TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
HUỲNH THỊ MỘNG CẦM ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CAPM ĐỊNH GIÁ CỔ
PHIẾU CỦA LĨNH VỰC TÀI CHÍNH – NGÂN
HÀNG ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO
DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Tài chính – Ngân hàng
Mã số ngành: 52340201
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
HỨA THANH XUÂN
Tháng 5 - 2013
i
LỜI CẢM TẠ
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm
Khoa Kinh Tế - Quản Trị Kinh Doanh – Trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến cô Hứa Thanh Xuân đã tận tình
giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện Huỳnh Thị Mộng Cầm
ii
TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả
nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ
luận văn cùng cấp nào khác.
Cần Thơ, ngày 21 tháng 05 năm 2014 Huỳnh Thị Mộng Cầm
2.3.1 Giả định của mô hình CAPM 8
2.3.2 Nội dung của mô hình CAPM 8
2.3.3 Ưu nhược điểm của mô hình CAPM 9
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 9
2.4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 10
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 13
3.1 CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM (AGRISECO), mã cổ phiếu
giao dịch là AGR 13
3.2 CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN VIỆT NAM (BSC), mã cổ phiếu giao dịch là BSI 15
3.3 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
(VIETINBANK), mã cổ phiếu giao dịch là CTG 17
3.4 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
(EXIMBANK), mã cổ phiếu giao dịch là EIB 20
3.5 CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(HSC), mã cổ phiếu giao dịch là HCM 22
3.6 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI (MB), mã cổ phiếu
giao dịch là MBB 24
3.7 CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MA SAN (MASAN GROUP), mã cổ
phiếu giao dịch là MSN 26
iv
3.8 CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN ĐẠI DƯƠNG (OGC), mã cổ phiếu giao
dịch là OGC 28
3.9 CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SÀI GÒN (SSI), mã cổ phiếu giao
dịch là SSI 29
3.10 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
(VIETCOMBANK), mã cổ phiếu giao dịch là VCB 31
5.2 KIẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 49
v
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1: Hệ số beta và lợi nhuận trung bình của các cổ phiếu nghiên cứu năm
2011 42
Bảng 4.2: Hệ số beta và lợi nhuận trung bình của các cổ phiếu nghiên cứu năm
2012 43
Bảng 4.3: Hệ số beta và lợi nhuận trung bình của các cổ phiếu nghiên cứu năm
2013 45
Bảng 4.4: Định giá các cổ phiếu thuộc lĩnh vực tài chính – ngân hàng được
niêm yết trên HOSE năm 2011 45
Bảng 4.5: Định giá các cổ phiếu thuộc lĩnh vực tài chính – ngân hàng được
niêm yết trên HOSE năm 2012 46
Bảng 4.6: Định giá các cổ phiếu thuộc lĩnh vực tài chính – ngân hàng được
niêm yết trên HOSE năm 2013 46
vi
DANH SÁCH HÌNH
Hình 3.1: Đồ thị giá cổ phiếu AGR qua các quý 14
Hình 3.2: Đồ thị giá cổ phiếu BSI qua các quý 16
Hình 3.3: Đồ thị giá cổ phiếu CTG qua các quý 18
Hình 3.4: Đồ thị giá cổ phiếu EIB qua các quý 22
Hình 3.5: Đồ thị giá cổ phiếu HCM qua các quý 23
Hình 3.6: Đồ thị giá cổ phiếu MBB qua các quý 25
Hình 3.7: Đồ thị giá cổ phiếu MSN qua các quý 27
Hình 3.8: Đồ thị giá cổ phiếu OGC qua các quý 29
biến động mạnh về giá của các cơn sóng đầu cơ và những đợt giảm điểm
mạnh. Nhà đầu tư Việt Nam cũng đã không còn xa lạ với thị trường chứng
khoán và đây đã trở thành một trong những nơi đầu tư phổ biến của người dân
Việt Nam, đặc biệt vào năm 2007 – 2008 các nhà đầu tư chứng khoán đã thắng
đậm trên thị trường này, nhưng những năm gần đây do yếu tố tâm lý bầy đàn
và chưa có đủ kinh nghiệm cũng như kiến thức về thị trường chứng khoán để
vượt qua các cuộc biến động nên đã có các bài học kinh nghiệm thực tiễn quý
giá khi thị trường xuống dốc.
Vậy, một nhà đầu tư thông minh nên chọn cho mình loại cổ phiếu nào
để đầu tư? Khi mới bắt đầu, nhà đầu tư sẽ chọn cho mình một loại cổ phiếu tốt
để bắt đầu nhằm tránh các trường hợp xấu có thể xảy ra. Mà thị trường chứng
khoán là tổng hòa của 70% yếu tố về tâm lý và 30% là về tài chính. Tâm lý
chung của hầu hết người dân Việt Nam đều tín nhiệm các tổ chức thuộc lĩnh
vực tài chính – ngân hàng hơn so với các lĩnh vực khác. Đồng thời, các doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính – ngân hàng quốc doanh và ngoài quốc doanh
hầu hết đã được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán với các thông tin đều
được công bố một cách minh bạch và đáp ứng được các chuẩn mực niêm yết
ngày càng được nâng cao.
Ngoài ra, trong những năm gần đây, tỷ lệ lạm phát đã chậm lại (năm
2011 là 18,13%, năm 2012 là 6,81% và năm 2013 là 6,04%), lãi suất tiết kiệm
giảm và đang ở mức thấp (năm 2011 lãi suất gửi không kỳ hạn trên 3% đến
năm 2013 chỉ còn khoảng 1,2%), lãi suất cho vay giảm, chính sách tiền tệ, tài
khóa có dấu hiệu được nới lỏng, thị trường vàng đã qua giai đoạn tăng giá liên
tục, thị trường ngoại tệ ổn định. Trong khi đó, thị trường chứng khoán hiện
nay đã có dấu hiệu khởi sắc trở lại và là kênh đầu tư mang lại lợi nhuận cao
nhất.
Để có các chiến thuật cụ thể về đầu tư trên thị trường chứng khoán, đề
tài “Ứng dụng mô hình CAPM định giá cổ phiếu của lĩnh vực tài chính –
ngân hàng được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh” sẽ giúp nhà đầu tư chọn lựa cổ phiếu tốt và thời điểm mua bán cổ
thành phố Hồ Chí Minh, Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn, Công ty cổ
phần tập đoàn Ma San và Công ty cổ phần tập đoàn Đại Dương.
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1. PGS.TS. Trương Đông Lộc và Ths. Trần Thị Hạnh Phúc, 2011.
“Kiểm định mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của các cổ phiếu niêm yết
3
trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh”, được đăng trên tạp
chí Phát triển kinh tế (Số 251, tháng 9 năm 2011). Mục tiêu nghiên cứu của đề
tài là kiểm định mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của các cổ phiếu niêm
yết tại Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh – HOSE. Số liệu
dùng trong nghiên cứu bao gồm chuỗi chỉ số VN Index và giá của 80 cổ phiếu
niêm yết trên HOSE với số liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ ngày
02/01/2007 đến 31/12/2009. Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy, kết quả
cho thấy danh mục có rủi ro càng cao thì lợi nhuận của nó càng cao. Ngoài ra,
nghiên cứu còn chỉ ra mối quan hệ phi tuyến tính giữa lợi nhuận và rủi ro của
các cổ phiếu niêm yết trên HOSE.
2. Nhóm ngành Khoa học kinh tế - trường Đại học Kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh, 2011. “Ứng dụng mô hình CAPM và FAMA FRENCH dự báo
tỷ suất sinh lợi để kinh doanh chứng khoán trên thị trường Việt Nam” – Công
trình dự thi “Giải thưởng nghiên cứu khoa học sinh viên Nhà kinh tế trẻ năm
2011”. Nghiên cứu dựa trên dữ liệu của các công ty niêm yết trên Sở Gia dịch
Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2007 đến 12/2010 bao gồm:
giá đóng cửa trung bình hàng tháng, chỉ số VN Index, lãi suất phi rủi ro và các
dữ liệu cần thiết khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy cho thấy, mô hình CAPM
phù hợp trong việc giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trên sàn HOSE
với R
2
là 73%, nhưng kết quả kiểm định từ mô hình Fama French lớn hơn, với
R
người chủ sở hữu một phần công ty.
Cổ phiếu gồm 2 loại chính: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
Cổ phiếu thường hay cổ phiếu phổ thông là chứng khoán thu hút sự
quan tâm nhiều nhất của các nhà đầu tư trên TTCK. Là loại cổ phiếu không có
cổ tức cố định, phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và chính sách chia
lời hàng năm của công ty. Mặc khác, thị giá cổ phiếu lại rất nhạy cảm trên thị
trường, không chỉ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty mà còn phụ
thuộc vào môi trường kinh tế, sự thay đổi lãi suất, quan hệ cung cầu.
Cổ phiếu ưu đãi còn gọi là cổ phiếu đặc quyền là loại cổ phiếu được
hưởng những quyền ưu tiên hơn so với cổ phiếu thường. Người sở hữu cổ
phiếu ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi, được hưởng mức cổ tức cố định hàng năm
không phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty và được ưu
tiên chia lãi cố định trước cổ đông thường. Thị giá của cổ phiếu này phụ thuộc
vào sự thay đổi lãi suất trái phiếu kho bạc và tình hình tài chính của công ty.
2.1.2 Phát hành cổ phiếu
Phát hành cổ phiếu là việc bán chứng khoán có thể chuyển nhượng
thông qua tổ chức trung gian cho một số lượng lớn các nhà đầu tư. Việc phát
hành chứng khoán ra công chúng phải được cơ quan quản lý Nhà nước về
chứng khoán cấp phép. Sau khi phát hành trên thị trường, chứng khoán sẽ
được giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán và đáp ứng được các quy định về
niêm yết chứng khoán của Sở giao dịch chứng khoán.
Có hai phương thức phát hành chứng khoán
Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO) là việc phát hành trong đó cổ
phiếu của công ty lần đầu tiên được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư.
5
Chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp) là đợt phát hành cổ phiếu bổ sung
của công ty đại chúng cho rộng rãi công chúng đầu tư.
2.1.3 Lưu hành cổ phiếu
Cổ phiếu sau khi được chào bán có thể được niêm yết trên thị trường
hợp thâu tóm hoặc sát nhập, đồng thời cân nhắc giá cổ phiếu được mua lại và
lợi ích mang lại như thế nào.
6
Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán
trên thị trường vào thời điểm thẩm định giá, giữa một bên là người mua sẵn
sang mua và một bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịch mua bán
khách quan và độc lập, trong điều kiện thương mại bình thường. Giá trị thị
trường của cổ phiếu là giá được mua bán trên thị trường chứng khoán. Giá thị
trường có thể là gia từ kết quả giao dịch hàng ngày trên thị trường chứng
khoán tập trung, thị trường chứng khoán bán tập trung (OTC) và thị trường
chứng khoán phi tập trung.
Giá trị thực của một tài sản là giá trị hiện tại của những luồng tiền trong
tương lai dự tính thu từ tài sản đó, được chiết khấu về thời điểm hiện tại với tỷ
lệ lợi tức yêu cầu thích hợp của nhà đầu tư.
Giá trị thực của cổ phiếu chính là đối tượng của các phương pháp định
giá. Mục tiêu của các phương pháp định giá cổ phiếu là tìm ra giá trị thực của
nó. Khi cổ phiếu bắt đầu phát hành và tham gia giao dịch trên thị trường việc
định giá mua bán cổ phiếu trở nên rất quan trọng và cần thiết, nó là cơ sở để
người mua có thể đưa ra mức giá mua mà sẽ đem lại lợi nhuận trong tương lai
cho họ và người bán có căn cứ quyết định bán.
2.2.2 Vai trò của việc định giá cổ phiếu
2.2.2.1 Đối với doanh nghiệp
Doanh nghiệp cần phải định giá cổ phiếu trước khi phát hành là một
việc rất cần thiết. Nếu doanh nghiệp bán cổ phiếu ra với giá quá cao sẽ không
có nhà đầu tư mua, ngược lại nếu bán với giá thấp thì doanh nghiệp sẽ bị lỗ.
Vậy nếu doanh nghiệp đảm bảo đưa ra được mức giá hợp lý cho bên mua và
bên bán là sự thành công của việc phát hành cổ phiếu, đảm bảo cho các giao
dịch chứng khoán sau này.
Ngoài ra, việc định giá cổ phiếu còn giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về
để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản.
Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường
ROA =
Bình quân tổng tài sản
x 100 %
Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (Return on common equity –
ROE) đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần thường.
Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường
ROE =
Bình quân giá trị vốn cổ phần thường
x 100 %
2.2.3.2 Rủi ro (Risk)
Rủi ro ảnh hưởng đến hầu hết mọi người là rủi ro thị trường. Đó là khả
năng không lấy lại số tiền đầu tư ban đầu bởi vì giá trị cổ phiếu và trái phiếu đi
xuống. Nguyên tắc chung, đầu tư với lợi nhuận kỳ vọng cao nhất sẽ có độ rủi
ro lớn nhất. Thị trường đầu tư có hai loại rủi ro chính là rủi ro có hệ thống và
rủi ro không hệ thống.
Rủi ro có hệ thống (rủi ro thị trường) là rủi ro tác động tới toàn bộ thị
trường hoặc hầu hết các loại chứng khoán. Loại rủi ro này chịu sự tác động
8
của lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đối, lãi suất, sức mua… do các yếu tố nằm
ngoài công ty gây ra, không thể kiểm soát.
Rủi ro không hệ thống là rủi ro chỉ tác động đến một chứng khoán hoặc
một nhóm nhỏ các chứng khoán. Rủi ro này do các yếu tố nội tại của công ty
gây ra (rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính và rủi ro quản lý) và có thể kiểm soát
được.
2.2.3.3 Thông tin
Khi định giá cần thu nhập các thông tin phổ biến của doanh nghiệp có
về loại cổ phiếu đầu tư vào như báo cáo thường niên, báo cáo kiểm toán, báo
– R
f
) 9
Trong đó:
R
i
Suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục tài sản i bất kỳ
R
f
Lợi nhuận phi rủi ro
R
M
Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục thị trường
β
i
Hệ số beta thị trường của danh mục tài sản i
Danh mục đầu tư thị trường là danh mục đại diện cho các cơ hội đầu tư
trên thị trường vốn. Ở Việt Nam, có thể xem tập hợp các cơ hội đầu tư vào các
công ty niêm yết như là đại diện cho tất cả cơ hội đầu tư trên thị trường vốn thì
có thể xem tập hợp các công ty dùng làm cơ sở đế tính chỉ số VN Index là
danh mục đầu tư thị trường.
Hệ số β là hệ số đo lường mức độ biến động lợi nhuận cổ phiếu cá biệt
so với mức độ biến động lợi nhuận danh mục đầu tư thị trường. Hệ số β được
xem như là hệ số đo lường rủi ro chứng khoán. Hệ số β = 1, nghĩa là hệ số đo
lường sự biến động lợi nhuận của danh mục đầu tư thị trường so với chính nó.
Do đó, β = 1 được định nghĩa như là hệ số β của danh mục thị trường.
dùng để tính một số chỉ tiêu như: trung bình, hệ số beta (β), tỷ suất lợi
nhuận…
2.4.2.2. Phương pháp phân tích
Mục tiêu 1: Ứng dụng mô hình CAPM để xác định giá cổ phiếu thuộc
lĩnh vực tài chính – ngân hàng được niêm yết trên HOSE.
a) Ước lượng lãi suất phi rủi ro (R
f
)
Lãi suất phi rủi ro được dùng phân tích là lãi suất tín phiếu kho bạc vì
lãi suất này được coi là không có rủi ro tín dụng và có tính thanh khoản cao.
b) Ước lượng hệ số beta của cổ phiếu (β
i
)
Lợi nhuận kỳ vọng của cổ phiếu là:
E(R
i
) = R
f
+ [E(R
M
) – R
f
] x β
i
Trong đó: E(R
i
) Lợi nhuận của cổ phiếu i
R
f
Tỷ suất lợi nhuận thị trường được tính bằng chỉ số VN Index như sau:
P
Mt
– P
Mt-1
R
M
=
P
Mt-1
x 100%
Trong đó:
R
M
Lợi nhuận thị trường
P
Mt
Chỉ số VN Index tại thời điểm t
P
Mt-1
Chỉ số VN Index tại thời điểm t – 1
d) Ước lượng tỷ suất lợi nhuận của cổ phiếu i trên thị trường (R
i
)
Tỷ suất lợi nhuận của cổ phiếu i trên thị trường được tính như sau:
P
t
– P
t-1
) nhỏ hơn tỷ suất
lợi nhuận của cổ phiếu đó được định giá theo mô hình CAPM (R
ĐG
), nghĩa là
cổ phiếu đó đang được định giá cao, nhà đầu tư nên bán những loại cổ phiếu
này.
13
CHƯƠNG 3
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
3.1 CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM (AGRISECO),
mã cổ phiếu giao dịch là AGR
Công ty cổ phần chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam (Agriseco) được chuyển đổi từ Công ty trách nhiệm hữu
hạn chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,
được thành lập ngày 20/12/2000 theo Quyết định số 269/QĐ/HĐQT của Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank). Agriseco là
một trong những Công ty chứng khoán hoạt động đầu tiên trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, với vốn điều lệ ban đầu là 60 tỷ đồng được chuyển từ
Agribank, nay Agriseco đã trở thành Công ty chứng khoán hàng đầu Việt Nam
có điều lệ là 2.120 tỷ đồng, cùng mạng lưới giao dịch rộng khắp (một trụ sở
chính, 3 chi nhánh và các phòng giao dịch trên cả nước).
Cổ phiếu Agriseco được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ
Chí Minh vào ngày 02/12/2009, chính thức giao dịch ngày 10/12/2009 với mã
chứng khoán là AGR, giá giao dịch ngày đầu tiên đạt 25.600 đ/CP. Số cổ phần
được niêm yết hiện nay là 212 triệu cổ phần, trong đó có 211.199.953 cổ phần
đang lưu hành. Agriseco hoạt động trong lĩnh vực mô giới chứng khoán, tự
doanh chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng
Năm 2013
Hình 3.1: Đồ thị giá cổ phiếu AGR qua các quý của năm 2011, năm 2012 và
năm 2013
Phiên giao dịch đầu tiên năm 2012 giá cổ phiếu AGR là 4.500 đ/CP và
có dấu hiệu tăng mạnh vào cuối quý I, đặc biệt từ ngày 14 đến 27/03 (9 phiên
giao dịch) giá cổ phiếu AGR liên tục tăng từ 6.800 đến 9.800 đ/CP, đến hết
quý I đạt 8.900 đ/CP, lợi nhuận trên mỗi cổ phần là 13,4 lần, giá cổ phiếu
Agriseco tiếp tục tăng giá lên đến 10.400 đ/CP vào ngày 18/04/2014 và bắt
đầu có dấu hiệu giảm xuống. Đến cuối quý II, giá cổ phiếu còn 7.100 đ/CP, lợi
nhuận trên mỗi cổ phần là 12,5 lần, giá cổ phiếu cuối năm giảm chỉ còn 5.500
đ/CP, mặc dù vẫn có các đợt tăng giá ở các phiên giao dịch nhưng vẫn 7.200
đ/CP, giá trị sổ sách cuối năm là 10.700 đ/CP.
Năm 2013, giá cổ phiếu của Agriseco vẫn đang ở mức thấp. Ở phiên
giao dịch đầu năm ngày 02/01/2013 giá cổ phiếu đạt 5.700 đ/CP, từ ngày 16
đến 23/01 giá cổ phiếu giảm liên tục trong các phiên giao dịch (từ 6.400 giảm
còn 5.500 đ/CP), giá cao nhất của cả năm là 6.400 đ/CP vào phiên giao dịch
ngày 16/01/2013, giá cổ phiếu vào cuối quý I, II, III và IV lần lượt 5.200,
5.100, 4.500 và 4.800 đ/CP, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu đạt 31,3 lần vào cuối
quý I, 39,8, 30,6 và 51,1 lần vào cuối quý II, III, và IV. Giá trị sổ sách của mỗi
15
cổ phiếu qua các quý là 10.800 đ/CP, 10.500 đ/CP, 10.600 đ/CP và 10.500
đ/CP.
3.2 CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BSC), mã cổ phiếu giao dịch là BSI
Công ty TNHH chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
(BSC), được cấp phép thành lập ngày 26/11/1999 là tiền thân của Công ty
TNHH chứng khoán BIDV được thành lập ngày 18/11/1999 với vốn điều lệ
ban đầu là 55 tỷ đồng. BSC là công ty chứng khoán đầu tiên trong ngành ngân
Năm 2012, giá cổ phiếu của BSC vẫn đang ở mức thấp, phiên giao dịch
đầu năm có giá là 6.600 đ/CP, giá cao nhất trong năm là 8.800 đ/CP (ngày 9
và 10/05/2012), thấp nhất là 3.400 đ/CP liên tiếp trong 3 ngày (từ ngày 19 đến
21/12/2012). Vào 6 tháng đầu năm, giá cổ phiếu tăng trưởng khá ổn định, cuối
quý I và II giá cổ phiếu đạt 6.400 đ/CP, giá trị sổ sách ở quý I là 7.900 đ/CP và
quý II là 8.200 đ/CP, lợi nhuận sau thuế của BSC ở quý I và II lần lượt là
28.000 triệu đồng và 27.187 triệu đồng. Quý III và IV, giá cổ phiếu vẫn không
có dấu hiệu khởi sắc, mặc dù đầu quý III giá cổ phiếu có dấu hiệu tăng, mức
tăng cao nhất là 6.900 đ/CP (ngày 20/07/2012), mức giá trên 6.000 đ/CP chỉ
duy trì được đến phiên giao dịch ngày 10/08/2012 và bắt đầu giảm liên tục,
cuối quý III giá cổ phiếu chỉ đạt 4.100 đ/CP và 3.900 đ/CP ở cuối quý IV. Giá
trị sổ sách của cổ phiếu cũng giảm xuống còn 8.100 đ/CP vào quý III và 7.800
đ/CP vào quý IV. Ngoài ra, 6 tháng cuối năm, hoạt động kinh doanh của BSC
liên tục bị lỗ (quý III lỗ 7.687 triệu đồng và quý IV lỗ 26.196 triệu đồng) dẫn
đến cuối năm 2012, lợi nhuận sau thuế của BSC chỉ đạt 21.175 triệu đồng.
0
3
6
9
12
Phiên 1 I II 19/07 III IV
Mã CK
Ngàn đồng
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Hình 3.2: Đồ thị giá cổ phiếu BSI qua các quý của năm 2011, năm 2012
và năm 2013
NHNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam và chuẩn y Điều lệ tổ chức và hoạt động Ngân hàng thương
mại cổ phần Công thương Việt Nam (Quyết định số 1573/GP-NHNN).
Cổ phiếu Vietinbank cũng được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 09/07/2009 và chính thức giao dịch
ngày 16/07/2009 với mã chứng khoán là CTG, kết thúc phiên giao dịch đầu
tiên cổ phiếu CTG có giá là 19.100 đ/CP. Lượng cổ phiếu lưu hành là
3.723.404.556 cổ phiếu và vốn điều lệ là 37.234.045.560.000 đồng. Năm
2010, hợp tác đầu tư với công ty tài chính quốc tế IFC và đến năm 2011, IFC
chính thức trở thành cổ đông nước ngoài và chiếm 10% vốn điều lệ của ngân
hàng.
Hiện nay, Vietinbank có hệ thống mạng lưới khắp toàn quốc với một sở
giao dịch, 150 chi nhánh, trên 1.000 phòng giao dịch/quỹ tiết kiệm và 7 công