mặt rèn luyện năng lực, phẩm chất ngay từ buổi
cho phụ huynh nắm để tạo sự đồng thuận, đồng lòng, đồng sức trong kết hợp giáo
dục toàn diện con em mình. Cụ thể:
Phụ huynh và các thành viên trong gia đinh phải gương mẫu, yêu thương,
tôn trọng, đối xử công bằng với các em và đảm bảo an toàn cho các em.Tạo điều
kiện tốt nhất cho các em vui chơi.
Cô giáo, cha mẹ luôn khuyến khích các em nói lên quan điểm của mình,
nói chuyện với các thành viên trong lớp, trong gia đình về cảm giác và về những
lựa chọn của mình, cần giúp các em hiểu rằng nên có thông số để theo đó mà lựa
chọn, cố gắng không chỉ trích các quyết định của các em. Việc này sẽ hình thành
kĩ năng tự kiểm soát bản thân, rèn luyện tính tự tin cho các em khi tham gia các
hoạt động và các buổi thảo luận tại trường sau này.
Cô giáo, cha mẹ giúp các em phát triển sở thích, ý thích của mình và đảm
bảo rằng người lớn có thể cung cấp thêm phương tiện để các em thực hiện ý
thích đó bằng hoạt động trải nghiệm thực tế. Không nên bao quát hết tất cả các
công việc mà các em thích làm và có thể làm được.
Ví dụ: Một số học sinh thích vẽ, ngoài việc cho các em học năng khiếu vẽ
thì cô giáo, cha mẹ có thể cho các em thêm bút màu, giấy vẽ và hãy chỉ cho các
em cách lưu giữ các bức tranh để tạo thành một bộ sưu tập tranh vẽ của chính các
14
em hoặc triển lãm tranh của các em ở góc nhỏ trong nhà, trong lớp. Hay học sinh
thích văn nghệ thì tạo điều kiện để các em được tham gia các lớp bồi dưỡng thêm
để các em có đủ tự tin biểu diễn trên sân khấu trong những ngày lễ lớn của
trường tổ chức: 20/11; 26/3; Văn nghệ “ Mừng đảng - Mừng xuân”;...
Cô giáo, cha mẹ cần dạy các em những nghi thức văn hóa trong ăn uống,
biết cách sử dụng các đồ dùng ăn uống; Cụ thể: Các em được làm quen với
những đồ dùng, vật dụng khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch
sẽ, gọn gàng, một thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ
dùng, vật dụng, thái độ ăn uống từ tốn, không vội vã, không khí cởi mở, thoải
Từ câu chuyện trên, giáo viên và phụ huynh cùng thảo luận để thấy được
trong cuộc sống hàng ngày các bậc cha mẹ cần tạo mọi điều kiện để con trẻ thực
hiện kỹ năng tự lập, tự phục vụ của mình, giúp các em tự tin và bản thân, chủ
động trong cuộc sống và không lệ thuộc, ỷ lại vào người lớn.
Giáo viên cũng trao đổi để phụ huynh thấy, các em học sinh lớp 2 mặc dù
chưa lớn nhưng các em đã làm quen với môi trường Tiểu học năm thứ 2 nên khi
15
đưa con đến trường phụ huynh nên dừng lại cách cổng trường một khoảng để các
em tự tin bước vào trường, vào lớp. Ở nhà, phụ huynh cần khuyến khích, tạo cơ
hội cho các em làm những công việc phục vụ bản thân như tự tắm rửa, tự ăn
uống, tự đánh răng rửa mặt thường xuyên, tự mặc quần áo, trang phục khi đến
lớp, tự sắp xếp sách vở theo thời khóa biểu hay nhận làm giúp bố mẹ làm việc
nhà tùy theo sức của mình. Khi các em làm cần chú ý quan sát để điều chỉnh và
nên nhớ là khích lệ các em để các em tự tin hăng hái thể hiện mình. Tránh trường
hợp con làm sai thì la mắng hoặc không cho làm nữa như vậy làm cho trẻ mất đi
cơ hội để trải nghiệm thực tế, có lối sống thụ động và khó tiến bộ.
*Các phương pháp nghiên cứu để thực hiện các giải pháp trên:
Nghiên cứu lí luận:
- Nghiên cứu Thông tư 30/2014/TT- BGDĐT; Nghị quyết 29/NQ-TW
- Tìm hiểu tài liệu Hỏi - Đáp về mô hình, phương pháp dạy học VNEN.
- Tìm đọc các tài liệu về tâm lí lứa tuổi học sinh Tiểu học.
- Tìm đọc tài liệu có liên quan đến việc hình thành và phát triển năng lực cho học
sinh.
Nghiên cứu thực tế:
+ Khảo sát thực tế học sinh: Qua hai đợt (đầu năm và cuối học kì 1)
+ Phương pháp quan sát:
Quan sát hoạt động tự quản, ý thức tự phục vụ ( Xem các em đã chuẩn bị sách
vở, đồ dùng học tập như thế nào, ý thức giữ gìn sách vở, vệ sinh các nhân ra sao...)
trong suốt quá trình giảng dạy.
Qua từng tiết dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh kĩ năng làm việc theo
nhóm: biết cách phân công công việc, lắng nghe ý kiến người khác, tranh luận,
biết chấp nhận đúng sai, thống nhất ý kiến, thực hiện đúng ý kiến đã thống
nhất… Đây là kĩ năng hết sức cần thiết khi các em trưởng thành, làm việc trong
tập thể.
Trong sinh hoạt hằng ngày, giáo viên cần chú ý nâng dần kĩ năng giao tiếp tự nhận thức cho các em như biết sử dụng đúng các quy tắc: chào hỏi, xin phép,
cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu… Biết cảm thông, chia sẻ buồn vui với mọi người. Đặc
biệt trẻ tiểu học thường hay bắt chước người lớn và rất tin tưởng ở các thầy giáo,
cô giáo. Vì vậy, mỗi giáo viên cũng phải luôn thường xuyên tự rèn kĩ năng giao
tiếp ứng xử của mình luôn thể hiện là tấm gương trong sáng, mẫu mực cho học
sinh noi theo.
Trong tổ chức các hoạt động lao động cần chú ý vừa sức với học sinh: vệ
sinh sân trường, lớp học, trồng chăm sóc cây trên sân trường, bồn hoa, vườn
trường... học sinh được rèn một số kĩ năng như: cầm chổi quét, hốt rác, tưới cây,
tỉa lá,... thông qua đó học sinh biết sử dụng có hiệu quả đồ dùng lao động.
Hình thành và phát triển năng lực, rèn phẩm chất đạo đức cho mọi người nói
chung và học sinh nói riêng là điều rất cần thiết. Nó trang bị đầy đủ những kĩ năng
cho các em để các em có được cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Đồng thời giúp các
em từ bỏ thói quen xấu, hành vi tiêu cực để trở thành con ngoan, trò giỏi và là người
có ích cho xã hội sau này.
3. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
Qua khảo sát lần 2 ở lớp 2B (cuối học kì 1) với chủ đề “Năng lực và phẩm
chất của em” kết quả so với đầu năm thì các em tiến bộ rất nhiều. Cụ thể như sau:
Về năng lực:
* Tự phục vụ - Tự quản:
Thực hiện tốt việc Thực hiện khá tốt việc
Chưa biết thực hiện
%
SL
%
SL
%
29
10
34,5
14
48,3
5
17,2
*Về tự học và giải quyết vấn đề:
Biết tự học, tự giải
Còn trông chờ sự
Bước đầu biết tự học song
giúp đỡ của cô giáo và
Tổng số quyết vấn đề học
chưa thật chủ động
tập
bạn bè
HS
SL
%
SL
%
SL
%
29
13
trước việc mình làm.
sửa lỗi
SL
%
SL
%
24
82,8
5
17,2
Trung thực, kỉ luật, đoàn kết
Chấp hành nội quy trường, lớp Chấp hành nội quy trường lớp
Tổng số tốt, ứng xử hài hòa, vui vẻ với chưa tốt, còn cãi nhau, chưa thân
học sinh bạn.
thiện với bạn bè.
SL
%
SL
%
29
25
86,2
4
13,8
Yêu gia đình, bạn bè và những người khác
18
Cha mẹ học sinh đã hiểu được lợi ích của việc đổi mới hình thức tổ chức dạy
học, đổi mới tổ chức lớp và đổi mới đánh giá ảnh hưởng tiachs cực đối với con
em họ và nhiệt tình hưởng ứng.
Kết quả cuối học kì 1
Hoạt động
giáo dục
MÔN HỌC VÀ
HOẠT ĐỘNG GD
NĂNG LỰC
PHẨM CHẤT
Hoàn thành
( Đạt)
Chưa hoàn thành
( Chưa đạt)
SL
29
%
100
SL
0
%
0
29
Trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước ta, khi yếu tố con người được
coi trọng về tiềm năng trí tuệ cùng với sức mạnh tinh thần. Nhân cách của con người
càng được đề cao và phát huy mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực xã hội. Thực tế hiện nay
ngành giáo dục đào tạo đã được nhà nước quan tâm đưa lên quốc sách hàng đầu thì
việc dạy chữ nói chung và việc rèn năng lực, phẩm chất nói riêng là vấn đề đặc biệt
quan trọng. Một nhà hiền triết đã nói “khoa học mà không có hành vi đạo đức thì chỉ
là sự tàn rụi của linh hồn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nói: Có tài mà không
có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Điều đó
cho thấy năng lực quan trọng nhường nào đối với mỗi chúng ta mà năng lực đó chính
là kĩ năng sống của học sinh. Vì vậy việc thực hiện rèn kĩ năng sống để nâng cao
năng lực cho học sinh là cần thiết biết bao.
Trẻ em trong lứa tuổi tiểu học rất hồn nhiên ngây thơ trong trắng. Vốn kiến
thức, vốn kinh nghiệm sống của các em mới có rất ít. Vì vậy muốn đạt được mục tiêu
giáo dục phát triển toàn diện của nhà trường, các thầy cô giáo cần phải kiên trì, nhiệt
tình, có tâm huyết với nghề. Bên cạnh kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, người
giáo viên phải có vốn kiến thức tâm lý học, hiểu được tâm sinh lý của trẻ, gần gũi, tạo
mối thân thiện với trẻ. Từ đó sẽ tìm ra được những phương pháp hiệu quả để giáo dục
trẻ. Việc dạy “chữ” cần luôn song hành với việc dạy “làm người”, và phải được
xuất phát ngay từ những tình huống, những việc làm nhỏ nhất trong cuộc sống thực tế
của học sinh. Ngay trong những giờ học ngoài việc đảm bảo mục tiêu kiến thức, kĩ
năng của bài, giáo viên cần chú ý đến việc hình thành và phát triển năng lực cho học
sinh qua việc tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng Hội đồng tự quản, xây dựng nề
nếp lớp học...Học sinh được nâng cao năng lực, phẩm chất qua nội dung kiến thức
của bài, qua lĩnh hội kiến thức pháp luật, qua tham gia các hoạt động học tập trong
lớp, hoạt động ngoài giờ, hoạt động vui chơi do giáo viên và Liên đội tổ chức. Tích
cực đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, động
20
viên khuyến khích, khen thưởng các em để các em hăng hái tham gia các hoạt động
thức tổ chức dạy học.).Qua các hoạt động học tập, học sinh được rèn các kĩ năng
phân tích, tổng hợp, tư duy sáng tạo, hợp tác theo nhóm, kĩ năng đánh giá, nhận
xét, kĩ năng hợp tác trong nhóm, kĩ năng xử lý tình huống,...
1.6/ Thường xuyên tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi tập thể lành mạnh, chơi
các trò chơi dân gian, tổ chức các hoạt động văn nghệ thể thao, qua các hoạt động
rèn cho học sinh kĩ năng ứng xử với bạn bè, xây dựng tinh thần đoàn kết tốt, kĩ
năng lắng nghe, kĩ năng hợp tác, kĩ năng quyết định, biết kiềm chế bản thân trong
khi xử lí các tình huống với bạn bè. Luôn tạo mọi điều kiện để các em có thể bày
tỏ, thể hiện mình, tham gia tốt các buổi hoạt động ngoại khóa của trường, lớp.
1.7/Tổ chức các hoạt động lao động vừa sức với học sinh: vệ sinh sân trường, lớp
học, trồng chăm sóc cây trên sân trường, bồn hoa, vườn trường; học sinh được
rèn một số kỹ năng như: cầm chổi quét, hốt rác, tưới cây, tỉa lá,...; thông qua đó
học sinh biết sử dụng có hiệu quả đồ dùng lao động.
21
1.8/ Hình thành và phát triển năng lực cho học sinh không phải là công việc “một
sớm, một chiều” mà đòi hỏi phải có quá trình, kiên nhẫn và bằng cả tâm huyết và ở
mọi lúc, mọi nơi, thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em. Năng lực các em
không đồng đều mà mang tính cá nhân rất đa dạng và mang đặc trưng vùng, miền
đòi hỏi người giáo viên phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với
nhu cầu, trình độ của học sinh và đặc điểm, hoàn cảnh của nhà trường, địa phương.
Cho nên cần tổ chức các cuộc nói chuyện chuyên đề về nâng cao năng lực, phẩm
chất của học sinh cho giáo viên, phụ huynh, cộng đồng và học sinh.
1.9/ Trẻ tiểu học thường hay bắt chước người lớn và rất tin tưởng ở các thầy giáo,
cô giáo. Vì vậy, mỗi giáo viên cũng phải luôn thường xuyên tự rèn năng lực,
phẩm chất của mình cũng như tác phong sinh hoạt ứng xử mẫu mực để học sinh noi
theo. Đặc biệt phải hết lòng thương yêu và tôn trọng học sinh. Hãy luôn ghi nhớ:
“Học trò không phải là một chiếc bình cần đổ đầy kiến thức, các em là những
ngọn đuốc cần được thắp lên”
lực của mình để có sự giáo dục cho phù hợp.
22
- Quan tâm giáo dục phẩm chất đạo đức cho con em để các em trở thành con
ngoan, trò giỏi đem lại niềm vui, niềm tự hào cho gia đình và xã hội.
Trên đây là những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn quá trình tổ chức thực
hiện của bản thân về việc nghiên cứu kinh nghiệm “Làm tốt công tác chủ nhiệm lớp
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển năng lực, phẩm chất cho học
sinh lớp 2”. Rất mong được nhận sự giúp đỡ, góp ý bổ sung của Ban giám hiệu
nhà trường, các cấp quản lý giáo dục và các bạn đồng nghiệp để bản sáng kiến có
có tính thực thi cao hơn và có thể áp dụng rộng rãi hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, ngày 10 tháng 01 năm 2015
23
24