BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ KHÁNH UYÊN
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ KHÁNH UYÊN
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Hướng đào tạo: Hướng ứng dụng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2020
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................5
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu .....................................................................5
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................5
1.5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................5
1.6. Ý nghĩa của đề tài ..................................................................................5
1.7. Kết cấu đề tài nghiên cứu .........................................................................6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
ĐÂY VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÔNG TY ......................................................................................................7
2.1. Các khái niệm...........................................................................................7
2.1.1. Hiệu quả hoạt động của công ty .....................................................7
2.2. Lý thuyết đại diện ..................................................................................10
2.3. Tổng quan các nghiên cứu liên quan .....................................................11
2.3.1. Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động công ty ...........................11
2.3.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam .......................................................16
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................20
3.1. Quy trình nghiên cứu .............................................................................20
3.1.1. Thống kê mô tả .............................................................................20
3.1.2. Phân tích tương quan ....................................................................20
3.1.3. Lựa chọn phương pháp xử lý dữ liệu ...........................................21
3.2. Xây dựng mô hình nghiên cứu ...............................................................22
3.3. Dữ liệu nghiên cứu .................................................................................28
3.3.1. Xác định mẫu nghiên cứu .............................................................28
3.3.2. Nguồn dữ liệu nghiên cứu ............................................................29
3.4. Quy trình thực hiện nghiên cứu thực nghiệm ........................................29
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .............................................32
4.1. Kiểm định tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của
công ty niêm yết .....................................................................................32
Bảng 4-9: Kết quả hồi quy tổng hợp .....................................................................43
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu là phân tích ảnh hưởng của cấu
trúc sở hữu lên hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết ở sàn chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Tác giả sử dụng dữ liệu của các công ty niêm
yết trên sàn HOSE trong giai đoạn từ 2009-2018. Bên cạnh đó tác giả sử dụng các
phương pháp hồi quy dữ liệu bảng để lựa chọn được phương pháp tối ưu nhất để
đánh giá mối quan hệ này. Kết quả cho thấy tỷ lệ sở hữu của tổ chức, tỷ lệ sở hữu
của cổ đông lớn và tỷ lệ sở hữu nhà nước có tương quan dương với hiệu quả hoạt
động của công ty, bên cạnh đó thì tỷ lệ sở hữu cá nhân và tỷ lệ sở hữu khác có
tương quan âm với hiệu quả hoạt động của công ty.
Từ Khóa: Cấu trúc sở hữu, hiệu quả hoạt động, các công ty niêm yết, đòn bẩy tài
chính …
ABSTRACT
The study was conducted with the objective of analyzing the impact of
ownership structure on the performance of listed companies on the Ho Chi Minh
Stock Exchange (HOSE). The author uses the data of companies listed on the
HOSE in the period from 2009-2018. Besides, the author uses the regression
methods of table data to select the most optimal method to evaluate this
relationship. The results show that the ownership ratio of the organization, the
ownership ratio of large shareholders and the state ownership ratio are positively
correlated with the performance of the company, in addition to that of individual
ownership. and other ownership ratios are negatively correlated with the
performance of the company.
Keywords: Ownership structure, operational efficiency, the companies listed,
Leverage
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia trực tiếp vào
2
việc quản trị công ty không những giúp công ty tăng vốn mà còn giúp cải thiện
năng lực quản trị và cạnh tranh (Chhibber et al., 1999; Douma et al., 2006;
Aydin et al 2007; Li et al., 2011; Ghahroudi, 2011; Wang & Wang, 2015). Tuy
nhiên, một số nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy không phải nhà đầu tư nước
ngoài nào cũng đem lại những ảnh hưởng tích cực cho công ty mà họ đầu tư, bởi vì
lí do thâu tóm (Afang et al., 2016) hoặc theo đuổi mục tiêu riêng (Phung &
Mishra, 2016).
Ngoài ra, trong tổng thể cơ chế quản trị công ty, các yếu tố thuộc cấu trúc và
hoạt động của hội đồng quản trị cũng được nhiều nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm.
Các nghiên cứu gần đây về vấn đề cơ chế quản trị xem xét ảnh hưởng của hội đồng
quản trị đến hiệu quả hoạt động của công ty, đặc biệt là các công ty niêm yết do
quy định về công bố thông tin và minh bạch trên thị trường chứng khoán.
Tóm lại, vấn đề nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động nhận
được nhiều sự quan tâm, đặc biệt là tại các quốc gia mới nổi và đang phát triển.
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm vẫn rất khác nhau. Luận văn này
nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc về cấu trúc sở hữu và hiệu quả
hoạt động của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh trong giai đoạn 10 năm từ năm 2009 đến năm 2018. Nghiên cứu được
thực hiện nhằm mục tiêu tìm hiểu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả
hoạt động của các công ty niêm yết. Các nghiên cứu về chủ đề này ở Việt Nam đã
được nhiều tác giả thực hiện trong những năm gần đây, nhưng nghiên cứu cho các
công ty trên Sở giao dịch giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa
nhiều, trong khi đây là một trong những sàn chứng khoán hoạt động sôi nổi nhất
hiện nay. Do vậy, đóng góp của nghiên cứu làm phong phú thêm kho tàng học
thuật về chủ đề này tại Việt Nam.
đầu tư nước ngoài có đem lại những lợi thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho
công ty hay không? Hơn nữa với sự gia tăng mạnh mẽ của các nhà đầu tư tổ chức
có giúp cải thiện được hiệu quả của công ty?
Xuất phát từ tầm quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề nghiên cứu,
Tác giả đã lựa chọn đề tài “TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU TỚI HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM TRÊN SỞ GIAO DỊCH
4
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”. Qua đó nhằm ứng dụng kết
quả nghiên cứu và đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty
niêm yết, giúp các công ty kịp thời có những chính sách phù hợp với hoạt động
kinh doanh của mình tránh được nguy cơ phá sản, đồng thời tạo điều kiện để công
ty hoạt động ổn định và phát triển bền vững.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quan của đề tài là xem xét tác động của các yếu tố
thuộc về cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết.
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu tổng quan trên, Tác giả xác định các mục
tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
Xem xét tác động của các yếu tố thuộc về cấu trúc sở hữu đến hiệu quả
hoạt động của các công ty niêm yết.
Đưa ra các hàm ý ứng dụng kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động các công ty niêm yết.
Các hàm ý ứng dụng kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
5
của các công ty niêm yết là gì?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ tác động của các yếu tố
thuộc về cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Cấu trúc sở hữu là lĩnh vực rất rộng, trong luận văn chỉ giới hạn tìm hiểu về
sở hữu tổ chức, sở hữu công ty, sở hữu cổ đông lớn, sở hữu gia đình và sở hữu
khác.
Luận văn này được thực hiện với mẫu dữ liệu bao gồm 275 công ty niêm yết
niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, trong giai đoạn
từ năm 2009 đến năm 2018
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với mẫu dữ liệu nghiên
cứu bao gồm 275 công ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh) trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2018. Dữ liệu được sử dụng trong
bài nghiên cứu là dữ liệu dạng bảng được thu thập thông qua các báo cáo tài chính
hợp nhất hàng năm đã được kiểm toán, các báo cáo quản trị và báo cáo thường
niên của công ty. Các công ty được lựa chọn trong mẫu nghiên cứu phải đảm bảo
cung cấp đầy đủ và minh bạch các số liệu mà bài nghiên cứu sử dụng. Do một số
công ty mới niêm yết hoặc hủy niêm yết trong giai đoạn 2009-2018, nên dữ liệu
nghiên cứu được tổ chức thành dạng dữ liệu bảng không cân đối bao gồm 2750
quan sát. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích định lượng thông qua mô hình
hồi quy dữ liệu bảng không cân đối với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 14 và
Microsoft Excel 2016.
7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
2.1. Các khái niệm
2.1.1. Hiệu quả hoạt động của công ty
2.1.1.1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động của công ty
Hiện nay, có nhiều hướng tiếp cận khác nhau để đưa ra khái niệm về hiệu
quả hoạt động của công ty.
Thứ nhất, có quan điểm cho rằng hiệu quả hoạt động là phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của công ty, thể
hiện mối quan hệ giữa kết quả đạt được và các chi phí ban đầu bỏ ra để có thể đạt
được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng
cao. Trên góc độ này, hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của công ty và khả năng
đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Để đo
lường hiệu quả theo hướng tiếp cận này, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các
mô hình phi tham số như DEA (Data Envelopment Analysis - mô hình phân tích
bao số liệu) hay SFA (Stochastic Frontier Analysis - phương pháp phân tích biên).
Thứ hai, cũng có quan điểm cho rằng hiệu quả hoạt động chính là phần
chênh lệch tuyệt đối giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó.
Do đó, theo hướng tiếp cận này, một số nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu như lợi
nhuận trước thuế và lãi (EBIT), lợi nhuận sau thuế (EAT) để đo lường hiệu quả
hoạt động. Tuy nhiên, hướng tiếp cận này bộc lộ mặt hạn chế vì chưa thể hiện được
mối tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí trong sự vận động biến
đổi liên tục.
Thứ ba, một hướng tiếp cận được đề xuất nhằm khắc phục hạn chế nêu trên
để xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh là đại lượng được đo bằng thương số
giữa phần tăng thêm của kết quả thu được với phần tăng thêm của chi phí, đo
lường thông qua các chỉ tiêu tương đối như chỉ số tăng trưởng doanh thu trên tăng
trưởng chi phí. Tuy vậy, hướng tiếp cận này cũng có nhược điểm là không xét đến
động kết hợp hai cách đo lường kế toán và giá trị thị trường sử dụng: Giá trị gia
tăng kinh tế (EVA), Giá trị gia tăng tiền mặt (CVA), Dòng tiền chiết khấu (DCF),
Giá trị hiện tại (PV)…
9
Ebrati (2013) đã tiến hành nghiên cứu mối tương quan giữa cấu trúc vốn và
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bằng cách sử dụng phân tích hồi quy đa biến
dựa trên mẫu nghiên cứu bao gồm 85 doanh nghiệp niêm yết của Iran trong giai
đoạn nghiên cứu 2006-2011. Trong nghiên cứu của tác giả, bài nghiên cứu đã sử
dụng bốn cách đo lường cho hiệu quả hoạt động và đóng vai trò là biến phụ thuộc,
bao gồm giá trị thị trường so với giá trị sổ sách của vốn cổ phần (MBVR), lợi nhuận
trên vốn chủ sở hữu (ROE), TobinQ và lợi nhuận trên tài sản (ROA); và bốn đại
diện cho đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp và đóng vai trò như là các biến độc
lập bao gồm Nợ dài hạn trên tổng tài sản, Nợ ngắn hạn trên tổng tài sản, tổng nợ
chia cho tổng tài sản và tổng nợ chia cho tổng vốn chủ sở hữu. Qua đó kết quả của
tác giả cho thấy ROE, MBVR và Tobin’s Q có mối tương quan dương với cấu trúc
vốn, trong khi sử dụng ROA như là đại diện hiệu quả hoạt động thì kết quả cho thấy
hiệu quả hoạt động và cấu trúc vốn có tương quan âm. Điều này có nghĩa là, các
doanh nghiệp càng có tỷ lệ đòn bẩy tài chính càng cao thì sẽ càng làm giảm hiệu
quả hoạt động của các doanh nghiệp.
Cùng quan điểm như trên, Kallamu (2016) cũng nhận xét rằng các nghiên
cứu trước đây sử dụng các thang đo về hiệu quả khác nhau. Điều đó cho thấy rằng
chưa thống nhất một phương pháp đo lường tốt nhất về hiệu quả của công ty.
Trong nghiên cứu của mình, Tác giả đã sử dụng thang đo theo kế toán dùng ROA,
ROE và thang đo hiệu quả thị trường Tobin’s Q để đo lường hiệu quả của công ty.
Theo Tác giả chỉ số Tobin’s Q cho thấy sức khoẻ tài chính của một công ty và nó
được dùng để đo lường hiệu quả theo giá trị thị trường của công ty. Sử dụng
Tobin’s Q có thể nâng cao được độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Trong khi đó,
hưởng đến cấu trúc vốn. Các tác giả tìm thấy rằng cấu trúc vốn tối ưu là kết quả của
việc đánh đổi giữa lợi ích (kỷ luật các nhà quản trị) và chi phí (mức chấp nhận rủi
ro của các cổ đông) đối với việc tài trợ vay nợ. Theo mô hình của Jensen và
Meckling (1976), và các mô hình khác chẳng hạn như Harris và Raviv (1990) và
Stulz (1990), tồn tại chi phí đại diện khi xem xét cấu trúc vốn của các doanh nghiệp.
Trong mô hình của các tác giả, mâu thuẫn giữa các nhà quản trị và các cổ đông xảy
ra do sự bất đồng đối với các quyết định trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Harris và Raviv (1990) đã cho rằng thậm chí các cổ đông hoặc các chủ nợ ưa thích
11
việc thanh lý doanh nghiệp thì các nhà quản trị vẫn luôn luôn lựa chọn việc tiếp tục
hoạt động kinh doanh. Mô hình này cung cấp quyền lực cho các cổ đông có thể bắt
buộc doanh nghiệp phải thanh lý nếu dòng tiền liên tục thiếu hụt. Mặt khác, Stulz
(1990) giả định rằng các nhà quản trị ưa thích việc đầu tư tất cả các nguồn vốn có
sẵn của doanh nghiệp ngay cả khi việc chi trả cổ tức cho các cổ đông là điều tốt
hơn. Do đó, theo các mô hình này, cấu trúc vốn của doanh nghiệp có thể được xác
định bởi mâu thuẫn lợi ích giữa các đối tượng bên trong và các đối tượng bên ngoài.
Theo đó, tài sản của doanh nghiệp và cơ hội tăng trưởng là các yếu tố then chốt đối
với tầm quan trọng của chi phí đại diện.
Cụ thể, theo lý thuyết đại diện, tài sản hữu hình có thể đóng vai trò quan
trọng khi giải thích cấu trúc vốn của các doanh nghiệp. Cụ thể lý thuyết đại diện cho
rằng một lượng tài sản đảm bảo càng cao thì sẽ có thể làm giảm rủi ro của người
cho vay được xem như là những người phải gánh chịu chi phí đại diện của nợ. Một
lượng tài sản hữu hình càng lớn hoặc tài sản đảm bảo càng lớn có thể giảm vấn đề
dịch chuyển rủi ro (risks shifting) do đó các doanh nghiệp có thể gia tăng năng lực
vay mượn của mình. Hơn thế nữa, tài sản hữu hình cũng có thể giảm thiểu vấn đề
rủi ro đạo đức do mâu thuẫn giữa người cho vay và các cổ đông (Jensen và
Meckling, 1976). Cho nên, lý thuyết đại diện kỳ vọng mối tương quan dương giữa
và chi phí giám sát Pedersen and Thomsen (1999). Trong nghiên cứu của mình,
Kiruri and Olkalou (2013) đã sử dụng tỷ lệ sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất trong các
ngân hàng tại Keyna để đại diện cho khái niệm mức độ tập trung sở hữu. Còn Wen
(2010) đã sử dụng mức độ tập trung sở hữu trong các ngân hàng thương mại nhà
nước và ngân hàng thương mại tư nhân của Trung Quốc là tỷ lệ sở hữu của các cổ
đông lớn nhất. Antoniadis et al. (2010) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ
giữa cổ đông nắm giữ cổ phần lớn nhất và kết quả hoạt động của các ngân hàng ở
Hi Lạp (Greek). Ngoài ra, trong các nghiên cứu của Kiruri and Olkalou (2013);
Kim et al. (2012) cũng đã đề cập tới sở hữu hỗn hợp (sở hữu phân tán) gồm các tỷ
lệ nắm giữ cổ phần liên quan đến các đặc tính của chủ sở hữu như: sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài, sở hữu của nhà đầu tư cá nhân, sở hữu của nhà nước. Việc khảo
sát đầy đủ các đặc tính quyền sở hữu hỗn hợp sẽ giúp quá trình phân tích tác động
13
của cấu trúc sở hữu lên hiệu quả hoạt động được chính xác.
Từ khía cạnh quyền sở hữu hỗn hợp, cấu trúc sở hữu công ty bao gồm các
thành phần sở hữu khác nhau liên quan đến các đặc tính của cổ đông như: sở hữu
của các cổ đông lớn, sở hữu nhà nước, sở hữu công ty, sở hữu cá nhân và sở hữu
khác. Đề tài nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thành phần sở hữu trên và hiệu
quả hoạt động công ty đã được nhiều tác giả thực hiện và đưa đến các kết quả khác
nhau.
2.3.1.2. Sở hữu tổ chức và hiệu quả hoạt động công ty
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng việc sở hữu bởi các tổ chức sẽ làm
công ty được giám sát tốt hơn, làm giảm chi phí đại diện và tăng hiệu quả hoạt
động công ty. Hand (1990) cho rằng, các nhà đầu tư tổ chức tinh vi hơn so với các
cổ đông khác, bởi vì họ chuyên nghiệp hơn về thị trường vốn và họ được cập nhật
thông tin tốt hơn. Đồng thời, nhà đầu tư tổ chức có khả năng quản lý, giám sát hiệu
quả hơn và ít tốn kém hơn. Các nhà đầu tư tổ chức cũng có tiềm lực về tài chính
trong việc tạo ra hiệu quả kinh doanh. La Porta cùng cộng sự (2002), Jemric và
Vujcic (2002), Hasan và Marton (2003), Weill (2003), Barth cùng cộng sự
(2004), Micco cùng cộng sự (2007), Lin và Zhang (2009), Cornett cùng cộng sự
(2010) và một số nghiên cứu thực nghiệm khác tìm thấy mối tương quan âm giữa sở
hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty.
2.3.1.4. Sở hữu cá nhân và hiệu quả hoạt động công ty
Chủ sở hữu là cá nhân thường chỉ đơn thuần theo đuổi mục tiêu lợi nhuận.
Các công ty có sở hữu thể nhân sẽ quan tâm, lựa chọn đầu tư vào các lĩnh vực mang
lại lợi nhuận cao hơn và rủi ro thấp hơn các công ty có sở hữu nhà nước. Bên cạnh
đó, cổ đông cá nhân sẽ trực tiếp quản lý, sử dụng dụng đồng vốn của mình, trực tiếp
chịu tổn thất rủi ro phát sinh nên họ sẽ thận trọng hơn trong các quyết định đầu tư
cũng như thực hiện giám sát chặt chẽ hơn, sở hữu cá nhân có mối tương quan
dương đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Ngược lại,
khi một nhóm cổ đông nắm giữ quyền điều hành hoạt động kinh doanh (nhóm cổ
đông nội bộ) có được nhiều thông tin hơn nhóm cổ đông không trực tiếp điều hành
(cổ đông bên ngoài) thì sở hữu cá nhân tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh
xảy ra. Nhóm cổ đông nội bộ thực hiện những hành vi lợi ích nhóm, không minh
15
bạch thông tin. Như vậy, trong trường hợp này, sở hữu cá nhân sẽ làm gia tăng bất
cân đối thông tin, làm tăng chi phí đại diện và cuối cùng là làm giảm hiệu quả họat
động kinh doanh.
2.3.1.5. Sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động công ty
Chhibber et al. (1999) nghiên cứu ở các công ty niêm yết Ấn Độ, Douma
et al. (2006) nghiên cứu với mẫu dữ liệu là các quốc gia mới nổi đều tìm thấy tác
động tích cực của sở hữu nước ngoài lên hiệu quả hoạt động của công ty. Tương
tự, Aydin et al. (2007) tiến hành kiểm tra việc các cổ đông là tổ chức nước ngoài
ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của công ty với mẫu nghiên cứu
mục tiêu của mình sẽ thực hiện thâu tóm công ty. Vì thế sở hữu nước ngoài không
nên vượt quá sở hữu trong nước sẽ tạo cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài chiếm
đoạt công ty. Khi sở hữu nước ngoài còn thấp sẽ có tác động tích cực trong việc
nâng cao hiệu quả công ty. Cổ đông nước ngoài có động lực để giám sát nhà quản
lý và kiểm soát các cổ đông từ đó giảm chi phí đại diện và khuyến khích nhà quản
lý chấp nhận rủi ro. Đồng thời các lợi ích từ cổ đông nước ngoài đem lại như nâng
cao kỹ năng quản lý hay tiếp nhận các kỹ thuật mới. Nhưng khi sở hữu nước ngoài
tập trung cao, họ có thể sử dụng quyền lực của họ để gây áp lực cho nhà quản lý
hành động vì lợi ích của họ và gây thiệt hại cho các cổ đông nhỏ (Phung &
Mishra, 2016). Như vậy, các kết luận về mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài và
hiệu quả hoạt động của công ty cho đến nay vẫn chưa thống nhất.
2.3.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, cũng có khá nhiều các nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu
trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động. Tuy vậy, nghiên cứu riêng về tác động của sở
hữu công ty thì chưa có nhiều. Trong số các nghiên cứu đó, có thể kể đến những
nghiên cứu của Trí và Hùng (2011) khi xem xét ảnh hưởng của tỷ lệ sở hữu quản
trị đến hiệu quả hoạt động các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này tìm thấy tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ
chức không tác động đến hiệu quả hoạt động, tỷ lệ sở hữu nhà nước không có tác
động trong mô hình biến hiệu quả hoạt động là Tobin’s Q, còn trong mô hình hiệu
quả hoạt động là ROE thì tỷ lệ sở hữu nhà nước là nghịch biến. Nghiên cứu của
Thái (2013) khi xét đến cấu trúc sở hữu và hiệu quả công ty với 646 mẫu quan sát
17
trong hai năm 2011-2012 cho thấy tác động tích cực đến từ sở hữu nước ngoài và
tác động tiêu cực của sở hữu nhà nước. Nghiên cứu của Vinh (2014) khi xem xét
cấu trúc sở hữu đến hiệu quả, giá trị của công ty với tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ
chức (cổ đông nắm giữ trên 5% cổ phần tại thời điểm cuối năm) là biến đại diện