Đánh giá mức độ tập trung và hiệu quả hoạt động của ngành dệt tại việt nam năm 2010 - Pdf 65

-

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Lý thuyết về đo lường tập trung thị trường
Đo lường tập trung thị trường là đo lường vị trí tương đối của các doanh nghiệp lớn
trong ngành. Tập trung thị trường chỉ mức độ mà sự tập trung sản xuất vào một thị trường
đặc biệt hay là sự tập trung sản xuất của ngành nằm trong tay một vài hãng lớn trong
ngành.
Một ngành có mức độ tập trung cao tức là một ngành được chi phối bởi một số ít
hãng. Nói chung, mức độ tập trung thị trường biểu thị sức mạnh thị trường của những
hãng lớn, nghĩa là ngành càng tập trung thì các hãng lớn càng có sức mạnh thị trường cao
và ngược lại. Đánh giá mức độ tập trung thị trường sẽ mô tả được cấu trúc cạnh tranh thị
trường ngành và biểu thị được mức độ quyền lực thị trường của các hãng lớn trong ngành.
Trong phần lớn các thị trường, mức độ cạnh tranh nằm giữa 2 mức là cạnh tranh
hoàn hảo (mức độ tập trung thấp nhất) và độc quyền (mức độ tập trung cao nhất). Phương
pháp đo mức độ tập trung cung cấp một cách thức đơn giản để đo mức độ cạnh tranh của
một thị trường. Ta có hai chỉ số đo mức độ tập trung của thị trường là chỉ số HHI và tỷ lệ
tập trung CRm.
1.1.1. Chỉ số Herfindahl Hirschman (HHI)
Chỉ số này lần đầu tiên được sử dụng bởi Hirschman và sau này là Herfindahl, tính
đến tất cả các điểm của đường cong tập trung, bằng cách tổng bình phương thị phần của
tất cả các doanh nghiệp trong ngành.
Công thức:
Trong đó:
• wi là các mức thị phần, tỉ lệ về sản lượng sản xuất hay sản lượng bán hoặc là
chỉ số khác đo lường hoạt động kinh doanh như doanh thu, công suất… mà mỗi
doanh nghiệp chiếm lĩnh trên thị trường.
• n là tổng số doanh nghiệp tham gia thị trường.
Quy ước: HHI sẽ nằm trong khoảng (0;10000)
• HHI = 0: Tồn tại vô số các công ty nhỏ trong ngành.
1

Công thức:
Trong đó:
• wi là thị phần của doanh nghiệp thứ i
• m là số các doanh nghiệp lớn trong ngành. Khi m khác nhau thì các kết luận về
mức độ tập trung của thị trường cũng khác nhau.
Tỷ lệ CRm càng tiệm cận 1 thì độ tập trung của ngành càng cao và càng tiệm
cận 0 thì độ tập trung của ngành ngày càng thấp.
2


Ưu điểm và nhược điểm của CRm:
• Ưu điểm: Đặc biệt thích hợp khi mô tả thực nghiệm trình độ tập trung hóa của
một ngành nào đó vì nó dễ tính toán, dễ hiểu và có tính trực giác cao.
• Nhược điểm:
- Lực chọn m tùy ý sẽ đưa ra các kết luận không chính xác và để khắc phục
khuyết điểm này đa số các nước đã thống nhất chọn m = 4.
- Sự chuyển dịch sản lượng hay sự sát nhập có thể tạo ra những thay đổi về tỷ lệ
tập trung. Tuy nhiên, nếu không làm thay đổi m doanh nghiệp đứng đầu ngành
thì CRm sẽ không chịu tác động của sự sát nhập hay dịch chuyển sản lượng ấy.
1.2. Lý thuyết về đo lường hiệu quả của hoạt động thị trường
1.2.1. Chỉ số vòng quay tổng tài sản (TTS)
Chỉ số vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh
nghiệp. Nó cho biết mỗi đồng tài sản tạo ra cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu.
Công thức:
Chỉ số vòng quay tổng tài sản =
Chỉ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công
ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả. Tuy nhiên, muốn có kết quả
chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty chúng ta cần so
sánh chỉ số vòng quay tổng tài sản của công ty đó với hệ số vòng quay tổng tài sản bình
quân của ngành.

Vì lợi nhuận ròng chia cho doanh thu bằng tỷ suất lợi nhuận biên, còn doanh thu
chia cho giá trị bình quân tổng tài sản bằng hệ số quay vòng của tổng tài sản, nên còn một
cách nữa để tính tỷ số lợi nhuận trên tài sản là:
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản = Tỷ suất lợi nhuận biên × Số vòng quay tổng tài sản
Tỷ số này lớn hơn 0 thì doanh nghiệp làm ăn có lãi, nhỏ hơn 0 thì doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ. Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả.
1.3. Lý thuyết về mô hình SCP (Structure – Conduct – Performance)
Mô hình SCP bao gồm 3 yếu tố chính:
• Cấu trúc: Nói đến các yếu tố công nghệ, mức độ tập trung của ngành và điều
kiện thị trường. Những đặc tính này tác động đến bản chất cạnh tranh và hành
vi giá cả.

4


• Hành vi: Mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường có cấu trúc ngành khác
nhau sẽ có chiến lược kinh doanh về giá, quảng cáo, đầu tư cho hoạt động
nghiên cứu và phát triển hay tìm cách liên kết với các doanh nghiệp khác.
• Hiệu quả: Kết quả hành vi của các hãng trên thị trường sẽ liên quan đến việc
liệu mức giá thị trường hãng đặt ra cho sản phẩm của mình đã hợp lý chưa,
nguồn lực đã được phân bổ hiệu quả hay chưa và liệu rằng phúc lợi xã hội đã
được đối đa hoá hay chưa khi họ sử dụng sản phẩm của hãng mình.
Tóm lại, mô hình SCP dựa trên lý thuyết tổ chức doanh nghiệp, qua đó, khi nghiên
cứu cấu trúc thị trường (Structure), người ta có khuynh hướng xem xét liệu những khác
biệt về cấu trúc sẽ giải thích những khác biệt về hành vi của các doanh nghiệp (Conduct)
về các phương diện chiến lược giá cả, chiến lược đầu tư, các hình thức liên kết, hợp tác,
và tác động của cấu trúc – hành vi đến hiệu năng hoạt động (Performance) của doanh
nghiệp.

5


- Chuẩn bị sợi dệt: quay và dệt sợi; tẩy nhờn và cácbon hoá len, nhuộm len lông cừu;
trải len lông các loài động vật, thực vật và sợi nhân tạo;
- Xe sợi và sản xuất sợi cho dệt hoặc may để buôn bán hoặc chế biến thêm;
- Sản xuất sợi, kết, cuộn, ngâm sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo;
- Sản xuất vải cotton rộng bản, vải len, vải lụa, vải lanh bao gồm cả sợi nhân tạo
hoặc tổng hợp;
- Sản xuất sợi giấy.
Loại trừ:
- Công việc chuẩn bị được thực hiện gắn với nông nghiệp hoặc trang trại được phân
vào ngành 01 (Nông nghiệp và hoạt động dịch vụ có liên quan);
- Ươm các cây lấy sợi (đay, gai, lanh..) được phân vào nhóm 01160 (Trồng cây lấy
sợi);
- Tỉa hột bông được phân vào nhóm 01630 (Hoạt động dịch vụ sau thu hoạch);
- Sản xuất sợi tổng hợp hoặc nhân tạo, sản xuất sợi đơn (bao gồm sợi dai và sợi
dùng dệt thảm) từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo được phân vào nhóm 20300 (Sản
xuất sợi nhân tạo);
- Sản xuất sợi thuỷ tinh được phân vào nhóm 23100 (Sản xuất thuỷ tinh và sản phẩm
từ thuỷ tinh).
• Sản xuất vải dệt thoi (1312 – 13120)

Nhóm này gồm:
- Sản xuất vải cotton khổ rộng bằng cách đan, tấm vải đan, thêu, bao gồm từ sợi
nhân tạo hoặc tổng hợp
7


- Sản xuất các tấm vải khổ rộng khác sử dụng sợi lanh, gai, đay và các sợi đặc biệt;
- Sản xuất vải len tuyết, viền, vải bông, gạc;
- Sản xuất tấm vải từ sợi thuỷ tinh;

• Sản xuất vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác (1321 – 13210)

Nhóm này gồm:
- Sản xuất và gia công các sản phẩm vải len như:
+ Vải nhung và vải bông,
+ Lưới và đồ trang trí cửa sổ, vải đan trên máy Raschel và các máy tương tự,
+ Các loại vải bằng đan móc khác
- Sản xuất sản phẩm giả da lông thú từ việc may đan .
Loại trừ:
- Sản xuất lưới và đồ trang trí cửa sổ, vải màn dạng ren được đan từ máy Raschel
hoăc từ các máy móc tương tự được phân vào nhóm 13290 (Sản xuất các loại hàng
dệt khác chưa được phân vào đâu)
9


- Sản xuất quần áo, đồ trang sức trang điểm đan thêu được phân vào nhóm 14300
(Sản xuất trang phục dệt kim, đan móc).


Sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) (1322 – 13220)
Nhóm này gồm:
- Sản xuất sản phẩm may sẵn từ bất kỳ nguyên liệu dệt nào, kể cả vải len như:
+ Chăn, túi ngủ,
+ Khăn trải giường, bàn hoặc bếp,
+ Chăn, chăn lông vịt, đệm ghế, gối và túi ngủ.
- Sản xuất các sản phẩm dệt may sẵn như:
+ Màn, rèm, mành, ga trải giường, tấm phủ máy móc hoặc bàn ghế,
+ Vải nhựa, lều bạt, đồ cắm trại, buồm, bạt che ô tô, che máy móc và bàn ghế,
+ Cờ, biểu ngữ, cờ hiệu...
+ Vải lau bụi, khăn lau bát, chén đĩa và các đồ tương tự, áo cứu đắm, dù, Nhóm này

cáp, dây chão có lõi bằng kim loại, dây đeo, lót đệm…
Loại trừ:
- Sản xuất lưới tóc được phân vào nhóm 14100 (May trang phục (trừ trang phục từ
da lông thú));
11


- Sản xuất dây kim loại được phân vào nhóm 2599 (Sản xuất sản phẩm khác bằng
kim loại chưa được phân vào đâu).
• Sản xuất các loại hàng dệt khác chưa được phân vào đâu (1329 – 13290)

Nhóm này gồm:
Hoạt động liên quan đến dệt hoặc sản phẩm dệt chưa được phân vào đâu trong
ngành 12, 13.
Cụ thể:
- Sản xuất các sản phẩm tấm dệt khổ hẹp, bao gồm các tấm dệt sợi ngang không có
sợi dọc được ghép với nhau thông qua chất kết dính,
- Sản xuất nhãn hiệu, băng rôn…
- Sản xuất đồ tỉa trang trí: vải viền, quả tua,
- Sản xuất nỉ,
- Sản xuất màn tuyn và các màn bằng vải khác, sản xuất viền đăng ten cuộn, đăng
ten mảnh, dải hoặc mẫu ten rời để trang trí,
- Sản xuất tấm dệt được tẩm, được phủ hoặc tráng nhựa,
- Sản xuất sợi kim loại hoá hoặc dây thừng và dây cao su có lớp nguyên liệu dệt phủ
ngoài, sợi dệt được tráng, phủ hoặc bọc bằng cao su hoặc nhựa,
- Sản xuất vải bố làm lốp xe bằng sợi nhân tạo có độ bền cao,
- Sản xuất các loại vải được tráng hoặc xử lý khác nhau như: quần áo đi săn, vải
buồm, lều bạt, vải dùng cho hoạ sĩ, vải thô và các loại vải hồ cứng...
- Sản xuất các sản phẩm dệt khác: bấc đèn, mạng đèn măng sông,
12

ngành dệt, ta thực hiện các bước sau:
Bước 1: Sử dụng phần mềm Stata mở bộ số liệu năm 2010 chọn file
dn2010_old.dta;
Bước 2: Sử dụng lệnh “keep madn ma_thue ma_thue2 nganh_kd ld11 ld13 ts11 ts12
kqkd1 kqkd4 kqkd9 kqkd14 kqkd19 cpnc11” để lọc ra các biến cần thiết;
Chi tiết các biến có trong bảng sau:
Bảng 1: Các biến được sử dụng
Tên biến
Mã doanh nghiệp
Mã số thuế
Mã số thuế 2
Ngành kinh doanh chính
Tổng số lao động trong ngành thời điểm 1/1/2010
Tổng số lao động trong ngành thời điểm 31/12/2010
Tổng tài sản thời điểm 1/1/2010
Tổng tài sản thời điểm 31/12/2010
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ
Doanh thu hoạt động tài chính
Thu nhập khác
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
Tổng chi phí cho nghiên cứu khoa học công nghệ

Ký hiệu biến
Madn
ma_thue
ma_thue2
nganh_kd
ld11
ld13

Bước 5: Dùng lệnh “Sort by => Wi => Largest to smallest => ok” để sắp xếp Wi
theo thứ tự nhỏ dần;
Bước 6: Tính toán các chỉ số CR 4 và HHI vào bảng nhỏ đã lập trước đó dựa vào cơ
sở lý thuyết.
2.2.2.2. Kết quả tính toán và ý nghĩa các chỉ số đo lường mức độ tập trung của
ngành dệt
Từ bộ số liệu được cung cấp và những kiến thức đã học, nhóm nghiên cứu tính toán
được các chỉ số CR4, HHI cho 2 mã ngành 131 và 132 được kết quả như sau:
Bảng 2: Chỉ số CR4, HHI và số lượng doanh nghiệp trong ngành dệt
Mã ngành
131
132
Toàn ngành


Số lượng doanh
nghiệp
77
49
126

HHI

CR4

672.2369
494.0033
489.1111

0.4430

672.2369

0.4430

Năm 2010, ngành sản xuất sợi, vải dệt thoi và hoàn thiện sản phẩm dệt (131) là
ngành có số lượng doanh nghiệp lớn hơn trong 2 mã ngành của toàn ngành dệt ở Việt
Nam. Chỉ số HHI của ngành này là 672.2369 < 1000, thể hiện ngành có mức độ tập trung
thấp và mức độ cạnh tranh là không đáng lo ngại. Bên cạnh đó, chỉ số CR4 đạt mức
0.4430, đồng nghĩa với việc 4 doanh nghiệp lớn nhất trong ngành chiếm gần 45% doanh
thu toàn ngành, một con số khá ấn tượng so với số lượng 77 doanh nghiệp đang hoạt động
trong ngành tại thời điểm đấy.
Nguyên nhân dẫn đến mức độ tập trung thấp của mã ngành 131 là do số lượng
doanh nghiệp trong ngành này tương đối cao so với toàn ngành dệt ở Việt Nam.
Theo số liệu thống kê, bốn doanh nghiệp đứng đầu chiếm lĩnh thị phần lần lượt là:
-

Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa (madn: 256643)
Công ty TNHH Hyosung Việt Nam (madn: 545736)
Công ty hữu hạn sợi Tainan Việt Nam (madn: 21792)
Công ty CP Dệt Texhong Nhơn Trạch (madn: 473703)

Biểu đồ 1: Thị phần các doanh nghiệp trong ngành sản xuất sợi, vải dệt thoi và hoàn
thiện sản phẩm dệt năm 2010
Trong đó doanh nghiệp đứng đầu là Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa, chiếm
lĩnh 18% thị phần toàn ngành, cao hơn hẳn các doanh nghiệp khác và cao hơn gấp 2 lần
thị phần của doanh nghiệp đứng thứ 4 là Công ty TNHH Coats Phong Phú (8%). Công ty
TNHH Hưng Nghiệp Formosa là doanh nghiệp có 100% vốn đầu từ từ Đài Loan và được
thành lập khá sớm hơn so với các doanh nghiệp khác, đây cũng là một điều kiện giúp
doanh nghiệp này có cơ hội phát triển hơn các doanh nghiệp còn lại.
b. Mã ngành sản xuất hàng dệt khác (132)

-

Công ty CP công nghiệp nhựa Phú Lâm (madn: 8930)
Công ty TNHH Ulhwa Việt Nam (madn: 181308)
Công ty TNHH Minh Hưng Tiền Giang (madn: 670973)
Công ty TNHH Toyota Boshoku Hải Phòng (madn: 379427)

Biểu đồ 2: Thị phần của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất hàng dệt khác năm
2010
Trong đó, Công ty CP công nghiệp nhựa Phú Lâm chiếm 13% thị phần, cao nhất
trong ngành này và cao gấp 2 lần doanh nghiệp đứng thứ 4 là Công ty TNHH Toyota
Boshoku Hải Phòng (6%). Cũng với 100% vốn đầu tư từ Đài Loan, công ty CP công
nghiệp nhựa Phú Lâm bên cạnh ngành chính là sản xuất sản phẩm từ plastic, còn đi đầu
trong ngành sản xuất vải dệt kim ở nước ta.
2.2.3. Khoa học công nghệ và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
2.2.3.1. Khoa học công nghệ
17


Trong thời đại phát triển, khoa học công nghệ là một trong những yếu tố mang tính
quyết định đến sự phát triển của ngành. Tuy nhiên, hàm lượng khoa học công nghệ trong
mỗi ngành là khác nhau. Một số ngành có nhu cầu cao về lao động, trong khi một số
ngành lại có nhu cầu lớn về vốn đầu tư nhà xưởng, máy móc, thiết bị. Vì vậy, sau đây
chúng ta sẽ đi tìm hiểu về hàm lượng công nghệ trong ngành dệt.
Hàm lượng khoa học công nghệ được biểu thị qua các biến:
- Biến thể hiện Tổng chi phí cho nghiên cứu khoa học: cpnc11
- Biến thể hiện Tổng số lao động: ld11, ld13
a. Cách tính toán
Sử dụng lệnh SUM tính trổng các cột cpnc11, ld11 và ld13 cho từng mã ngành 131
và 132.

dệt Việt Nam năm 2010 bằng 10181. Trong đó, mã ngành 131 chi nhiều hơn cả là 9628.
Đặc biệt trong cả 2 mã ngành 131 và 132 chỉ có duy nhất ngành sản xuất vải dệt thoi –
13120 và ngành sản xuất vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác – 13210 chiếm
toàn bộ tổng chi phí nghiên cứu khoa học. Tổng lao động của ngành ở thời điểm 1/1/2010
và 31/12/2010 lần lượt là 91231 và 94744, lượng tăng lao động là không đáng kể. Trong
đó, lượng lao động của mã ngành 131 tăng cao hơn lượng lao động của mã ngành 132. Từ
đó, ta có thể cho rằng, do đầu tư vào nghiên cứu khoa học nên mã ngành 131 cũng cần
nhiều lao động có trình độ hơn để việc sản xuất có thể hoạt động trôi chảy. Ở thời điểm
năm 2010, các doanh nghiệp đã có sự chú trọng vào việc đầu tư vào khoa học công nghệ.
18


Về lâu dài, đây sẽ là một trong những yếu tố giúp tăng sức mạnh cạnh tranh, cũng như
thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành.
2.2.3.2. Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Để xác định hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp hay một ngành, người ta
thường thông qua việc tính toán 4 nhóm chỉ số:
-

Nhóm chỉ số phản ánh khả năng thanh toán
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng hoạt động
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng gặp rùi ro
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lời
Trong tiểu luận này, nhóm nghiên cứu sẽ chỉ phân tích hiệu quả hoạt động của doanh

nghiệp dựa vào nhóm chỉ số phản ánh khả năng hoạt động và nhóm chỉ số phản ánh khả
năng sinh lời, cụ thể là các chỉ số:
- Chỉ số vòng quay tổng tài sản (TTS)
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

Từ kết quả trên ta có thể thấy các chỉ số phản ánh khả năng hoạt động và khả năng
sinh lời của 2 mã ngành trong ngành dệt của Việt Nam năm 2010 đều dương và không có
khác biệt quá lớn.
19


Sau đây ta sẽ đi phân tích từng mã ngành:
• Mã ngành Sản xuất sợi, vải dệt thoi và hoàn thiện sản phẩm dệt 131
Bảng 7: Thống kê chỉ số vòng quay TTS, ROS, ROA của mã ngành 131
Chỉ số vòng quay TTS
1.0794

ROS
0.0857

ROA
0.0812

Cả 3 chỉ số đều dương nhưng ROS và ROA khá nhỏ. Chỉ số vòng quay tổng tài sản
là 1.0794 cho biết cứ 1 đồng vốn đầu tư vào tổng tài sản thu về 1.0794 đồng doanh thu.
Bên cạnh đó, chỉ số ROS = 0.0857 cho biết cứ 1 đồng vốn doanh thu thì doanh nghiệp
kiếm được 0.0857 đồng lời nhuận. Ngoài ra tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA =
0.0812 cho biết bình quân cứ 1 đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh
doanh sẽ tạo ra được 0.0812 đồng lợi nhuận.
• Mã ngành Sản xuất hàng dệt khác 132
Bảng 8: Thống kê chỉ số vòng quay TTS, ROS, ROA của mã ngành 132
Chỉ số vòng quay TTS
0.9835

ROS

doanh nghiệp w

Chi phí kinh
doanh kqkd12

Lợi nhuận sau thuế
thu nhập doanh nghiệp
kqkd19

Chi phí khác
kqkd15

Về phương pháp phân tích sẽ sử dụng mô hình hồi quy bội để hồi quy biến cấu trúc
thị trường (w) có tác động gián tiếp lên biến kết quả thị trường (kqkd19) và tất cả các biến
hành vi thị trường (kqkd7, kqkd12, kqkd15) có tác động trực tiếp đến biến kqkd19.
Phương trình hồi quy được sử dụng (bình phương tối thiểu - OLS) có dạng:

Trong đó: w được tính bằng tỉ lệ giữa doanh thu doanh nghiệp và doanh thu toàn
ngành
2.3.2. Hồi quy mô hình
Thực hiện hồi quy mô hình bằng phần mềm Stata và kiểm định mô hình. Ta thu
được kết quả như sau:

21


Mô hình sau khi ước lượng:




thì ngành Sản xuất sợi, vải dệt thoi và hoàn thiện sản phẩm – 131 đang trở thành một
ngành sản xuất tiềm năng. Còn lại mã ngành 132, chỉ số vòng quay tổng tài sản đạt
0.9835, tuy thấp hơn mã ngành 131 nhưng cũng thể hiện không hề kém cạnh về sự phát
triển trong tương lai.
Khác với nhóm chỉ số phản ánh khả năng hoạt động, nhóm chỉ số phản ánh khả năng
sinh lời của 2 mã ngành thuộc thị trường dệt tại Việt Nam tương đối thấp. Nguyên nhân
có thể kể đến là sự đa dạng của thị trường vải các loại với nhiều mẫu mã và giá thành
cạnh tranh. Chưa kể, mặc dù chính nước ta có thể sản xuất được nhưng vẫn nhập khẩu sản
phẩm của ngành dệt từ các nước trên thế giới. Do đó, lợi nhuận thu được của các doanh
nghiệp trong ngành này là không cao.
23


3.2. Khuyến nghị
3.2.1. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Đối với cán bộ quản lý: cần đào tạo cho họ một hệ thống kiến thức đầy đủ, bài bản
về chuyên môn cũng như kỹ năng quản lý, kinh doanh. Đào tạo cán bộ quản lý sẽ kết hợp
dài hạn và ngắn hạn, kết hợp đào tạo trong nước với đào tạo tại nước ngoài, kết hợp đào
tạo chính quy, tại chức,… với các lớp không chính quy như các lớp cập nhật lại, đào tạo
lại, chuyên đề. Thường xuyên mở các lớp cập nhật kiến thức.
Đối với công nhân lao động cần đào tạo cho người công nhân có tay nghề vững
vàng, nắm vững khoa học – công nghệ tiên tiến để áp dụng vào thực tế. Ưu tiên phương
pháp Đào tạo tại nơi làm việc, kết hợp với các phương tiện hỗ trợ để tạo nên sự liên kết
bền vững giữa công nhân với doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp cần xác định cho mình một chiến lược đầu tư vào vốn nhân lực
sao cho tối ưu nhất, tức là đạt được chất lượng vốn nhân lực tốt nhất trong điều kiện hạn
chế về nguồn lực tài chính. Từng doanh nghiệp dệt chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo
theo các bước: (1) Dự báo nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp; (2) Xác
định kế hoạch đào tạo; (3) Tổ chức thực hiện; (4) Xác định nguồn kinh phí cho đào tạo;
(5) Đánh giá hiệu quả hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Ngoài ra doanh

trong tay những gì, các doanh nghiệp sẽ xác định được các mục tiêu ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn phù hợp, rõ ràng, có tính khả thi để thực hiện.
Thứ ba, lựa chọn chiến lược thương hiệu. Trên cơ sở các dữ liệu, nhà quản trị cần
định hướng phát triển thương hiệu theo hướng nào? Xây dựng và phát triển thương hiệu
mới hay sử dụng thương hiệu cũ? Kết hợp sử dụng thương hiệu cũ (hay một phần của
thương hiệu cũ) với thương hiệu mới hoặc các yếu tố nhận diện khác biệt để tạo thương
hiệu mới?
Thứ tư, thực hiện và điều chỉnh chiến lược thương hiệu. Các doanh nghiệp cần có kế
hoạch thực hiện, phân bổ nguồn lực, sắp xếp thời gian, nhân sự cũng như tiền vốn hợp lý
để đạt được mục tiêu chiến lược đề ra. Trong quá trình thực hiện, vẫn phải đồng thời
nghiên cứu và cập nhật thông tin thị trường, để phòng khi có biến động sẽ có phương án
điều chỉnh phù hợp.
3.3.4. Thúc đẩy bảo vệ môi trường trong ngành dệt
Ngành dệt Việt Nam hiện đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường do nước
thải nhuộm có dư lượng hóa chất lớn. Theo nghiên cứu, trong nước thải dệt nhuộm có cả
những chất dễ phân giải vi sinh như bột sắn dùng hồ sợi dọc và những chất khó phân giải
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status